Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân ở việt nam hiện nay - Pdf 52

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ HỒNG HẠNH

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ THÔNG
TIN CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

HÀ NỘI - 2018


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ HỒNG HẠNH

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ THÔNG
TIN CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Mã số: 62 38 01 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TƯỜNG DUY KIÊN

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN

28

THÔNG TIN CÁ NHÂN

2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật về bảo vệ thông tin
cá nhân
2.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về bảo vệ
thông tin cá nhân
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ
thông tin cá nhân
2.4. Pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về
bảo vệ thông tin cá nhân và những giá trị có thể tham khảo cho
Việt Nam
Chương 3: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ THÔNG TIN CÁ NHÂN Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY

3.1. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về bảo vệ
thông tin cá nhân ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử từ năm
1945 đến nay
3.2. Những thành tựu của pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân ở Việt
Nam hiện nay và nguyên nhân
3.3. Hạn chế của pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân ở Việt Nam
hiện nay và nguyên nhân
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

28
49
56
59


An toàn thông tin mạng

APEC

:

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương

APPI

:

Luật Bảo vệ thông tin cá nhân Nhật Bản

APPS

:

Các nguyên tắc về quyền riêng tư của Úc

BLDS

:

Bộ luật dân sự

BLHS

:


Cơ quan bảo vệ Dữ liệu Thuỵ Điển

ĐƯQT

:

Điều ước quốc tế

FTC

:

Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ

GDPR

:

Bộ luật bảo vệ dữ liệu chung của châu Âu

OECD

:

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

PDA

:

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
''Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa'' vừa là
nhiệm vụ, vừa là mục tiêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong giai đoạn hiện
nay [34, tr.171]. Để bảo đảm Nhà nước pháp quyền thực sự của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân thì pháp luật cần bảo đảm thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng và
quyền lực của dân, bảo vệ quyền con người (QCN), quyền công dân (QCD) trong
thực tiễn. Do đó, hoàn thiện pháp luật (HTPL) bảo vệ thông tin cá nhân (TTCN) là
một nhiệm vụ quan trọng trong công tác lập pháp.
Về mặt thực tiễn, bảo vệ TTCN ngày càng trở nên cấp bách trước những nhu
cầu ngày càng cao về sự riêng tư, nhu cầu được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của con người. Ngày nay, thông qua các phương tiện hiện đại như máy tính, điện
thoại thông minh, qua internet, mạng xã hội và nhiều ứng dụng khác, các TTCN của
con người có thể dễ dàng được thu thập, chia sẻ, sử dụng, quản lý như một tài sản
có giá trị đối với bản thân các chủ thể TTCN cũng như các doanh nghiệp, tổ chức,
cơ quan Nhà nước. Nhưng bên cạnh lợi ích mà những hoạt động đó mang lại, các
TTCN có thể bị khai thác vì những mục đích không đúng đắn, gây ảnh hưởng lớn
tới đời sống của mỗi cá nhân cũng như cộng đồng. Mặc dù an toàn thông tin và bảo
vệ TTCN được nhà nước coi trọng, song bảo vệ TTCN vẫn là vấn đề thực tiễn nóng
bỏng ở Việt Nam hiện nay. Báo cáo An toàn Thông tin mạng 2015 cho biết: "Cuối
tháng 5/2015, khoảng 1.000 trang web của Việt Nam bị tấn công thay đổi giao diện
hoặc tải tệp tin trái phép, trong đó có 10 trang web của cơ quan nhà nước với tên
miền ".gov.vn". Trung tuần tháng 3/2015, hơn 50.000 tài khoản của người sử dụng
dịch vụ của một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông lớn bị công khai trên
một số trang mạng. Nhóm tin tặc với tên gọi DIE Group đã tiến hành khai thác lỗ
hổng của môđun tra cứu thông tin khách hàng trên một máy chủ cũ để tấn công và
lấy trộm thông tin. Trong năm, hệ thống thông tin của nhiều cơ quan, tổ chức và
doanh nghiệp bị tấn công mạng; lây nhiễm phần mềm độc hại, mạng botnet; tồn tại
các điểm yếu, lỗ hổng có nguy cơ mất an toàn thông tin cao" [22]. Cũng theo Báo
cáo An toàn thông tin mạng 2015, cho thấy ở Việt Nam đang tồn tại nguy cơ mất an

pháp, dẫn đến tình trạng khó khăn khi thực hiện pháp luật. Việt Nam là thành viên
của nhiều cam kết quốc tế và khu vực về QCN, trong đó có những cam kết liên quan
đến bảo vệ TTCN cần tiếp tục được nội luật hoá vào pháp luật quốc gia. Việc thiếu
những quy định của pháp luật trong việc bảo vệ TTCN sẽ làm giảm tính hiệu quả
của việc thúc đẩy, bảo vệ QCN trong thực tiễn ở Việt Nam.
Trước những vấn đề bức thiết về mặt lý luận và thực tiễn nêu trên, cho thấy thấy
viẹ c triển khai nghiên cứu các thực trạng, đề xuất quan điểm giải pháp hoàn thiẹ n pháp
luật về bảo vệ TTCN mang tính thời sự, cấp bách. Những quy định của pháp luật một
mặt phải bảo vệ TTCN của con người song mặt khác phải đáp ứng được sự đòi hỏi của
quản lý của Nhà nước nhằm phục vụ lợi ích công cộng, bảo đảm an ninh quốc gia, bảo
đảm trật tự an toàn xã hội; phục vụ công cuộc xây dựng chính


3

phủ điện tử, phòng chống tham nhũng, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế của đất
nước, đặc biệt là trong sự phát triển của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 hiện nay.
Trong thời gian qua, ở Việt Nam, mặc dù đã có một số công trình khoa học
nghiên cứu về TTCN, bảo vệ TTCN, song chưa có một công trình nào nghiên cứu
một cách toàn diện, có hệ thống và trực tiếp HTPL về bảo vệ TTCN. Chính vì vậy,
Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài nghiên cứu Luận án với nội dung: "Hoàn thiện
pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân ở Việt Nam hiện nay" với mong muốn
đóng góp một phần nhỏ cho việc giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn trong
việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, hướng tới mục tiêu bảo đảm và thúc đẩy QCN ở
Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích

Mục đích của Luận án là phân tích làm rõ cơ sở lý luận của việc HTPL về
bảo vệ TTCN, phân tích đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ TTCN ở Việt Nam,

có sử dụng số liệu, tài liệu thực tế ở Việt Nam và số liệu, tài liệu nước ngoài để so
sánh, đối chiếu.
- Nội dung nghiên cứu: Luận án nghiên cứu việc bảo vệ những thông tin
thuộc về cá nhân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, không nghiên cứu các
thông tin riêng của tổ chức, bí mật quốc gia, bí mật nhà nước. Bảo vệ TTCN mà
luận án nghiên cứu chủ yếu trong pháp luật nội dung mà không nghiên cứu sâu pháp
luật tố tụng, chỉ để cập khái quát đến 3 văn bản pháp luật là Bộ luật Tố tụng Hình
sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính.
- Thời gian nghiên cứu: Thời điểm nghiên cứu của luận án bắt đầu từ năm
1946 đến nay, tức là từ thời điểm có bản Hiến pháp đầu tiên cho đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước và
pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực thi dân chủ, bảo đảm QCN, QCD.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của triết học Mác Lê- nin để nghiên cứu
các nội dung trong đề tài, chủ yếu là phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn, phân
tích và tổng hợp, lịch sử và lôgic. Bên cạnh đó, luận án sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể của các khoa học chuyên ngành như: phương pháp hệ thống,
phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia, toạ đàm.
Các phương pháp trên được vận dụng đồng bộ, có sự kết hợp và độc lập
tương đối. Các phu o ng pháp đu ợc sử dụng nhằm làm rõ nọ i dung co bản của đề
tài, đảm bảo tính khoa học và logic giữa các vấn đề của đề tài trong các
chu o ng.
Do tính chất của từng chu o ng, từng phần nên trong mỗi chu o ng, mỗi
nọ i dung nghiên cứu của đề tài sẽ sử dụng mọ

t trong các phu o ng pháp trên

kết luận, đề xuất của luận án. Đề tài luận án gần đây thu hút sự quan tâm của nhiều
nhà nghiên cứu, một số hội thảo khoa học đã được tổ chức. Nghiên cứu sinh đã tích
cực tham gia và thảo luận tại các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học về vấn đề này để
được trao đổi quan điểm, thu thập thông tin liên quan đến đề tài luận án.
5. Những đóng góp mới của luận án
Đây là công trình khoa học nghiên cứu vấn đề pháp luật về bảo vệ TTCN ở
Việt Nam một cách toàn diện và có hệ thống. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có
một số đóng góp mới về mặt khoa học như sau:


6

Thứ nhất, công trình nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề lý luận về
pháp luật về bảo vệ TTCN ở Việt Nam, luận án đã xây dựng khái niệm khoa học về
TTCN, bảo vệ TTCN, pháp luật về bảo vệ TTCN, HTPL về bảo vệ TTCN ở Việt Nam
và phân tích nội hàm các khái niệm này.
Thứ hai, luận án chỉ ra và phân tích những đặc điểm, nội dung, vai trò, tiêu
chí và các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện của pháp luật về bảo vệ TTCN.
Luận án khái quát hóa một số quy định pháp luật mang tính điển hình của quốc tế và
một số quốc gia, đồng thời chỉ ra những kinh nghiệm có thể vận dụng ở Việt Nam.
Thứ ba, luận án đánh giá tổng quát thực trạng các quy định pháp luật ở Việt
Nam hiện nay về bảo vệ TTCN, nêu lên những thành tựu cũng như phát hiện và chỉ
ra những bất cập còn tồn tại, chưa tương thích trong những quy định của pháp luật
về bảo vệ TTCN và chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng.
Thứ tư, luận án đã xây dựng các quan điểm và đề xuất các giải pháp mang
tính toàn diện HTPL về bảo vệ TTCN, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực thi
pháp luật về bảo vệ TTCN, bảo đảm quyền riêng tư của con người. Những giải pháp
này có tính mới, có cơ sở khoa học, góp phần giải quyết những bất cập trong thực
tiễn về bảo vệ TTCN ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học của luận án

một số ít các luận án, luận văn, sách, thì các công trình chủ yếu trong lĩnh vực này là
các bài báo, tạp chí mà chưa có đề tài khoa học tầm cỡ nào quan tâm nghiên cứu.
1.1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu bảo vệ thông tin cá nhân
Luận văn Thạc sĩ của Vũ Anh Tuấn, Bảo mật và an toàn thông tin trong
thương mại điện tử [105], là một nghiên cứu chuyên ngành công nghệ thông tin
(CNTT). Tác giả đã khẳng định thương mại điện tử, nhất là đối với các giao dịch
mang tính nhạy cảm cần phải có những cơ chế đảm bảo bảo mật và an toàn. Thành
công của luận văn chính là việc có thể áp dụng các kết quả nghiên cứu để xây dựng
các kỹ thuật bảo mật và an toàn trong thương mại điện tử với một số tính năng cơ
bản như: hệ thống chứng thực, các cơ chế phân bố khoá tự động, mã hoá các thông
tin, kỹ thuật ngăn ngừa các rủi ro trong thương mại điện tử. Đây là một gợi ý cho
nghiên cứu sinh về phương thức bảo vệ TTCN dựa trên công nghệ.
Bài nghiên cứu của Bùi Thanh Liêm, ''Bảo vệ TTCN trên mạng: Vấn đề không
thể xem nhẹ'' [49, tr.20-21, 27]. Trong bài viết này tác giả đã chỉ rõ thực trạng người
dùng còn xem nhẹ việc bảo vệ TTCN trên mạng. Tác giả nêu lên qua việc khảo sát các
trang mạng xã hội như Facebook, Voutube, Twitter, Zing Me, Tamtay.vn, website
thương mại điện tử hay các trang rao vặt... và các trang blog cá nhân thì người dùng sẽ
dễ dàng để lộ các TTCN. Theo tác giả: thói quen và sự vô tư của người sử dụng có thể
khiến họ dễ dàng bị vi phạm về TTCN. Tác giả cũng đã chỉ ra các cơ sở pháp lý để bảo
vệ người tiêu dùng trên mạng qua việc phân tích các văn bản pháp luật và chỉ ra một số
"mẹo" để người dùng có thể tự bảo vệ TTCN của mình một cách an toàn.

Bài nghiên cứu của Hà Nguyên, ''Quyền riêng tư và được bảo mật thông tin
của bệnh nhân'' [53]. Bài viết khẳng định nếu bệnh nhân không được đảm bảo
những quyền đó thì họ sẽ e ngại thông báo cho thầy thuốc những thông tin có tính
riêng tư mà lại có giá trị chẩn đoán và chữa trị cho bệnh nhân. Khi nền Y học phát


9


nghiên cứu cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bí mật DLCN ở Việt Nam có so sánh,
đối chiếu và học tập kinh nghiệm từ các quốc gia và khu vực tiến bộ trên thế giới
trong lĩnh vực này.
Cuốn sách Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư ở Việt Nam và một số
quốc gia của Thái Thị Tuyết Dung [25]. Cuốn sách đã đưa ra khái niệm quyền riêng
tư và nội dung của nó, đồng thời cũng nêu lên lịch sử hình thành của khái niệm này.
Tác giả đã đưa ra nhiều quan điểm về quyền riêng tư và đã khẳng định khái niệm
này đã ra đời và phát triển từ trước khi nó chính thức được công nhận là một quyền
cơ bản trong các ĐƯQT. Điểm nổi bật của cuốn sách là đã kể ra các văn bản quốc tế
và các mô hình bảo vệ quyền riêng tư trên thế giới. Tác giả cũng đưa ra nhận xét
rằng: cho đến nay ở Việt Nam quyền riêng tư của công dân vẫn là một chế định luật
tương đối non trẻ và đang trong quá trình bổ sung, hoàn thiện. Tác giả cũng đề cập


11

đến quyền riêng tư trong mối quan hệ với quyền tiếp cận thông tin, cơ chế bảo mật
trên internet... Cuốn sách đã mang đến những nội dung cơ bản về mặt lý luận, bước
đầu đặt ra những nội dung cơ bản cho việc nghiên cứu vấn đề bảo vệ TTCN.
Luận án của Lê Đình Nghị, Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật
Dân sự Việt Nam [51]. Tác giả đã khái quát quá trình phát triển trong quy định của
pháp luật Việt Nam về quyền bí mật đời tư. Tác giả phân tích các khái niệm cụ thể
như bí mật, đời tư, bí mật đời tư, quyền bí mật đời tư. Luận án đã phân tích so sánh
dựa trên cơ sở đối chiếu với pháp luật của một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra
giải pháp HTPL quyền bí mật đời tư trong hệ thống các quyền nhân thân ở Việt
Nam. Công trình này chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu sâu về quyền bảo vệ bí mật đời
tư trong một ngành luật đó là luật Dân sự.
Luận văn của Võ Tuấn Anh, Bí mật đời tư, lý luận và thực tiễn [3]. Với kết
quả nghiên cứu của Luận văn, tác giả đã góp phần giúp hiểu rõ hơn thế nào là bí mật
đời tư, mức độ bảo vệ bí mật đời tư của nhà nước đối với cá nhân, tổ chức đến đâu

chóng trên mạng, hệ thống thông tin tạo nền tảng cho hầu hết các hoạt động chính
trị, kinh tế, xã hội. Luận văn nêu một số vấn đề lý luận của pháp luạ t về bảo vệ
TTCN của ngu ời tiêu dùng trong thu o ng mại điẹ n tử như khái niệm TTCN, khái
niệm bảo vệ TTC của người tiêu dùng. Thông qua việc tìm hiểu thực trạng pháp luạ
t Viẹ t Nam về bảo vẹ TTCN của người tiêu dùng trong thu o ng mại điẹ n tử tác giả
cho rằng quyền này hiẹ n nay đang bị xâm phạm nghiêm trọng mà nguyên nhân là
từ phía các tổ chức, cá nhân kinh doanh, sự buông lỏng, chu a sát sao của các co
quan quản lý nhà nu ớc, nhu ng nguyên nhân chủ yếu là do không phải người tiêu
dùng nào cũng hiểu rõ về quyền đu ợc bảo vệ TTCN của mình. Từ đó, tác giả đề ra
một số giải pháp hoàn thiẹ n pháp luạ t và nâng
cao hiẹ u quả thực thi pháp luạ t về bảo vẹ TTCN của ngu ời tiêu dùng trong thu o
ng mại điẹ n tử ở Viẹ t Nam.
Bài nghiên cứu của Trần Văn Biên, ''Pháp luật về vấn đề bảo vệ TTCN trên
mạng internet'' [10, tr.45-51]. Tác giả đã chỉ rõ nguy cơ TTCN bị xâm phạm trên
môi trường mạng với các hành vi vi phạm phổ biến khác nhau. Trong giao dịch điện
tử, sự e ngại lớn nhất là bị mất các thông tin liên quan đến tài khoản cá nhân hoặc
các thông tin về giao dịch sử dụng thẻ trong quá trình diễn ra giao dịch. Đặc biệt tác
giả còn lưu ý đến việc phát tán TTCN về bí mật đời tư. Với tính chất là một bài viết
chuyên ngành luật học, tác giả đã có thành công lớn trong việc hệ thống lại các quy
định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ TTCN trên môi trường internet và chỉ ra cần
phải thực hiện tốt pháp luật để bảo đảm các giao dịch điện tử diễn ra.
Bài nghiên cứu của Nguyễn Huy Dũng, ''Pháp luật của Việt Nam và các nước
trên thế giới về bảo vệ TTCN'' [27, tr.24-29]. Thành công lớn nhất của bài viết là đã đưa
ra tổng quan các văn bản pháp lý hiện hành của Việt Nam. Tác giả đã khẳng định "Bảo
vệ TTCN" là một trong những quyền cơ bản của con người. Tác giả đã khái quát hoá
nội dung bảo vệ TTCN của pháp luật Việt Nam trong các lĩnh vực cụ thể như dân sự,
bảo vệ người tiêu dùng, giao dịch điện tử, viễn thông, CNTT. Trong nội dung kinh
nghiệm nước ngoài, tác giả đã điểm đến khá nhiều quốc gia nổi bật như:



đời tư của công dân.
Bài nghiên cứu của Đinh Thị Lan Anh, ''Bảo vệ TTCN trong thương mại điện
tử theo pháp luật Việt Nam'' [2, tr.29-33]. Trong bài viết này tác giả cho rằng TTCN
đã và đang trở thành thứ hàng hoá mang lại giá trị lợi nhuận cho doanh nghiệp, vì
vậy TTCN có thể bị mất an toàn dưới nhiều hình thức tấn công mạng và cũng sẵn
sàng có các doanh nghiệp vì lợi nhuận mà tiết lộ thông tin của khách hàng.


14

Tác giả cũng phân tích một cách khá đầy đủ và chi tiết các văn bản pháp luật có liên
quan đến việc bảo vệ TTCN trong Thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam và chỉ
rõ điểm còn hạn chế bất cập trong pháp luật về bảo vệ TTCN trong thương mại điện tử.
Sự gợi ý của tác giả về những giải pháp để bảo đảm tốt hơn việc bảo vệ TTCN trong
thương mại điện tử cũng là một hướng tiếp tục có thể nghiên cứu trong Luận án.
Bài nghiên cứu của Lê Văn Sua, "Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp
luật dân sự: Cần được hướng dẫn" [89]. Tác giả nhận định cho đến nay, pháp luật nước
ta vẫn chưa có quy định rõ ràng về "bí mật đời tư" là gì, phạm vi của "bí mật đời tư"
như thế nào, mà chỉ có một số quy định về vấn đề này trong Hiến pháp 2013; BLDS
2005, Luật Giao dịch điện tử 2005, BLHS 1999. Trong bài viết tác giả đã phân tích một
số vụ án tiêu biểu liên quan đến quyền bí mật đời tư và đưa ra một số giải pháp để giải
quyết những khó khăn, bất cập trong việc thực hiện pháp luật dân dự liên quan đến lĩnh
vực này. Tác giả cũng nêu lên phạm vi những thông tin thuộc về "bí mật đời tư" của
mỗi cá nhân: có phải mọi thông tin thuộc về cá nhân mà cá nhân muốn giữ bí mật sẽ trở
thành "bí mật đời tư" và được pháp luật bảo vệ. Theo tác giả cần linh động trong việc
xác định thông tin nào được cho là "bí mật đời tư".

Bài nghiên cứu của Hồng Phương, ''Quy định pháp luật về việc bảo vệ
TTCN'' [58, tr.33-35]. Tác giả nhận định, thông tin trên mạng giờ đây là tài sản có
giá trị đặc biệt của mỗi cá nhân, tổ chức và thậm chí cả quốc gia. Tác giả khẳng

thực tiễn pháp luật của các quốc gia trên thế giới tác giả đã nêu lên những kinh
nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam.
Bài nghiên cứu của Vũ Công Giao, Phạm Thị Hậu, ''Pháp luật bảo vệ quyền
bí mật DLCN trên thế giới và Việt Nam'' [37, tr.67]. Bên cạnh việc phân tích và làm
rõ khái niệm dữ liệu, DLCN và bí mật cá nhân bài viết đã nêu lên quyền bảo vệ bí
mật DLCN trong luật nhân quyền quốc tế và bước đầu rà soát những quy định về
quyền bảo vệ bí mật DLCN trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Bài viết đưa ra
những gợi mở, kiến nghị để HTPL về quyền bảo vệ bí mật DLCN của Việt Nam đó
là xây dựng đạo luật riêng về bảo vệ bí mật DLCN và HTPL chuyên ngành về bảo
vệ bí mật cá nhân.
Bài nghiên cứu của Phùng Trung Tập, ''Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá
nhân, bí mật gia đình'' [92, tr.22-24]. Trong bài viết này, tác giả cho rằng cá nhân
với tư cách chủ thể độc lập trong quan hệ xã hội, quan hệ dân sự, kinh tế, lao động,
thương mại và các quan hệ khác trong phạm vi thời gian và không gian nhất định.
Tác giả đã đưa ra cách hiểu của cá nhân về đời sống riêng tư của cá nhân, bí mật cá
nhân, bí mật gia đình, quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình
bất khả xâm phạm. Tác giả cũng nhận định quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá
nhân, bí mật gia đình không những được ghi nhận trong các CƯQT về QCN, mà
mỗi quốc gia thành viên đều phải tuân thủ thực hiện những nguyên tắc cơ bản trong
việc bảo vệ QCN tại quốc gia thành viên. Tác giả cho rằng cần thiết phải quy định
các khái niệm đời sống riêng tư của cá nhân, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, quyền
về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình cần phải được quy định cụ
thể trong pháp luật Việt Nam, tạo điều kiện cho việc bảo đảm các QCN được thực


16

hiện trong thực tiễn.
Bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Vân, ''Bảo vệ DLCN trong bối cảnh
cách mạng công nghiệp 4.0'' [109, tr.6-9]. Tác giả đã nhận định: Ở Việt Nam, chế

ngại này đang làm chậm sự mở rộng thương mại điện tử, do vậy đặt ra nguy cơ đối
với tương lai tăng trưởng của nền kinh tế mới. Cuốn sách giải thích rằng không có


17

bằng chứng về tác động có hại đối với khách hàng thực sự hay sự thất bại của thị
trường mà có thể biện minh cho việc điều tiết quá mức của chính phủ đối với sự
riêng tư trên mạng.
Cuốn sách Personal Information Management (Quản lí TTCN) của William
Jones, Jaime Teevan [162]. Các tác giả đưa ra quan điểm về thông tin và quản lý
TTCN trong cuốn sách này đồng thời đưa ra các khái niệm liên quan đến quản lý
TTCN và cụ thể hoá nội dung của nó, chẳng hạn: Quản lý TTCN (PIM). Cuốn sách
đã nêu lên các dạng thức của TTCN nằm trong các tài liệu điện tử, thư điện tử, giấy
tờ, ảnh kỹ thuật số, âm nhạc, video, tin nhắn… Trong báo cáo tổng hợp của mình tác
giả đã tóm tắt các phán quyết của các tòa án Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu.
Các bản án kéo dài trong thời gian hơn 15 năm, từ các quyết định đầu tiên vào năm
2000 thông đến năm 2015. Bản tóm tắt được sắp xếp theo từng trường hợp (theo
trình tự thời gian của số hồ sơ) và theo chủ đề. Cùng với việc tóm tắt sơ bộ các phán
quyết của Toà án châu Âu liên quan đến bảo vệ dữ liệu và có dẫn chiếu đến các
quốc gia cụ thể như Áo, Thuỵ Điển, Đức, Tây Ban Nha, Hà Lan, Ireland, tác giả đã
đưa ra các định nghĩa về DLCN, xử lý dữ liệu, DLCN nhạy cảm, chuyển giao dữ
liệu đến nước thứ ba, cân bằng quyền cơ bản đã được đề cập và so sánh, đối chiếu ở
các quốc gia khác nhau [143].
Cuốn sách Understanding Privacy (Hiểu về quyền riêng tư) của Daniel J.
Solove [124]. Cuốn sách đã đưa ra những nội dung cơ bản nhất về quyền riêng
tưtrong đó có khái niệm về quyền riêng tư. Tác giả phân tích cho người đọc cách
hiểu như thế nào là một hành vi vi phạm quyền riêng tư hoặc những hành động dễ
dẫn đến xâm phạm quyền riêng tư. Tác giả cũng đề cập đến sự phát triển vượt bậc
của CNTT và mối quan tâm ngày càng tăng của con người đối với việc bảo vệ

Conflicts'' (Quyền thông tin và quyền riêng tư: cân đối quyền và quản lí xung đột) của
David Banisar [125]. Bài viết cho rằng quyền riêng tư và quyền thông tin đều là những
QCN quan trọng trong xã hội thông tin hiện đại. Đối với hầu hết mọi người, hai quyền
này bổ trợ cho nhau trong việc đòi hỏi cách chính phủ phải có trách nhiệm với các cá
nhân. Tuy nhiên có xung đột tiềm tàng giữa các quyền ở chỗ có nhu cầu tiếp cận TTCN
từ phía các cơ quan chính phủ, khi hai quyền chồng chéo thì nhà nước cần phát triển
các cơ chế xác định vấn đề cốt lõi để hạn chế xung đột và cân đối quyền. Bài viết xem
xét các biện pháp mang tính cấu trúc và lập pháp để xác định tốt hơn và cân đối quyền
riêng tư và quyền thông tin. Cuốn sách đã đưa ra định nghĩa về: quyền thông tin; quyền
riêng tư đồng thời giải quyết mối quan hệ của hai quyền này. Bằng phương pháp nghiên
cứu tình huống ở một số quốc gia như: Ireland, Mexico, Slovenia, Anh tác giả đã làm rõ
những vấn đề liên quan đến quyền riêng tư và quyền thông tin.

Bài viết ''Property, Privacy, and Personal Data'' (Tài sản, sự riêng tư và
DLCN) của Paul M. Schwartz [147, tr.2056-2128]. Bài viết đã khẳng định vai trò
của công nghệ, máy tính hiện đại và mạng quốc tế đã tạo nên khả năng tập hợp,
truyền tải và chia sẻ lượng dữ liệu khổng lồ. Khả năng này tạo nên sự bùng nổ việc
buôn bán DLCN. Tác giả cũng đưa ra những những luận điểm ủng hộ và phản đối
thị trường mua bán DLCN, và kết luận rằng khi các quan điểm tự do chuyển nhượng
là không đủ để biện minh cho việc mua bán DLCN không có sự quản lý, những mối
lo ngại về sự thất bại của thị trường và mối quan tâm của cộng đồng đối với "những
cái chung mang tính chất riêng tư" được bảo vệ cũng chưa đủ để biện


19

minh cho việc cấm buôn bán.
Bài viết ''Personal Health Information Management: Consumers’ Perspectives''
(Quản lí thông tin sức khoẻ cá nhân: triển vọng của người tiêu dùng) của Andrea
Civan1, Meredith M. Skeels1, Anna Stolyar1, Wanda Pratt [115]. Bài viết đề cập đến




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status