PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO HUYỆN THANH OAI
TRƯỜNG MẦM NON TÂN ƯỚC
MÃ SKKN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN SÁNG KIẾN:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ MẪU GIÁO LỚN
5 - 6 TUỔI TÍCH CỰC THAM GIA VÀO HOẠT ĐỘNG
KHÁM PHÁ KHOA HỌC TRONG TRƯỜNG MẦM
NON”
Lĩnh vực
: Phát triển nhận thức
Tên tác giả
: Vũ Thị Thu Hà
Chức vụ
: Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường mầm non Tân Ước
Năm học: 2014 – 2015
1
5
Đối tượng khảo sát và phương pháp nghiên cứu
6
Phạm vi thực hiện đề tài
Phần II: Nội dung của đề tài
I
Đánh giá thực trạng của đề tài
1
Đặc điểm chung
a
Thuận lợi
b
Khó khăn
2
Thực trạng trước khi thực hiện đề tài
II
STT
NỘI DUNG
nhận thức khám phá khoa học cho trẻ.
III
Kết quả thực hiện có so sánh đối chứng:
1
Giáo viên
2
Phụ huynh
3
Đối với trẻ
3
Bảng so sánh có đối chứng
Phần III: Kết luận và kiến nghị
I
Kết luận
: Giáo viên
: Trường Mầm Non Tân Ước
: Trung cấp
: Chính quy
: Giáo viên giỏi cấp trường
4
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
1. Cơ sở lí luận:
Giáo dục Mầm Non là ngành học mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc
dân, chiếm vị trí quan trọng trong ngành giáo dục, Giáo dục Mầm non có nhiệm
vụ xây dựng những cơ sở ban đầu, đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách
con người. Trẻ em là hạnh phúc của mọi gia đình, là tương lai của cả dân tộc,
việc bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ không phải chỉ là trách nhiệm mỗi gia đình
mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội.
Giáo dục mầm non là thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất, tất cả mọi
việc đều bắt đầu: Bắt đầu ăn, bắt đầu nói, bắt đầu nghe, nhìn và vận động bằng
đôi chân, đôi tay của mình.... Tất cả những cử chỉ đó đều làm nên những thói
quen, kể cả thói xấu. Như vậy ngay từ tuổi ấu thơ trẻ Mầm Non đặc biệt là trẻ 56 tuổi đang ở những bước phát triển mạnh về nhận thức, tư duy, ngôn ngữ, tình
cảm ..... Thế giới khách quan xung quanh thật bao la rộng lớn, có biết bao điều
mới lạ hấp dẫn, và còn có bao lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết, muốn được
khám phá ... và việc đưa hoạt động “Khám phá khoc học" vào trong trường mầm
non đã góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thế hệ trẻ phát triển toàn diện
hơn. Trước tốc độ phát triển của khoa học công nghệ, giáo dục trẻ nói chung và
giáo dục mầm non nói riêng cũng không ngừng nghiên cứu đổi mới phương
pháp, nội dung dạy học để đáp ứng nhu cầu dân trí của thời đại. Chương trình
đổi mới cho phép người giáo viên phát huy hết khả năng linh hoạt và sáng tạo
thú và chủ động tham gia tìm hiểu và khám phá. Hơn thế nữa hoạt động “khám
phá khoa học” còn là một hoạt động khó đòi hỏi phải có kiến thức chính xác,
cách truyền đạt khoa học, để hướng dẫn giúp trẻ hiểu những kiến thức về khám
phá khoa học là vấn đề rất khó khăn, đặc biệt có một số bộ phận phụ huynh còn
coi nhẹ việc học tập của con em mình làm ảnh hưởng đến kết quả học tập của
trẻ.
Chính vì vậy, là một giáo viên dạy lớp 5-6 tuổi, tôi luôn băn khoăn trăn trở.
Làm thế nào để giúp trẻ tích cực tham gia vào hoạt động “khám phá khoa học”
một cách tốt nhất, để tạo tâm thế cho trẻ khi bước vào bậc tiểu học và đón nhận
những tri thức mới. Do vậy tôi đã chọn đề tài:
“Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi tích cực tham gia vào
hoạt động khám phá khoa học trong trường mầm non”
3. Mục đích của đề tài:
- Giúp trẻ 5- 6 tuổi tích cực tham gia vào hoạt động " Khám phá khoa học",
mạnh dạn, tự tin có và có khả năng nắm vững được những kiến thức sơ đẳng,
ban đầu về khám phá.
- Giúp các đồng nghiệp, các bậc phụ huynh có thêm kiến thức và kinh
nghiệm để giáo dục trẻ đạt hiệu quả cao
4.Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi tích cực tham gia vào hoạt
động khám phá khoa học trong trường mầm non.
5. Đối tượng khảo sát, phương pháp nghiên cứu:
* Đối tượng khảo sát:
- 100% trẻ 5-6 tuổi trong lớp A2- Trường Mầm Non Tân Ước
6
* Phương pháp nghiên cứu:
- Khi tiến hành nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
+ Phương pháp quan sát: Quan sát thực hành của trẻ để đánh giá thực trạng
đó trở nên thú vị, không khô khan với trẻ. Khám phá khoa học mang lại nguồn
biểu tượng vô cùng phong phú, đa dạng, đầy sinh động với trẻ thơ, từ môi
trường tự nhiên ( cỏ cây, hoa lá, chim muông..) đến môi trường xã hội ( công
việc của mỗi người trong xã hội, mối quan hệ của con người với nhau…) và trẻ
hiểu biết về chính bản thân mình. Khám phá khoa học đòi hỏi trẻ sử dụng tích
cực các giác quan chính vì vậy sẽ phát triển ở trẻ năng lực quan sát, khả năng
7
phân tích, so sánh, tổng hợp.. Nhờ vậy khả năng cảm nhận của trẻ sẽ nhanh
nhạy, chính xác, những biểu tượng, kết quả trẻ thu nhận được trở nên cụ thể,
sinh động và hấp dẫn hơn. Qua những thí nghiệm nhỏ trẻ được tự mình thực
hiện và trong độ tuổi mầm non sẽ hình thành ở trẻ những biểu tượng về thiên
nhiên chính là cơ sở khoa học sau này của trẻ.
2. Đánh giá thực trạng của đề tài :
a. Đặc điểm chung:
Năm học 2014- 2015 được sự phân công của ban giám hiệu nhà trường tôi
dạy lớp 5- 6 tuổi. Học theo chương trình đổi mới với sĩ số là 36 trong đó có 19
cháu là nam , 17 cháu là nữ. 100% số trẻ trong lớp đã học qua lớp 4 tuổi.Trong
nhóm có 2 giáo viên chủ nhiệm.
* Thuận lợi:
Có phòng học và cơ sở vật chất đầy đủ, trang thiết bị dạy học để giảng dạy
tại nhóm lớp như: Đàn, tivi, đầu DVC...Được sự quan tâm giúp đỡ của Ban
Giám Hiệu nhà trường cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình trong công tác giảng dạy
của chị em đồng nghiệp. Bản thân thật sự yêu nghề, giàu lòng yêu thương trẻ.
Luôn có ý thức học hỏi vươn lên trong công tác chăm sóc giáo dục.Thường
được tham gia các chuyên đề do phòng giáo dục và nhà trường tổ chức, dự giờ
của đồng nghiệp, nên việc học hỏi kiến thức được nâng cao rõ rệt.
*Khó khăn:
Khám phá khoa học là một môn học khó, trừu tượng đối với cả việc cung
1
Trẻ hứng thú tham gia vào
hoạt động phám phá khoa
học
10/36
27,7
2
Trẻ thích được nói lên ý
kiến của bản thân khi
tham gia vào hoạt động
khám phá.
8/36
22,2
3
Khả năng nắm vững kiến
thức và kỹ năng thực hành
của trẻ.
11/36
30,5
đều được hoạt động theo khả năng của mình.
+ Biết gợi mở, hướng dẫn để trẻ tự tìm tòi kiến thức, có nhiều biện pháp
phát huy tính chủ động của trẻ khi cho trẻ tham gia khám phá.
9
+ Quan tâm đến các trẻ trong mọi hoạt động.
+ Tiến trình tiết dạy hợp lý, thu hút được chú ý của trẻ, phân phối thời gian
thích hợp cho các phần, các khâu, giữa hoạt động của cô và trò.
+ Quan hệ cô trò thân ái.
+ Đánh giá hiệu quả tiết dạy thông qua kết quả học tập của trẻ.
+ Trẻ hăng hái và có nề nếp học tập tốt, hầu hết biết trả lời những yêu cầu,
nội dung cô đưa ra ở mỗi hoạt đông khám phá.
Để có được những phương trâm dạy học tốt như trên thì bản thân tôi phải
tự đặt ra một lịch trình bồi dưỡng về chuyên môn cho bản thân một cách khoa
học và thường xuyên nhất. Tham gia các lớp bồi dưỡng về “khám phá khoa học”
do Phòng Giáo Dục và nhà trường tổ chức. Tham gia các buổi sinh hoạt chuyên
môn do nhà trường tổ chức.Trước mỗi buổi sinh hoạt chuyên môn tôi thường
xuyên tìm tòi và nghiên cứu trước những vấn đề còn vướng mắc trong quá trình
chuyển tải kiến thức về hoạt động “khám phá khoa học” để cùng chị em trong tổ
tháo gỡ và tìm ra hướng giải quyết đạt hiệu quả. Nâng cao hơn về kỹ năng soạn
giáo án điện tử về hoạt động “khám phá khoa học” thông qua các lớp học thêm
về vi tính vào buổi tối. Và một số giáo án như “ Khám phá quá trình phá triển
của cây từ hạt”, Khám phá quá trình tạo mưa”, “Khám phá gió tự nhiên và gió
nhân tao” ...
Học tập qua việc xây dựng một số chuyên đề mẫu do nhà trường và các tổ,
khối xây dựng.Với sự lỗ lực không ngừng tôi còn thường xuyên phối hợp với
chị em trong khối mẫu giáo đặc biệt là khối Mẫu giáo lớn xây dựng một số
chuyên đề mẫu như: “Khám khá quá trình phát triển của cây”, “Khám phá sự
biến đỗi của mầu”, “Khám phá gió tự nhiên và gió nhân tạo”, “Khám phá Một
thành vô nghĩa, với lý do này mà bản thân tôi thiết nghĩ không ai có thể giúp
mình bằng chính sự nỗ lực của bản thân, đó là biến những tri thức học được
thành của mình bằng cách nào?. Bằng cách mỗi khi ta tiếp thu được cái mới, ta
tự xây dựng lên tiết dạy của chính mình với sự lỗ lực biến tri thức học được
thành của mình và nhờ chị em đồng nghiệm dự giờ và đánh giá tiết dạy của
mình xem kết quả có như mình mong muốn hay không. Mỗi ngày một cố gắng,
mỗi giờ một lỗ lực .
Qua biện pháp “Tự học hỏi, trau dồi kiến thức để nâng cao kỹ năng
chuyển tải về hoạt động khám phá khoa học.” trong năm qua bản thân tôi đã
có nhiều chuyển biến về phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động “khám
phá khoa học” để thu hút trẻ tham gia hoạt động, và thực sự trẻ lớp tôi đã không
còn nhút nhát khi tham gia vào giờ học.
2. Biện pháp 2: Sưu tầm một số thí nghiệm giúp trẻ tích cực tham gia
khám phá khoa học:
11
Ngày nay khoa học kỹ thuật đã có những bước tiến quan trọng vì vậy đối
với trẻ nhỏ nhất, là trẻ lứa tuổi mầm non thì việc trang bị cho trẻ những kiến
thức bao quát và chính xác về các lĩnh vực của tự nhiên là rất cần thiết. Tuy
nhiên như chúng ta đã biết không phải thí nghiệm nào cũng cũng là một phát
minh, không có phát minh nào là không có thí nghiệm, Những thí nghiệm nhỏ,
đơn giản, dễ tiến hành nhưng lại hiệu quả vì nó giúp trẻ sẽ có điều kiện để suy
nghĩ, khám phá những bí ẩn của cuộc sống. Chính vì vậy việc cho trẻ trực tiếp
tham gia những trò chơi thí nghiêm hay những bài tập thí nghiệm giúp trẻ có
một vốn kiến thức vô cùng phong phú về thế giới xung quanh mình, bên cạnh đó
nó còn giúp trẻ hứng thú, say mê tham gia vào hoạt đông học hơn.
2.1 Một số thí nghiệm với cây và hạt:
* Thí nghiệm 1: Trong hạt có gì?
- Mục đích:
* Thí nghiệm 3: Sự phát triển của cây từ hạt.
Mục đích: Giúp trẻ nhận biết được quá trình phát triển của cây.
Chuẩn bị: Các loại hạt đỗ, đậu... Chậu nhỏ và dụng cụ làm đất.
Cách tiến hành: Cô và trẻ cùng làm đất cho vào chậu, cô cho trẻ gieo hạt
vào chậu, đặt chậu nơi có ánh sáng. Hàng ngày cô dẫn trẻ theo dõi và tưới nước
cho chậu cây, hướng dẫn trẻ cùng cô ghi lại quá trình phát triển của cây.
Cô giải thích thích và kết luận: Cô cho trẻ tự khái quát lại 5 quá trình phát triển
của cây mà cô và trẻ đã cùng trẻ ghi lại được.( hình ảnh 4)
Hình ảnh 4: cô và trẻ cùng quan sát cây trưởng thành
* Thí nghiệm 4: Cây cần có nước.
Mục đích: Trẻ nhận biết đặc điểm của cây. Biết điều kiện sống của cây, cây
cần gì để sống. Biết chăm sóc và bảo vệ cây xanh.
Chuẩn bị: 2 chậu cây.
Cách tiến hành: Cô để 2 chậu cây cạnh nhau, một chậu cây cô và trẻ cùng
tưới nước còn chậu kia không tưới nước, sau một thời gian cô và trẻ cùng quan
sát xem điều gì sẽ xảy ra và cho trẻ tự nói lên kết quả đã xảy ra.
Cô giải thích và kết luận: Cây cần có nước để sống nếu thiếu nước cây sẽ bị
vàng lá, héo úa và lâu ngày cây sẽ chết.
2.2. Một số thí nghiệm với nước:
*Thí nghiệm 5: Khám phá về nước (Quan sát mô tả về nước)
Mục đích: Nhận biết đặc điểm của nước như: Màu sắc, mùi vị của nước.
14
Chuẩn bị: Bồn nước hoặc chậu nhựa. Đổ nước vào các vật chứa nước đã
chuẩn bị. Một số cốc nước sạch.
Cách tiến hành: Cô cho trẻ quan sát chậu nước và hỏi trẻ: Nước trông như
Hình ảnh 6: Cô và trẻ tham gia thí nghiệm với các chất lỏng
* Thí nghiệm 7: Sử dụng bàn tay trong nước:
Mục đích: Nhận biết được tác dụng của nước đối với việc vận động trong
nước.
Chuẩn bị: Bồn chơi nước hay chậu nhựa to. Đổ nước vào chậu.
Cách tiến hành: Cho trẻ cho tay vào chậu nước và cô yêu cầu trẻ vỗ tay, di
chuyển, đẩy ... trong nước. Điều gì xảy ra khi chuyển động bàn tay trong nước?
16
Có thể đẩy nước ra xa không? Điều gì sẽ xảy ra khi đánh nhẹ vào nước?
Cho trẻ vốc nước bằng 2 tay và buông tay cho nước rơi xuống. Điều gì xảy ra
khi nước rơi xuống? ( Nhảy lên, tạo sóng, phát âm...)
* Thí nghiệm 8: Quả Trứng thần kỳ.
Mục đích: Trẻ biết nước muối mặn hơn nước thường khi chưa cho muối,
quả trứng có thể nổi trong nước muối và chìm trong nước ngọt ( nước thường)
Chuẩn bị: 2 cốc thủy tinh, 2 quả trứng, nước ngọt, nước muối.
Cách tiến hành: (Để trẻ dễ quan sát, cô tổ chức cho trẻ quan sát theo nhóm)
Cho trẻ đánh dấu 2 cốc nước, đổ muối vào cốc nước thứ 2 ( khoảng 10 thìa
cà phê), khuấy đều. Sau đó thả 2 quả trứng vào 2 cái cốc. Trẻ quan sát xem điều
gì sẽ xảy ra. ( hình ảnh 7)
Kết luận: Quả trứng nổi trong nước muối vì trứng nhẹ hơn nước muối,
nhưng quả trứng sẽ chìm trong nước ngọt vì nó nặng hơn nước ngọt. ( hình ảnh
8)
Hình ảnh 7: Cô và trẻ tham gia quá trình thí nghiệm quả trứng thần kỳ
17
19
Hình ảnh10: Cô và trẻ tham gia thí nghiệm vật nổi, vật chìm trong nước.
2.3 Một số thí nghiệm với không khí và ánh sáng:
* Thí nghiệm 11: Vì sao ngọn nến tắt?
Mục đích: Trẻ nhận biết không khí làm cho nến cháy được, không có
không khí thì nến sẽ tắt.
Chuẩn bị: 2 cái cốc, 2 cây nến, 1 tờ giấy bạc đã đục lỗ, và một tờ giấy bạc
còn nguyên.
Cách tiến hành: (Để trẻ dễ quan sát, cô tổ chức cho trẻ quan sát theo nhóm)
Cô đặt 2 cây nến vào trong 2 cái cốc, đốt nến cho trẻ thấy 2 cây nến đang cháy.
Cho trẻ quan sát 2 tờ giấy bạc đã chuẩn bị . Các con thử đoán xem điều gì sẽ
xảy ra khi cô dùng 2 tờ giấy bạc này bịt lên 2 cốc nến đang cháy. Cô dùng 2 tờ
giấy bạc bịt lên 2 cốc nến đang cháy. Cho trẻ quan sát và nhận xét hiện tượng
xảy ra ( 1 ngọn nến tắt, 1 ngọn nến tiếp tục cháy). Cho trẻ thảo luận: Vì sao ngọn
nến tắt?
Kết luận: Cốc nến đang cháy là cốc được bịt bằng tờ giấy bạc đục lỗ, không khí
vẫn lọt vào được bên trong cốc. Cốc có nến bị tắt, bị bịt bằng tờ giấy bạc không
đục lỗ, không khí không lọt vào bên trong được nên cây nến sẽ bị tắt.
* Thí nghiệm 12: Vì sao nước trong cốc không chảy ra.
Mục đích: Nhận biết về không khí.
Chuẩn bị: Một nửa cốc nước và một tờ giấy.
20
Cách tiến hành: (Để trẻ dễ quan sát, cô tổ chức cho trẻ quan sát theo
nhóm). Cho trẻ quan sát một nửa cốc nước và tờ giấy cô đã chuẩn bị sẵn. Cô
dùng tờ giấy đặt lên miệng cốc và cho trẻ quan sát. Cô hỏi trẻ: Các con thấy điều
gì xảy ra? Trẻ trả lời: Nước không chảy ngoài. (Hình ảnh11)
hiện tượng xảy ra là bong bóng nổi lên từ miệng chai.( Hình ảnh12)
Cô hỏi trẻ: Con có nhận xét gì về hiện tựơng này?
Kết luận: Cái chai khi thả xuống chậu nước có hiện tượng bong bóng nổi
lên là vì không phải trong chai không có gì mà trong chai có chứa đầy không
khí. Vì vậy không khí không có mầu, không có mùi nên không thể nhìn thấy
được. Khi cho chai vào bể nước, nước chẩy vào trong chiếm chỗ trong chai nên
đẩy không khí ra ngoài thành tung bọt khí đi lên.
Hình ảnh 12: cô và trẻ tham gia thí nghiệm có gì trong chai không?
* Thí nghiệm 15: Ánh sáng và bóng tối.
Mục đích: Nhận biết được những vật được đặt trước ánh sáng sẽ tạo lên
hình bóng.
22
Chuẩn bị: Các đồ vật, đồ chơi có hình dạng, kích thước khác nhau trong
lớp học, đèn pin.
Cách tiến hành: Cho trẻ chọn vật trẻ thích trong lớp. Tắt đèn và kéo rèm
cửa để cho lớp học tối nhất. Cho trẻ ngồi phía trước bức tường bằng phẳng và
cầm những đồ vật yêu thích của mình giơ lên phía trước ánh sáng của đèn Pin.
Cô cho trẻ quan sát những hình bóng mà trẻ tạo ra.
Cô hỏi trẻ: Hình bóng có dạng hình gì? Nó to hay nó nhỏ? Điều gì sẽ xảy
ra khi các con di chuyển những đồ vật đó? Hình bóng có chuyển động theo
không? Điều gì sẽ xảy ra khi cô tắt đèn Pin? Hình bóng có còn ở nữa hay
không?
Kết luận: Những vật đặt trước ánh sáng sẽ tạo nên hình bóng, nếu ta di
chuyển đồ vật trước ánh sáng thí bóng của đồ vật sẽ di chuyển theo.
Với những thí nghiệm trên, trong quá trình thực hiện, tôi thấy trẻ rất thích
thú, phát triển khả năng tư duy cao, trẻ đã chủ động tự đặt ra các câu hỏi “ Tại
sao” trước mỗi hiện tượng xung quanh mà trẻ thấy lạ, từ đó trẻ thu nhận được
hát bài hát “Đàn gà trong sân”, trẻ vừa được tham gia múa hát vừa được khám
phá về gia đình nhà gà, mà trẻ rất thích thú.
Với bài dạy trẻ khám phá những “chú voi ngộ nghĩnh”, cô có thể gây hứng
thú cho trẻ bằng chương trình “Vui hội rừng xanh” -> Với tiếng loa, kèn trống
vang lên và cả những tiếng nhạc hát “ Chú voi con” xen kẽ, trẻ rất thích thú và
tự mình tham gia vào giờ học mà trẻ không biết là mình đang học.
Việc sử dụng thủ thuật gây hứng thú cho trẻ tham gia vào hoạt động dạy là
vô cùng cần thiết, bởi ngay từ đầu tiết học cô giáo phải luôn tạo không khí vui
tươi, phấn khởi và kích thích trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động, việc làm đó
tôi không chỉ sử dụng ở một tiết dạy mẫu, hay những giờ thanh tra kiểm tra mà
ngay cả những giờ học chỉ có cô và trò trong lớp nhưng tôi vẫn đặt giá trị dạy trẻ
cái gì, và dạy như thế nào để trẻ luôn tiếp thu được những kiến thức một cách tốt
nhất.
Ví dụ: Ở bài dạy “Khám phá một số loại rau xanh và tác dụng của rau xanh
với con người”, ngoài việc thu hút trẻ tham gia vào hoạt động với bài hát “ anh
nông dân và cây rau” tôi còn sử dụng bài vè về các loai rau để cho trẻ tham gia
vào hoạt động đạt hiệu quả hơn.
Để kích thích tính tò mò ham hiểu biết của trẻ, khi dạy trẻ “ khám phá một
số loại quả” trong chủ đề Thế giới thực vật, tôi còn sử dụng hệ thống câu đố về
các loại quả để thu hút trẻ tham gia khám phá như:
1. Câu đố về quả na:
Quả gì nhiều mắt
Khi chín nứt ra
Ruột trắng nõn nà
Hạt đen nhanh nhánh.
2. câu đố về quả bưởi:
Chân không đến đất
Cật chẳng đến trời
Lơ lửng giữa vời
Đeo một bị tép.
( Cho trẻ nói theo quan sát của trẻ). Gà mái đang làm gì cùng với gà con? ( Mổ
thóc). Những chú gà con có dễ thương không? Các cháu nhìn thấy gà con như
thế nào? Đố các con biết gà con và gà mẹ có liên hệ gì với nhau? Gà con và gà
mẹ có quan hệ như thế nào? (gà con là con của gà mẹ và gà mẹ là mẹ của gà con
-> mối quan hệ giữa gà mẹ và gà con). Gà có biết bay không? ( chỉ biết bay một
đoạn rất thấp và ngắn).
Cho trẻ so sánh sự giống và khác nhau giữa gà trống và gà mái. ( Khác nhau về
tiếng kêu, đẻ trứng, có cựa và không có cựa ...).Để thể hiện sự yêu quý với các
con gà chúng mình sẽ làm gì? ( Chăm sóc gà, cho gà ăn)
Cho trẻ vân động theo dáng đi của con gà. Cho trẻ di chuyển theo vòng tròn ...
Mở nhạc cho trẻ hát và vận động theo nhạc bài “Đàn gà trong sân” Khi trẻ hát
nhắc trẻ hát rõ lời của bài hát:
“ Gà chưa biết gáy là con gà con, gà mà gáy sáng là con gà cha ....”
“ Gà mà cục tác là mẹ gà con, gà mà cụ tác là vợ gà cha ...”
Sau đó cho trẻ đi tạo dáng của con gà và vận động minh họa theo lời bài hát tùy
theo cảm xúc của từng cá nhân trẻ. Cuối cùng cô gợi ý cho trẻ vẽ bức tranh “
Đàn gà”
25