ĐÁNH GIÁ SỰ PHỤ THUỘC VÀO RỪNG CỦA NGƯỜI DÂN KHU VỰC RỪNG PHÒNG HỘ PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH

ĐÁNH GIÁ SỰ PHỤ THUỘC VÀO RỪNG CỦA NGƯỜI DÂN
KHU VỰC RỪNG PHÒNG HỘ PHÚ NINH
TỈNH QUẢNG NAM

LÊ THỊ UYÊN TRÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2010


Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Đánh Giá Sự Phụ
Thuộc Vào Rừng Của Người Dân Khu Vực Rừng Phòng Hộ Phú Ninh Tỉnh
Quảng Nam ” do Lê Thị Uyên Trâm, sinh viên khóa 2006 – 2010, ngành Kinh Tế Tài
Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày
_____________________________.

TS. PHAN THỊ GIÁC TÂM
Người hướng dẫn

_____________________________
Ngày

tháng

Trường khóa 32 đã gắn bó với tôi trong suốt 4 năm học vừa qua.
Cảm ơn các anh chị, cô chú trong Ban quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh, Ủy ban
nhân dân xã Tam Sơn đã cung cấp tài liệu và giúp đỡ tận tình cho tôi hoàn thành luận
văn này.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các hộ gia đình trên địa bàn thôn Thuận Yên Đông
và thôn Phú Hòa xã Tam Sơn đã cung cấp cho tôi các số liệu cá nhân quý giá.
Đặc biệt, tôi không quên công ơn ba mẹ đã sinh thành, dưỡng dục, không ngại
vất vả, hy sinh trong suốt thời gian qua để con được bước tiếp con đường mà mình đã
chọn. Xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình đã luôn động viên và ủng hộ
tôi.
Xin chân thành cảm ơn!
TP. Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 07 năm 2010
Sinh viên
Lê Thị Uyên Trâm


NỘI DUNG TÓM TẮT
LÊ THỊ UYÊN TRÂM. Tháng 06 năm 2010. “Đánh Giá Sự Phụ Thuộc Vào
Rừng Của Người Dân Khu Vực Rừng Phòng Hộ Phú Ninh Tỉnh Quảng Nam”.
LE THI UYEN TRAM. June 2010. “Forest Dependency Of People In The
Area Of The Phu Ninh Flood Prevention Forest, Quảng Nam Province”.
Cộng đồng dân cư sống ở khu vực gần rừng có truyền thống dựa vào rừng.
Những lâm sản và sản phẩm từ trồng trọt trên đất rừng đóng góp quan trọng và đáng
kể cho tiêu dùng và thu nhập của các hộ vùng cao, đặc biệt là hộ nghèo. Đề tài tiến
hành đánh giá sự phụ thuộc vào rừng của người dân khu vực rừng phòng hộ Phú Ninh,
xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự phụ thuộc, qua đó tìm hiểu các loài cây bản
địa, những loại lâm sản mà cư dân địa phương thường khai thác sử dụng.
Đây là kết quả được dựa vào số liệu đã thu thập từ 73 hộ dân thuộc hai thôn
Thuận Yên Đông và thôn Phú Hòa của xã Tam Sơn. Bằng cách tính toán tỉ số giữa thu
nhập từ rừng, từ trồng trọt trên đất rừng so với tổng thu nhập của hộ để phản ánh sự

x

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1

1.1. Đặt vấn đề

1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

2

1.2.1. Mục tiêu chung

2

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

2

1.3. Phạm vi nghiên cứu

2

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

2


6

CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Cơ sở lý luận

12
12

3.1.1. Tài nguyên rừng

12

3.1.2. Rừng phòng hộ

13

3.1.3. Sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng của cộng đồng nông thôn

14

3.1.4. Sản phẩm trồng trọt trên đất rừng, lâm sản gỗ, lâm sản ngoài gỗ 15
3.1.5. Phân loại sản phẩm từ rừng
3.2. Phương pháp nghiên cứu

18
18

3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
v



4.3. Các loại lâm sản và sản phẩm từ đất rừng người dân thu được

34

4.4. Sự phụ thuộc vào rừng của người dân

37

4.4.1. Mức độ khó khăn của hộ nếu không sống dựa vào rừng

38

4.4.2. Phản ứng lựa chọn công việc của hộ nếu không được vào rừng

39

4.4.3. Lợi ích hộ nhận được từ rừng

40

4.4.5. Mức độ phụ thuộc vào rừng của hộ

42

4.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phụ thuộc vào rừng của người dân

43

4.5.1. Kết quả hồi quy



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNQSĐ : Chứng nhận quyền sử dụng đất
PHPN

: Phòng hộ Phú Ninh

LSG

: Lâm sản gỗ

LSNG

: Lâm sản ngoài gỗ

LN

:Lâm nghiệp

vii


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Giải Thích Biến, Kỳ Vọng Dấu Cho Hệ Số Của Mô Hình

21

Bảng 4.1. Nhóm Tuổi Của Người Được Phỏng Vấn


Bảng 4.9. Nhận Thức Của Người Dân Về Lợi Ích Của Rừng

33

Bảng 4.10. Nhận Thức Của Dân Về Vai Trò, Chức Năng Của Rừng

34

Bảng 4.11. Nhận Thức Về Tầm Quan Trọng Của Rừng

34

Bảng 4.12. Danh Sách Lâm Sản Được Người Dân Khai Thác Sử Dụng 35
Bảng 4.13. Mức Độ Khó Khăn Của Hộ Nếu Không Được Vào Rừng

38

Bảng 4.14. Phản Ứng Của Hộ Nếu Không Được Phép Vào Rừng

39

Bảng 4.15. Lợi Ích Mà Hộ Nhận Được Từ Rừng

40

Bảng 4.16. Thu Nhập Từ Rừng Trong Năm Của Hộ Được Phỏng Vấn 41
Bảng 4.17. Mức Độ Phụ Thuộc Vào Rừng Của Hộ

42


ix


DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Hình Ảnh Rừng và Hồ Phú Ninh
Phụ lục 2: Một Số Hình Ảnh Về Loài Vọc
Phụ lục 3: Hình Ảnh Một Số Loài Động Vật
Phụ lục 4: Hình Ảnh Cây Keo Lá Tràm
Phụ lục 5: Kết Xuất Eview
Phụ lục 6: Kết Xuất Kiểm Định Mô Hình
Phụ lục 7: Các kiểm định giả thiết cho mô hình
Phụ lục 8: Kiểm Định Các Vi Phạm Giả Thiết
Phụ lục 9: Bảng Giá Trị Thống Kê Mô Tả Các Biến
Phụ lục 10: Bảng Câu Hỏi Phỏng Vấn

x


CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Rừng có vai trò vô cùng to lớn đối với con người, đặc biệt đối với cộng đồng
nông thôn. Trước hết nó cung cấp những sản phẩm đáp ứng nhu cầu vô cùng cấp thiết
cho người dân khu vực để họ có thể sống và tồn tại được, những thứ như thực phẩm,
chất đốt, nguyên vật liệu, dụng cụ, cây thuốc… và ngoài ra nó cũng góp phần không
nhỏ vào việc tạo thu nhập cho các gia đình nghèo ở nông thôn. Bên cạnh đó, rừng còn
cung cấp những giá trị vô hình khác như bảo vệ môi trường sống, cải thiện khí hậu và
duy trì sự ổn định của của môi trường (Bounmy Somsoulivong, 2001)
Rừng được chia thành ba nhóm: rừng sản xuất, rừng đặc dụng và rừng phòng hộ

1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nhận thức của người dân về lợi ích, vai trò, chức năng của rừng.
- Xác định các loại lâm sản, loài cây bản địa cũng như sản lượng của chúng
được người dân thường khai thác sử dụng trong năm.
- Đánh giá mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng của cộng đồng địa phương.
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự phụ thuộc.
1.3. Phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Những hộ dân sống ở khu vực gần rừng thuộc xã có diện tích rừng phòng hộ
Phú Ninh đi qua tương đối lớn.
1.3.2. Phạm vi không gian
Đề tài tiến hành nghiên cứu tại hai thôn Thuận Yên Đông và thôn Phú Hòa
thuộc xã Tam Sơn, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
1.3.3. Phạm vi thời gian
Phạm vi đề tài sử dụng số liệu thu nhập từ các hộ dân của năm 2009.
Đề tài được tiến hành từ 30/3 đến 20/7. Thời gian từ 30/3 đến 15/5 viết đề
cương nghiên cứu. Từ 20/5 đến 20/6 tiến hành phỏng vấn người dân để thu thập thông

2


tin tại địa bàn nghiên cứu. Thời gian còn lại tổng hợp, xử lý, phân tích số liệu và viết
báo cáo.
1.4. Bố cục đề tài
Luận văn gồm 5 chương. Chương I: Tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục
tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và trình bày tóm tắt bố cục luận văn. Chương II :
Giới thiệu tổng quan về các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu cũng như tổng
quan địa bàn nghiên cứu: Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu bao gồm tổng quan về rừng
phòng hộ Phú Ninh, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Tam Sơn. Chương III:
Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu, trình bày các khái niệm, định nghĩa, và

và làm chuồng trại. Bên cạnh đó, rừng còn là nguồn cung cấp những lương thực, thực
phẩm có giá trị. Ngoài những loài động vật mà người dân thường săn bắn như chồn,
khỉ, sóc, bò cạp, gà rừng, ốc núi… Người dân còn vào rừng thu hái các loại rau quả,
măng tre, các loài nấm (như nấm mối, nấm mộc nhỉ) đây là những loại thực phẩm
cũng được người dân ưa chuộng vì chúng rất bổ dưỡng. Các lâm sản phụ từ rừng


không chỉ phục vụ cho nhu cầu vật chất hàng ngày mà còn phục vụ cho nhu cầu giải trí
của người dân nơi đây. Người dân vào rừng lấy các loài hoa, gốc cây, chim thú như
hoa lan, mai rừng, gốc cây cổ thụ, chim sáo, gà lôi… để phục vụ thú vui chơi giải trí
(Phạm Thanh Bình và các cộng sự, 2008).
Một mô hình hồi quy tuyến tính được sử dụng nhằm để xác định các yếu tố ảnh
hưởng đến sự phụ thuộc vào rừng của người dân. Biến phụ thuộc là biến “Phụ thuộc
rừng” và các biến độc lập được đưa vào mô hình gồm biến độ tuổi, quy mô hộ, thu
nhập, lao động gia đình, diện tích đất sở hữu và sự sung túc về lúa thóc. Ở tỉnh Bokeo
– Lào sự phụ thuộc này bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố, đó là quy mô hộ, thu nhập (thu
nhập không phải từ hoạt động liên quan đến rừng), lao động gia đình (Bounmy
Somsoulivong, 2001).
2.2. Tổng quan địa bàn nghiên cứu
2.2.1. Giới thiệu sơ lược về hồ và rừng phòng hộ Phú Ninh
Hồ Phú Ninh cách thành phố Tam Kỳ 7km về phía tây, cách thành phố Đà
Nẵng khoảng 70km, cách sân bay Chu Lai của tỉnh Quảng Nam khoảng 15km. Đập
chính nằm tại xã Tam Đại, huyện Phú Ninh. Công trình đại thủy lợi Phú Ninh được
khởi công vào năm 1977, đến 3/1986 thì hoàn thành. Trong gần 10 năm tiến hành đắp
đập, thanh niên xung phong và nhân dân Quảng Nam- Đà Nẵng đã bỏ ra hàng tỉ ngày
công để dựng hồ chứa nước nhằm biến hơn 23.000ha đất canh tác cằn cỗi của các
huyện Núi Thành, Thăng Bình, thị xã Tam Kỳ… thành những cánh đồng bội thu, đẩy
lùi cái đói. Vào 6/2009, hồ Phú Ninh được công nhận là di tích lịch sử- danh thắng cấp
quốc gia. Ngoài ra còn có nhà máy thủy điện quy mô nhỏ để tận dụng sức nước của
dòng kênh chính (lượng điện phát ra 1,5 – 3 triệu kWh/ năm). Sinh thái khu vực hồ đa

đây đáng kể là nhóm động vật có xương sống trên cạn, tuy số loài không nhiều nhưng
có giá trị cao. Động vật quý hiếm có 14 loại ( ví như Khỉ mặt đỏ, chó sói, gấu ngựa,
sơn dương, tê tê, rồng đất, các loại rắn, chim…) số lượng còn ít. Động vật khác:
hoẵng, lợn rừng, kỳ đà, gà rừng, rắn, …Động vật cảnh: là những loại có hình dạng,
màu sắc đẹp, giọng hót hay…có thể khai thác cho hoạt động du lịch, thăm thú, tham
quan.
2.2.2. Điều kiện tự nhiên của xã Tam Sơn
a. Vị trí địa lý
Tam Sơn là xã miền núi thuộc huyện Núi Thành của tỉnh Quản Nam, nằm cách
trung tâm thị trấn Núi Thành 30km về phía tây. Có tổng diện tích tự nhiên là 5.402ha.
Phía đông bắc giáp xã Tam Thạnh huyện Núi Thành, phía tây bắc và tây nam giáp xã
Tam Lãnh huyện Phú Ninh, phía đông nam giáp xã Tam Trà huyện Núi Thành.
6


b. Địa hình, thủy văn
Xã có địa hình đồi núi phức tạp, độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống thủy
văn. Địa hình có hướng thấp dần từ tây nam sang đông bắc.
Hồ Phú Ninh nằm trong ranh giới của xã với diện tích trên 250 ha. Ngoài ra còn
có một số khe, suối chảy vào hồ Phú Ninh và sông Thuận Yên như suối Con, suối cái,
suối Cây Chanh…
Sông Thuận Yên chảy qua địa bàn xã đổ vào hồ Phú Ninh với tổng chiều dài
khoảng 8km, lòng sông và lưu lượng nước thay đổi theo mùa. Vào mùa mưa mực nước
lòng hồ và sông Thuận Yên dâng cao gây ngập úng một số diện tích đất sản xuất nông
nghiệp dọc hai bên bờ sông và ven lòng hồ.
Nhìn chung với đặc điểm địa hình trên đã gây khó khăn cho việc xây dựng cơ
sở hạ tầng, bố trí dân cư và sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát
triển kinh tế xã- hội.
c. Khí hậu
Theo tài liệu quan trắc của trạm khí tượng thủy văn Quảng Nam, yếu tố khí hậu

tự nhiên. Loại đất này phù hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây lương thực và
cây công nghiệp ngắn ngày, cho năng suất cao.
+ Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Đây là nguồn nước từ các khe, suối, sông Thuận Yên và hồ
Phú Ninh, chủ yếu phục vụ cho nông nghiệp và sinh hoạt cho nhân dân.
Nguồn nước ngầm: Hiện nay chưa có số liệu thăm dò về nguồn nước ngầm
trên địa bàn xã nhưng qua khảo sát thực tế nước ngầm nằm ở những độ sâu khác nhau
tùy theo khu vực, dao động từ 5 dến 10m. Đây là nguồn nước chính phục vụ cho nhân
dân.
+Tài nguyên rừng
Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 3.090ha (Phòng hộ: 2.963ha, sản xuất 127ha).
Trong đó:
Đất có rừng tự nhiên: 1.316,12ha (Phòng hộ: 1.277,12ha, sản xuất 39ha).
Đất có rừng trồng: 901,88ha (Phòng hộ: 821,88ha, sản xuất 80ha).
Đất chưa có rừng: 872ha (Phòng hộ: 864ha, sản xuất 08ha).
Gồm 5 tiểu khu: TK 594, DT 978ha, TK 595- DT 1326ha, TK 596- DT 1234ha, TK
598 – DT 1181ha.

8


2.2.3. Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Tam Sơn
a. Điều kiện kinh tế
+ Thực trạng phát triển kinh tế
Tam Sơn là xã miền núi, hệ thống giao thông đi lại còn gặp rất nhiều khó khăn.
Cơ cấu phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp –TTCN – TMDV, trong đó nông nghiệp là
ngành chủ đạo, TTCN và TMDV chưa phát triển.
Nhìn chung nền kinh tế của xã phát triển còn chậm, chủ yếu tập trung vào phát
triển nông nghiệp nhưng điều kiện tự nhiên không thuận lợi, địa hình phức tạp, đất đai
kém màu mỡ, thủy lợi không đảm bảo, nhiều vùng đất canh tác bị ngập úng vào mùa

Công giáo.
+ Giao thông
Ngoài các tuyến đường liên thôn, liên xóm, xã còn có các tuyến đường liên xã.
Đường bộ có 2 tuyến đường GT chính: DDH3 và 617. Đường thủy: đi về các bến đò
của xã Tam Ngọc, xã Tam Xuân, xã Tam Lãnh huyện Phú Ninh.
+ Điện
Sử dụng từ mạng lưới quốc gia, chất lượng hệ thống lưới điện đảm bảo, đáp
ứng được nhu cầu sử dụng điện trong nhân dân. Tổng số hộ sử dụng điện trên toàn xã
đạt trên 90%, một số sống rải rác, độc lập ở các đồi núi chưa có điều kiện sử dụng.
+ Nước sinh hoạt
Chủ yếu lấy từ giếng đào, giếng khoan nằm ở độ sâu giao động từ 5 đến 10m.
Ngoài ra một số hộ tận dụng nguồn nước tự chảy đưa vào sinh hoạt.
+ Thông tin liên lạc
Thông tin liên lạc trên địa bàn xã chưa đáp ứng được nhu cầu cho người dân.
Toàn xã có một 1 trạm phát sóng truyền thanh và 7 cụm loa và 1 bưu điện văn hóa.
+ Y tế
Công tác y tế xã thường xuyên thực hiện các chương trình y tế quốc gia, y tế
cộng đồng, phòng khám và chữa một số bệnh thông thường. Cơ sở vật chất là nhà cấp
4, trang thiết bị y tế còn thiếu thốn nhiều.

10


+ Giáo dục
Hệ thống giáo dục trên địa bàn xã gồm: 1 trường trung học cơ sở, 5 trường tiểu
học và 7 trường mẫu giáo. Cơ sở vật chất của các trường là nhà cấp 4, thiết bị và đồ
dùng học tập còn thiếu.

11


Trong đó rừng phòng hộ là rừng và đất rừng được xác định với mục đích chủ yếu là
bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn nước, bảo vệ và chống xói mòn, hạn chế thiên tai, góp
phần điều hòa khí hậu và bảo vệ môi trường sinh thái.
Nhóm rừng này bao gồm: Rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ ven biển;
rừng phòng hộ chống gió hại, chống cát bay; rừng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh
thái, rừng lục hóa (Nguyễn Văn Thêm, 2008).
Rừng phòng hộ hồ Phú Ninh là rừng phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ hồ Phú Ninh
để cung cấp nước cho thủy điện Phú Ninh, cho thủy lợi Phú Ninh, và cung cấp các
chức năng phòng hộ cho khu vực và vùng hạ lưu thuộc các huyện lân cận Thăng Bình,
Quế Sơn, Duy Xuyên và thành phố Tam Kỳ.
b. Vai trò của rừng phòng hộ đầu nguồn
Theo tác giả Đặng Thanh Hà (2009), tài nguyên rừng cung cấp cho con người
chủ yếu hội tụ ở hai loại hình: (1) Rừng cung cấp nguồn sản phẩm dồi dào: gỗ; than,
củi; các sản phẩm ngoài gỗ như măng rừng, mây, tre, giang, nứa, mật ong, một số
động vật, thực vật khác, cây thuốc và các đặc sản rừng khác; (2) Rừng cung cấp các
dịch vụ môi trường: Bảo tồn nguồn nước; bảo tồn đa dạng sinh học; hấp thụ CO2; cảnh
quan du lịch.
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định vai trò to lớn của rừng trong việc phòng hộ
đầu nguồn liên quan đến hàng loạt dịch vụ cung cấp cho các lưu vực và bên ngoài. Đó
là khả năng điều tiết dòng chảy, hạn chế lũ; có vai trò trong hình thành và bảo vệ đất,
do vậy rừng giữ được đất, chống xói mòn và quá trình lắng đọng bùn cát; điều tiết mực
nước ngầm, cung cấp nước đặc biệt vào mùa khô; duy trì chất lượng nước: kiểm soát
chất lượng nước, các chất nhiễm độc; duy trì điều kiện cư trú cho các loài động vật, kể
cả các loài thủy sinh trong lưu vực; là nơi ẩn trú của nhiều loài có lợi cho môi trường,
cân bằng sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học; hấp thụ cacbon v.v . Nếu tình trạng khai
thác gỗ bừa bãi hoặc sử dụng đất không hợp lý cứ tiếp diễn đến một thời điểm nào đó
lớp rừng che phủ này bị mất đi, không còn khả năng đảm nhận chức năng phòng hộ
nữa và lúc đó sẽ dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, và việc trả giá đắt cho sự suy
13



14


Như vậy, sự đóng góp trực tiếp của rừng cho kinh tế gia đình ở vùng nông thôn
là tạo thu nhập và việc làm từ công việc mua bán các sản phẩm từ rừng (Falconer and
Arnold, 1991).
(3) Đầu vào cho hệ thống sản xuất hộ gia đình. Ngoài sự ổn định môi trường để
tiếp tục sản xuất nông nghiệp, rừng còn là một đầu vào quan trọng đối với hệ thống
sản xuất nông nghiệp như nguồn cung cấp thức ăn bổ dưỡng cho đàn gia súc, là nơi đất
tốt để trồng trọt cũng như có những bãi cỏ để người dân chăn thả đàn súc vật của mình
(Arnold, 1992). Bên cạnh cung cấp nguồn thức ăn cho vật nuôi, người dân còn thu
được từ rừng một lượng lớn phân xanh rất tốt ủ từ lá cây để bón ruộng, chúng phân
giải nhanh nên không làm hại môi trường (Waring and Schlesinger, 1985). Nhiều loài
cây rừng còn là nguồn thức ăn tuyệt vời của các loài côn trùng có lợi. Không những
thế, rừng còn cung cấp nhiều vật liệu cần thiết khác dùng cho những mục đích khác
nhau như: vật liệu xây kho chứa thóc, làm chuồng cho vật nuôi, làm hàng rào chắn
xung quanh nông trại, dựng lều ở nông trại, các dụng cụ, công cụ quan trọng khác
dùng cho mục đích sản xuất.
Theo kết quả nghiên cứu 100 hộ dân thuộc cộng đồng dân cư của 12 làng ở tỉnh
Bokeo, Lào, có 67% hộ thuộc nhóm mức phụ thuộc rất cao vào rừng, 25% thuộc nhóm
phụ thuộc cao, 5% thuộc nhóm phụ thuộc ở mức trung bình và chỉ có 3% thuộc nhóm
phụ thuộc ở mức thấp.
3.1.4. Sản phẩm từ trồng trọt trên đất rừng, lâm sản gỗ và lâm sản ngoài gỗ
(nguồn : Bounmy Somsoulivong, 2001).
a. Sản phẩm trồng trọt từ trên đất rừng
Sản phẩm trồng trọt trên những mảnh đất rừng bao gồm tất cả các sản phẩm
được gieo trồng và thu hoạch từ việc canh tác trên đất rừng. Nó là một hệ thống thu
hoạch quan trọng ở vùng cao. Chúng được trồng trên những vùng đất rừng đã được
dọn sạch và phần lớn sản phẩm thu đựơc đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong gia đình. Số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status