UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THEO TIÊU CHUẨN
CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN MẦM NON
HẠNG III
Đề tài:
ĐẠO ĐỨC CỦA GIÁO VIÊN MẦM
NON TRONG XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
SƯ PHẠM Ở TRƯỒNG MẦM NON
Họ và tên học viên: Cao Thị Trà Giang
Ngày sinh: 20/12/1985
Số Thứ tự trong danh sách lớp: 10
Cơ quan công tác: Trường Mầm non 2
Địa điểm học: Trường Bồi dưỡng giáo dục quận Bình Thạnh
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THEO TIÊU CHUẨN
CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN MẦM NON
HẠNG III
Họ và tên học viên: Cao Thị Trà Giang
Ngày sinh: 20/12/1985
Số Thứ tự trong danh sách lớp: 10
Cơ quan công tác: Trường Mầm non 2
việc ở lớp/ trường mầm non, giáo viên:....................................................................10
+ Hoạt động nghề nghiệp của GVMN như một người mẹ ở trường.......................10
+ Hoạt động nghề nghiệp của GVMN là nghệ sỹ......................................................11
+ Hoạt động nghề nghiệp của GVMN với vai trò một nhà tâm lý và giáo dục........11
3. Phần kêt luân:.............................................................................................................13
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................14
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại trường, với những kiến thức lý luận đã
được các thầy cô truyền đạt, bản thân em đã tiếp thu được những kiến
thức và các kĩ năng chung, kĩ năng nghề nghiệp chuyên nghành và đạo
đức nghề nghiệp của người giáo viên mầm non.
Chuyên đề “Đạo đức của giáo viên mầm non trong xứ lý tình
huống sư phạm ở trường mầm non” là một trong những nội dung có
tầm quan trọng đối với người giáo viên mầm non trong bối cảnh hiện
nay, giúp em hiểu sâu hơn về lí luận, thực trạng cũng như các biện
pháp xử lý tình huống sư phạm một cách khéo léo.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô trường Đại
học Sài Gòn, phòng giáo dục và đào tạo Quận Tân Bình đã tạo điều kiện
tốt nhất để em có thêm những tri thức mới. Đặc biệt là cô ThS. Mã Thị
Khánh Tú đã tận tình truyền đạt cho em những kiến thức quý giá trong
suốt khoảng thời gian qua. Vốn kiến thức đó không chỉ là nền tảng mà
còn là hành trang quý giá cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
Sau cùng em xin kính chúc Quý Thầy Cô dồi dào sức khỏe, thành
công trong sự nghiệp và cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn.
cách toàn diện về cả thể chất lẫn tinh thần.
Để làm được điều đó đòi hỏi ngưòi giáo viên trong quá trình chăm
sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non phải tìm cách, cách thức phù hợp
để giải quyết những tình huống sư phạm có thể xảy ra tại nhóm lớp
một cách hiệu quả nhất. Từ đó, giúp trẻ cảm thấy yên tâm, thích thú và
phụ huynh tin tưởng khi cho bé đến trường.
Ở lứa tuổi mầm non đặc biệt là trẻ mẫu lứa tuổi mẫu giáo, trẻ rất
tò mò hiếu động luôn tìm tòi khám phá thế giới xung quanh mình vì vậy
sự hoạt động của trẻ nhiều lúc gây áp lực cho giáo viên là rất lớn. Nếu
như giáo viên không có sự kiên nhẫn, không có kỹ năng sư phạm mềm
dẻo trong xử lý tình huống sẽ dẫn đến những hành vi, chuẩn mực
không đúng dẫn đến việc quát tháo,doạ nạt trẻ, đánh mắng và thậm
chí là bạo hành trẻ.
2
Sau khi nghiên cứu và tìm hiểu bản thân tôi nhận thức rõ về tầm quan
trọng của đạo đức nhà giáo trong việc xử lý các tình huống sư phạm
trong trường mầm non. Do đó tôi quyết định chọn chuyên đề “ đạo
đức của giáo viên mầm non trong xử lý tình huống sư phạm
trong trường mầm non”.
Vì chuyên đề này giúp tôi hiểu rõ hơn về các khái niệm tình huống
sư phạm trong nhóm,lớp học mầm non. Hiểu đạo đức của giáo viên
mầm non và cách biểu hiện hành vi đạo đức trong việc xử lý các tình
huống sư phạm trong nhóm, lớp học mầm non. Thực hành các biểu
hiện hành vi đạo đức trong việc xử lý các tình huống sư phạm thực tế.
Trẻ em mỗi ngày đều được tiếp xúc,đựơc tham gia vào rất nhiều
các hoạt động ở lớp, ở trưòng, mọi lúc mọi nơi, từ trong lớp học, dưói
sân trưòng: Hay nói cách khác là nhu cầu hàng ngày của trẻ là học tập
và vui chơi ở mọi lúc mọi nơi. Do đó việc xẩy ra các tình huống sư phạm
non; động viên khuyến khích trẻ tích cực tham gia vào các hoạt
động chung/ nhóm.
Xây dựng và duy trì phối hợp với gia đình trong việc chăm sóc –
giáo dục trẻ; tuyên truyền về trẻ và phổ biến thông tin về phương
pháp giáo dục trẻ.
+ GVMN yêu nghề, tâm huyết, gắn bó và có trách nhiệm cao với nghề
nghiệp.
Có tình cảm và yêu thương trẻ, có động cơ nghề nghiệp, say mê
sang tạo, nhanh chóng thích ứng với tình huống mới;
Có ý thức tự học, tự bồi dưỡng nâng cao nhận thức, năng lực
chuyên môn, nghiệp vụ chăm sóc, giáo dục trẻ trong độ tuổi;
Có quan hệ tin cậy dễ chịu đối với người khác, hợp tác thiện chí,
trao đổi kinh nghiệm tự hoàn thiện bản thân;
Có suy nghĩ quan diểm tích cực, hoàn thành tốt các công việc
được giaonhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới mục tiêu chăm sóc –
giáo dục, bảo vệ và nuôi dưỡng trẻ.
+ GVMN có ý thức tổ chức, có đạo đức tốt thương yêu đồng cảm với
người khác, mềm dẻo, hiểu biết, sáng tạo, lối sống lành mạnh, trung
thực, giản dị phù hợp với văn hóa dân tộc.
* Yêu cầu:
- Bình tĩnh, không vội vàng, nóng nảy. Giáo viên nên tìm hiểu kĩ những
nguyên nhân dẫn đến những biểu hiện hành vi bất thường của trẻ để có
hướng giải quyết hợp lí nhất.
- Giáo viên ứng xử công bằng với tất cả trẻ, không phân biệt, so sánh
trẻ này với trẻ khác.
- Tạo ra một bầu không khí thân thiện, cởi mở là điều rất quan trọng.
- Giáo viên nên tìm những điểm tốt, điểm tích cực của trẻ để nêu
gương, khích lệ trẻ tạo cho trẻ có được sự tự tin, phấn khởi.
- Cần linh hoạt trong cách xử lí tình huống với trẻ, không nên cứng nhắc
vì mỗi trẻ là một cá thể riêng biệt, một tính cách và sở thích khác nhau.
nhiên và hòa vào các cháu để tạo không khí tâm lý an toàn, tin tưởng
cho các cháu, nhờ đó mà các cháu quấn quýt bên cô và uy tín cùng
năng lượng của cô được phát triển. Hoặc khi ứng xử với phụ huynh, với
đồng nghiệp, khi nhận thấy phản ứng của họ đối với cách ứng xử của
minh thì GV có thể điều chỉnh cách ứng xử cho phù hợp với từng tình
huống, từng hoàn cảnh và với từng đối tượng.
- Vai trò thông tin:
Hoạt động ứng xử sư phạm về bản chất là một hoạt động giao tiếp
xã hội thông qua các phương tiện giao tiếp vật chất và phi vật chất và
nhờ có những phương tiện này (ngôn ngữ, vật thể, nhân cách của các
cá nhân tham gia giao tiếp) mà con người có được những mối quan hệ
xã hội. Sự hiểu biết lẫn nhau giữa các cá nhân được thực hiện nhờ các
thông tin chứa đựng trong các phương tiện giao tiếp. Từ sự tiếp nhận
thông tin ấy mà người GV có được cái nhìn cụ thể hơn về đối tượng giao
tiếp ứng xử. Từ đó có những biện pháp ứng xử phù hợp.
5
Bên cạnh đó thông qua việc ứng xử mà GV có thể thực hiện chức
năng tổ chức, hướng dẫn hoạt động vui chơi, giáo dục thông qua tập
thể lớp.
GV phân công vai chơi, tổ chức các nhóm vui chơi sao cho phát huy
hết được tiềm năng vốn có của các cháu, khơi dậy sự hứng thú khi vào
cuộc chơi. Xây dựng nếp sống cho trẻ thông qua chế độ sinh hoạt hằng
ngày. Và đối với cá nhân trẻ : ứng xử thỏa mãn một nhu cầu nào đó của
trẻ như âu yếm (ôm hôn, vuốt ve, bế ẵm,…).
Thực hiện chức năng chăm sóc dinh dưỡng vệ sinh cho trẻ tạo cho trẻ
cảm giác an toàn về đời sống. Thực hiện chức năng giáo dục bằng tinh
cảm , xây dựng thói quen bằng hành vi ứng xử cho trẻ. Chức năng xây
-GV có quan niệm sai lầm khi cho rằng, trẻ tuổi này rất bướng, rất lì lợm
nên phải giáo dục nghiêm khắc, phải trách phạt, la mắng cho trẻ biết
sợ, biết chừa. Vì thế, GV thường cấm đoán và chỉ mong trẻ biết nghe
lời.
* Biện pháp:
@ Tăng cường nhận thức pháp luật, nhận thức về yêu cầu/
chuẩn mực đạo đức của giáo viên mầm non, về đặc điểm tâm,
sinh lí của trẻ em
-Mục đích: Nâng cao nhận thức của GVMN về quy định pháp luật, các
yêu cầu đạo đức, giúp GVMN nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của
việc thực hiện những quy định về cách thức giao tiếp, ứng xử của GV
với trẻ.
GV xác định tâm thế sẵn sàng thực hiện quy định đó.
- Thực hiện:
+ CBQL cần xây dựng chuyên đề sau khi đã đưa ra nội dung những quy
định cụ thể cần rút ra những nội quy ngắn gọn, dễ hiểu và dễ nhớ về
các yêu cầu đạo đức của GVMN, đặc điểm tâm sinh lí của trẻ em;
+
Truyền đạt cho GV về yêu cầu đạo đức của GVMN và tính bắt
buộc trong việc thực hiện các yêu cầu này. Cần nhấn mạnh cho GV hiểu
rằng nội quy về cách thức cư xử của GVMN với trẻ rất quan trọng và
tuyệt đối GV không được vi phạm.
+ Đó là trách nhiệm, nhiệm vụ của GV phải thực hiện chứ không phải là
vấn đề được tùy ý thực hiện. CBQL có thể tổ chức tập huấn hoặc sinh
hoạt chuyên môn theo hình thức “Nghiên cứu bài học”, GV sẽ được
cùng nhau trao đổi, cùng nhau góp ý, thảo luận về các yêu cầu đạo đức
của GVMN, từ đó đưa ra những biện pháp trong việc giao tiếp, ứng xử
với trẻ đạt hiệu quả như mong muốn. Trong quá trình đó, CBQL cần
7
8
tiên những GV mới vào nghề, GV còn ít kinh nghiệm trong giao tiếp với
trẻ;
+ Khuyến khích GV vận dụng những kiến thức đã được bồi dưỡng từ các
quy định và yêu cầu đạo đức của GVMN trong giao tiếp ứng xử với trẻ;
Hướng dẫn, góp ý, hỗ trợ GV ngay sau khi cần thiết để GV có thể thực
hành được tốt hơn trong quá trình giao tiếp với trẻ;
+ Không tạo tình huống mà cứ để lớp học diễn ra bình thường, người hỗ
trợ sẽ hướng dẫn, góp ý trên những biểu hiện kĩ năng thực tế nhất của
GV. Mục tiêu là để thực hành, rèn luyện cách sử dụng giọng nói, nét
mặt, thể hiện hành vi, cử chỉ... sao cho đảm bảo tính mô phạm và thực
sự hiệu quả theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm; việc hỗ trợ
sẽ tiến hành tùy vào mức độ thực hiện của GV.
@ Nâng cao đạo đức của cán bộ quản lí trong nhà trường:
- Mục đích: Nâng cao đạo đức của CBQL về việc thực hiện các quy
định pháp luật, các yêu cầu đạo đức, giúp CBQL nhận thức rõ vai trò,
tầm quan trọng của việc thực hiện những quy định về đạo đức và
gương mẫu trong việc chỉ đạo các hoạt động của nhà trường...
-Thực hiện:
+ CBQL luôn gương mẫu đi đầu trong việc chấp hành thực hiện mọi
chủ trương chính sách, quy định của Ngành, của bậc học; chỉ đạo GV
trong nhà trường nghiêm túc thực hiện các chủ trương, chính sách và
quy định này;
+ Cùng tập thể GV trong nhà trường xây dựng các quy định, yêu cầu
về đạo đức trong các mối quan hệ với đồng nghiệp, với trẻ, với phụ
huynh;
9
trẻ về mức hợp lí hơn hoặc giảm khối lượng công việc cho từng GV;
đồng thời, cắt giảm bớt khối lượng công việc phải làm trong ngày
của GV như vệ sinh, quét dọn... bằng cách bổ sung thêm nhân viên
vệ sinh nếu cần;
+ Có những hỗ trợ hợp lí, kịp thời cho GV như cung cấp nguyên vật
liệu, đồ dùng, dụng cụ tiện nghi hay phương tiện như máy in, máy
ép đầy đủ để thuận tiện khi sử dụng; cung cấp thêm tranh ảnh, đồ
dùng đồ chơi bán sẵn giúp GV đỡ tốn công làm đồ dùng, đồ chơi...
dành thời gian giao tiếp với trẻ để hiểu trẻ hơn.
10
+ Giảm áp lực bằng cách: Tạo một môi trường làm việc thân thiện,
tôn trọng và quan tâm lẫn nhau giữa mọi người trong tập thể từ cấp
trên đối với cấp dưới đến những người đồng nghiệp cùng làm chung
đối với nhau. Muốn GV yêu thương trẻ hết lòng, CBQL phải tôn trọng
GV, quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng và đời sống của GV, tới chế
độ, chính sách, đãi ngộ xứng đáng. Tinh thần làm việc của GV có vui
vẻ, thoải mái thì mới thuận lợi cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ. Những
yêu cầu khắt khe hay chưa hợp lí khác cần được xem xét lại như yêu
cầu GV phải cho trẻ ăn hết suất, yêu cầu lớp luôn trật tự, nền nếp, dự
giờ lên tiết phải luôn đạt kết quả cao, yêu cầu không được để phụ
huynh phàn nàn... Cần thông cảm cho những điều GV chưa làm được
nếu có lí do chính đáng.
@ Động viên, đãi ngộ và tôn vinh giáo viên mầm non:
- Mục đích: Tạo cho GV tâm lí phấn khởi, yên tâm, yêu thích nghề
nghiệp mình đã lựa chọn từ đó giúp GV yêu nghề, có tinh thần trách
nhiệm trong công việc.
- Thực hiện:
Thời gian làm việc của GVMN thường từ 8-10 tiếng tại trường. Ngoài ra,
họ còn phải làm nhiều việc khác: Soạn giáo án, làm đồ dùng học tập, sổ
sách, công tác kiêm nhiệm…
+ Hoạt động nghề nghiệp của GVMN như một người mẹ ở
trường
Chăm sóc giáo dục trẻ bằng tình thương yêu hết mực như con của mình
ở gia đình, đồng thời có một sự khoan dung và độ lượng, tận tâm và tận
lực vì trẻ nhỏ.
Làm việc với một sự kiên trì, tỷ mỉ, nhẫn nãi và cần mẫn, nhưng luôn
công bằng và tôn trọng trẻ (tôn trọng từng cá nhân, tôn trọng sự đa
dạng của các trẻ trong lớp)
Họ sẵn sàng“mở lòng” đối với trẻ em, có lòng vị tha, sẵn sàng chia sẻ
và hợp tác với trẻ; không có thái độ kì thị, miệt thị hay phân biệt đối xử,
nhất là đối với trẻ có hoàn cảnh khó khăn (trẻ khuyết tật, trẻ có hoàn
cảnh gia đình éo le, trẻ dân tộc…).
12
Họ làm việc có khoa học, có nền nếp và kỉ cương trong một lớp học,
nhưng vẫn luôn gần gũi, thân thiện trong đối xử với trẻ như một người
bạn thân thiết.
+ Hoạt động nghề nghiệp của GVMN là nghệ sỹ.
Có một sự khéo léo và nghệ thuật trong giao tiếp ứng xử; giao tiếp văn
minh,lịch sự và có văn hóa (với trẻ, với cha mẹ của trẻ, với đồng
nghiệp, với lãnh đạo cấp trên, với người dân trong cộng đồng…)
Có nghệ thuật trong tổ chức các hoạt động cho trẻ (hoạt động tạo hình,
làm đồ dùng học tập, múa hát, giúp trẻ nghe và cảm thụ âm nhạc; kể
chuyện, đọc thơ và đóng kịch…) qua thể hiện ở hành vi, ngôn ngữ biểu
cảm.
Có nghệ thuật trong sử dụng ngôn ngữ (sử dụng từ ngữ trong sáng, dễ
cô giáo đặt câu hỏi trong giờ học, bé giơ tay ngay và rất hăng hái,
nhưng khi được gọi thì bé đứng lên chỉ mỉm cười, không trả lời. Đây như
là một phản xạ tự nhiên trở thành thói quen của bé.
+ Nguyên nhân thực trạng:
Trẻ em sống và ứng xử dựa vào cảm xúc của chính trẻ. Trẻ yêu,
buồn, giận hờn,… là bộc lộ ra ngay bằng thái độ hành vi.
Trẻ được cô giáo yêu mến và ít bị nhận xét, đánh giá nên trẻ không
sợ là có trả lời câu hỏi được hay không, hoặc thậm chí trả lời chưa phù
hợp. Vì vậy, tình huống này trẻ có biểu hiện như vậy là chuyện bình
thường, có thể coi là điểm tích cực vì trẻ đã có một cảm xúc tích cực
trên lớp học.
Nhiều trẻ chưa tự tin hay chưa có thói quen đứng trước đám đông.
Vì vậy khi trẻ ngồi dưới thì rất hăng hái, tự tin nhưng khi được gọi lên
trả lời thì trẻ xấu hổ và không trả lời được.
Nhiều trẻ có phản xạ tự nhiên trở thành một thói quen khi làm một
việc gì đó nên việc dừng lại ngay phản xạ tự nhiên của trẻ sẽ gặp khó
khăn. Nhiều khi bé Bảo Nguyên giơ tay như vậy là do thói quen, vì vậy
cần có thời gian để giúp bé Bảo Nguyên dần dần điều chỉnh được thói
quen đó.
+ Biện pháp giải quyết:
Mỗi lần bé Bảo Nguyên giơ tay trả lời câu hỏi của cô giáo thì cô vẫn
nên cổ vũ, động viên bé bởi sự cố gắng, tự giác và chăm chú học bài.
Nếu bé Bảo Nguyên giơ tay nhưng chưa trả lời được câu hỏi của cô giáo
thì cô có thể dừng lại một chút và dành thời gian gợi ý cho bé Bảo
Nguyên. Cô có thể gợi ý từ dễ đến khó cho bé Bảo Nguyên trả lời và
cho bé thời gian suy nghĩ. Cần làm việc này kiên trì và thường xuyên
giúp bé tập trung vào suy nghĩ và trả lời câu hỏi tốt hơn.
Tình huống 2: phụ huynh đón con trễ.
+ Nguyên nhân thực trạng:
14
ứng xử một cách thông minh, khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả, đạt tới mức độ
nghệ thuật, được coi như bí quyết thành công trong cuộc sống và trong công tác. Ứng xử
của cô giáo mầm non cũng vậy, việc xử lý các tình huống xẩy ra trong quá trình chăm sóc
trẻ, trong các mối quan hệ với đồng nghiệp và phụ huynh là cả một nghệ thuật
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hoàng Phê (2013). Từ điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng.
[2] Đặng Thành Hưng (2012). Quan niệm đạo đức và giáo dục đạo đức
trong nhà trường hiện đại. Tạp chí Khoa học giáo dục, số 8, tr 8-11.
[3] Nguyễn Thanh Phú (2014). Quản lí giáo dục đạo đức nghề nghiệp
cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ. Luận án
tiến sĩ Khoa học giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.
[4] Ngô Công Hoàn (2009). Giao tiếp ứng xử sư phạm của giáo viên
mầm non. NXB Đại học Sư phạm.
[5] Quốc hội (2009). Luật Giáo dục sửa đổi 2009.
[6] Nguyễn Bá Hùng (2007). Vấn đề giáo dục phẩm chất đạo đức nghề
nghiệp cho học viên sư phạm trong quân đội hiện nay. Tạp chí Khoa học
giáo dục, số 22, tr 58-60.
[7] Chu Thị Hồng Nhung (2014). Tăng cường năng lực quản lí lớp/trường
của giáo viên dành cho giáo viên mầm non. NXB Đại học Sư phạm.
[8] Bộ GD-ĐT (2008). Quyết định số 16/2008/QĐBGDĐT ngày
16/04/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT Ban hành Quy định về đạo đức nhà
giáo.
[9] Bộ GD-ĐT (2008). Quyết định số 02/2008/QĐBGDĐT ngày
22/01/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT Ban hành Quy định về chuẩn nghề
nghiệp giáo viên mầm non.
[10] Bộ Giáo dục và đào tạo, Chương trình Giáo dục mầm non, NXB