HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ HỒNG HẠNH
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
THÔNG TIN CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
HÀ NỘI - 2018
MỤC LỤC
Trang
1
MỞ ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ
BẢO VỆ THÔNG TIN CÁ NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN
TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. Khái lược các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án
1.2. Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và
những vấn đề tiếp tục được nghiên cứu trong luận án
1.3. Giải thuyết và câu hỏi nghiên cứu
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
THÔNG TIN CÁ NHÂN
2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật về bảo vệ thông tin
82
3.3. Hạn chế của pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân ở Việt Nam
hiện nay và nguyên nhân
107
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
126
BẢO VỆ THÔNG TIN CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM
4.1. Các quan điểm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân ở
Việt Nam
126
4.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân ở
Việt Nam
131
KẾT LUẬN
151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
153
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
154
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANM
:
An ninh mạng
ATTTM
:
Bộ luật hình sự
BLTTDS
:
Bộ luật tố tụng dân sự
BLTTHS
:
Bộ luật tố tụng hình sự
CƯQT
:
Công ước quốc tế
CNTT
:
Công nghệ thông tin
DPA
:
Đạo luật Dữ liệu cá nhân Thuỵ Điển
PPC
:
Cơ quan bảo vệ Thông tin cá nhân Nhật Bản
QCD
:
Quyền công dân
QCN
:
Quyền con người
TTCN
:
Thông tin cá nhân
1
cáo An toàn thông tin mạng 2015, cho thấy ở Việt Nam đang tồn tại nguy cơ mất an
toàn, nguy cơ bị lừa đảo trên mạng xã hội; nguy cơ bị giả mạo tổ chức, cá nhân trên
mạng xã hội như giả mạo thư điện tử, giả mạo tài khoản mạng xã hội, mạo danh các
đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước để phát tán thông tin tuyên truyền chống phá
2
Đảng, Nhà nước; nguy cơ lây nhiễm phần mềm độc hại trên mạng xã hội. Liên
minh Viễn thông quốc tế (ITU) đã công bố Báo cáo Chỉ số an toàn thông tin mạng
toàn cầu (Global Cybersecurity Index - GCI) của Việt Nam năm 2014 là 76/193
quốc gia, đến năm 2017, Việt Nam xếp hạng 100/193 quốc gia. Việc bị tụt 24 bậc
về Chỉ số an toàn thông tin mạng đã thể hiện phần nào tình trạng mất an toàn thông
tin, trong đó có TTCN ở nước ta hiện nay.
Về mặt lý luận, pháp luật về bảo vệ TTCN ở Việt Nam hiện nay vẫn còn
nhiều khoảng trống, chưa thực sự đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn. Từ bản
Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp 2013, Nhà nước ta luôn ghi nhận việc
bảo vệ đời sống riêng tư. Hiến pháp 2013 đã mở rộng một cách toàn diện phạm vi
của quyền riêng tư, trong đó có bảo vệ TTCN tại Điều 21, 22. Thể chế hoá tinh thần
của Hiến pháp, các Bộ luật như: Bộ luật Dân sự (BLDS), Bộ luật Hình sự (BLHS),
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) và các văn
bản khác có liên quan đã bước đầu được sửa đổi, bổ sung. Đây là cơ sở quan trọng
cho việc xây dựng và HTPL về bảo vệ TTCN. Mặc dù vậy, các văn bản pháp luật
quy định về vấn đề này còn nhiều bất cập như: chưa quy định thống nhất khái niệm
về TTCN, chưa quy định đầy đủ các nguyên tắc bảo vệ TTCN, chưa quy định đầy
đủ giới hạn bảo vệ TTCN, chưa quy định chi tiết trình tự, thủ tục và cơ quan bảo vệ
TTCN một cách hiệu quả, nhiều hành vi liên quan tới việc bảo vệ TTCN chưa được
quy định trong pháp luật, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong bảo vệ TTCN
vẫn chưa thực sự được quy định rõ ràng. Mặt khác, các quy định pháp luật về bảo
vệ TTCN còn nằm rải trong các luật chuyên ngành và nhiều văn bản dưới luật,
từ đó đề xuất và luận chứng những quan điểm, giải pháp HTPL về bảo vệ TTCN ở
Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
Một là, phân tích và đưa ra các khái niệm TTCN, bảo vệ TTCN, pháp luật về
bảo vệ TTCN, HTPL về bảo vệ TTCN; làm rõ những đặc điểm, vai trò và nội dung
của pháp luật về bảo vệ TTCN; nghiên cứu các tiêu chí để xác định mức độ hoàn
thiện của pháp luật; các yếu tố ảnh hưởng đến việc HTPL về bảo vệ TTCN ở Việt
Nam. Luận án nghiên cứu pháp luật về bảo vệ TTCN ở một số nước trên thế giới và
rút ra những giá trị có thể tham khảo đối với Việt Nam.
Hai là, nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật bảo vệ TTCN
trên co
sở đó chỉ ra đu ợc những u u điểm cần phát huy và những hạn chế cần
khắc phục và nguyên nhân của thực trạng này.
Ba là, xây dựng nhận thức chung về bảo vệ TTCN và đề xuất các quan điểm
và giải pháp HTPL về bảo vệ TTCN ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tu ợng nghiên cứu của luạ n án là những vấn đề lý luạ n và thực tiễn
của pháp luạ t về bảo vệ TTCN ở Viẹ t Nam hiẹ n nay dưới góc độ lý luận và
lịch sử về Nhà nước và pháp luật.
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Luận án nghiên cứu việc bảo vệ TTCN tại Việt Nam,
có sử dụng số liệu, tài liệu thực tế ở Việt Nam và số liệu, tài liệu nước ngoài để so
sánh, đối chiếu.
Phu o ng pháp phân tích tài liẹ u cũng được sử dụng triệt để trong
5
Chương 1 để phân tích cả tài liẹ u so
cấp và tài liẹ u thứ cấp. Tài liẹ u so
cấp
bao gồm các va n bản pháp luạ t và Va n kiẹ n của Đảng có liên quan, các vụ
viẹ c, các số liẹ u thống kê chính thức của co
quan nhà nu ớc có thẩm quyền.
Tài liẹ u thứ cấp bao gồm đề tài nghiên cứu, sách, các bài báo, tạp chí, kết luạ n
phân tích đã đu ợc các tác giả trong nước và nước ngoài thực hiện thực hiẹ n.
Phu o ng pháp phân tích tổng hợp đu ợc sử dụng trong Chương 2, 3 và 4
để tổng hợp các số liẹ u, tri thức nhằm mục đích để làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá
thực trạng, đu a ra những luạ n giải, nhạ n xét và đề xuất về quan điểm giải pháp
của HTPL về bảo vệ TTCN ở Việt Nam hiện nay.
Phu o ng pháp luạ t học so sánh được sử dụng trong Chương 1 để làm rõ
tình hình nghiên cứu, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Phương pháp
này tiếp tục được tác giả sử dụng ở Chương 2 để so sánh pháp luật về bảo vệ TTCN
của một số nước trên thế giới từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm có thể áp dụng
được cho Việt Nam.
Phương pháp lịch sử áp dụng trong Chương 3 để tái hiện lại sự quá trình
phát triển của hệ thống pháp luật một cách trung thực.
Phương pháp logic cũng được sử dụng trong Chương 3 để nhận rõ sự phát
Thứ tư, luận án đã xây dựng các quan điểm và đề xuất các giải pháp mang
tính toàn diện HTPL về bảo vệ TTCN, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực
thi pháp luật về bảo vệ TTCN, bảo đảm quyền riêng tư của con người. Những giải
pháp này có tính mới, có cơ sở khoa học, góp phần giải quyết những bất cập trong
thực tiễn về bảo vệ TTCN ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học của luận án
6.1. Về mặt lý luận
Luận án góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận của pháp luật
về bảo vệ TTCN. Những nghiên cứu, đề xuất của luận án góp phần vào việc hoàn
thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ TTCN cũng như cơ chế bảo đảm thực thi
pháp luật về bảo vệ TTCN ở Việt Nam.
6.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo có giá trị trong công tác
nghiên cứu lập pháp cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về về bảo vệ TTCN ở
Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu của Luận án có thể được sử dụng làm tài
liệu nghiên cứu, giảng dạy tại những cơ sở đào tạo pháp luật.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận
án gồm có 4 chương, 12 tiết.
7
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
THÔNG TIN CÁ NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. KHÁI LƯỢC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ
9
triển, những loại bệnh xã hội, như bệnh lây nhiễm qua đường sinh hoạt tình dục,
mang trong đó cả đạo đức, nhân phẩm của bệnh nhân trong quan hệ xã hội; các loại
bệnh tâm thần, tâm lý, các căng thẳng từ mối quan hệ trong gia đình cộng đồng thì
thông tin càng mang đặc tính riêng tư cao. Trong thời đại CNTT đa truyền thông
tiến như vũ bão hiện nay, việc rò rỉ thông tin có tính cách riêng tư càng trở nên có
nguy cơ cao hơn bao giờ hết, tính riêng tư và bảo mật của bệnh nhân cũng nằm
trong mối nguy cơ đó. Tác giả cũng chỉ ra một số trường hợp ngoại lệ bác sĩ,
chuyên viên quản lý hồ sơ bệnh lý có thể cung cấp thông tin mà không cần giấy uỷ
quyền của đương sự. Bài viết này gợi mở cho luận án của nghiên cứu sinh về bảo vệ
TTCN của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội.
Bài nghiên cứu ''Các cơ hội kinh doanh trong nền kinh tế TTCN'' [56, tr.3334]. Đây là một bài viết được dịch từ tiếng nước ngoài và có sự đánh giá, nhận định
về các cơ hội kinh doanh trong nền kinh tế TTCN toàn cầu. Bài viết đưa ra khái
niệm: TTCN bao gồm các loại thông tin và dữ liệu khác nhau như nhận dạng số, các
mối quan hệ, sở thích, hành vi, sức khoẻ, dữ liệu tài chính cũng như các dữ liệu do
các tổ chức công cộng lưu giữ đồng thời gợi mở nhiều cơ hội kinh doanh liên quan
đến TTCN. Trước những cơ hội kinh doanh liên quan đến TTCN, đòi hỏi các chủ
thể kinh doanh phải xây dựng các dịch vụ và các nhu cầu kinh doanh dựa trên 3
thành phần chính: sự cho phép, minh bạch và chia sẻ giá trị. Bài viết đã mang đến
một cách nhìn nhận mới về TTCN, đó là nó có thể trở thành một sản phẩm thương
mại và đem lại lợi ích cho con người trong thời đại ngày nay, nếu chúng ta đảm bảo
được sự tôn trọng và không vi phạm các TTCN.
Bài nghiên cứu của Cao Xuân Quảng, "Bảo vệ TTCN trong các giao dịch
tiêu dùng" [59, tr.26-28]. Tác giả đã nêu: TTCN trong thời đại kỹ thuật số bao gồm
nhiều trường thông tin, trong đó đặc biệt quan trọng là các thông tin liên quan đến
tài chính, đến số định danh hoặc các TTCN khác. Những thiệt hại phát sinh từ việc
TTCN bị đánh cắp có quy mô rất lớn và ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều bên trong nền
Luận văn của Võ Tuấn Anh, Bí mật đời tư, lý luận và thực tiễn [3]. Với kết
quả nghiên cứu của Luận văn, tác giả đã góp phần giúp hiểu rõ hơn thế nào là bí
mật đời tư, mức độ bảo vệ bí mật đời tư của nhà nước đối với cá nhân, tổ chức đến
đâu để tránh tình trạng TTCN bị phơi bày cũng như tránh xúc phạm đến bí mật đời
tư của người khác. Luận văn phân tích những qui định cụ thể của pháp luật, tìm hiểu
về vấn đề QCN, chính sách của Đảng trong việc bảo vệ quyền nhân thân, quyền bí
mật đời tư. Tác giả cũng cho rằng, tuy là vấn đề cấp thiết của xã hội, và đã được ghi
nhận ở nhiều văn bản luật về quyền bí mật đời tư nhưng khái niệm chính xác thế
nào là bí mật đời tư vẫn còn bỏ ngỏ, gây khó khăn khi các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến bí
mật đời tư.
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Huyền Trang, Quyền được bảo vệ đời tư
trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam [101]. Theo tác giả, quyền được bảo
vệ đời tư (hay quyền về đời tư, quyền riêng tư - the right to privacy) là một QCN cơ
bản đã được quy định trong nhiều văn kiện pháp lý của Liên hợp quốc, của các khu
vực. Tác giả cũng nêu lên thực tiễn xâm phạm đời tư cá nhân đang là vấn đề nhức
nhối, có tính phổ biến ở Việt Nam, gây ra những tác động tiêu cực đến trật tự, an
toàn xã hội. Trong khi đó, quy định hiện hành về quyền được bảo vệ đời tư ở Việt
Nam còn nhiều hạn chế và bất cập, thiếu tính dự báo, bị lạc hậu so với sự phát triển
của đời sống xã hội, các quy định có nhiều điểm không tương thích, phần nhiều mới
chỉ dừng lại ở mức độ nguyên tắc, có rất ít các quy định cụ thể điều chỉnh quan hệ
pháp luật này. Theo tác giả, để khắc phục tình trạng này, nhà nước cần ban hành,
sửa đổi, bổ sung quy định về quyền được bảo vệ đời tư trong các văn bản pháp luật
12
hiện hành đảm bảo hợp hiến, hợp pháp, khả thi và thống nhất với các văn kiện quốc
tế có liên quan; cần tiến hành rà soát một cách chi tiết và có hệ thống các văn bản
trong hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về bảo vệ quyền riêng tư.
chuyên ngành luật học, tác giả đã có thành công lớn trong việc hệ thống lại các quy
định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ TTCN trên môi trường internet và chỉ ra cần
phải thực hiện tốt pháp luật để bảo đảm các giao dịch điện tử diễn ra.
Bài nghiên cứu của Nguyễn Huy Dũng, ''Pháp luật của Việt Nam và các
nước trên thế giới về bảo vệ TTCN'' [27, tr.24-29]. Thành công lớn nhất của bài viết
là đã đưa ra tổng quan các văn bản pháp lý hiện hành của Việt Nam. Tác giả đã
khẳng định "Bảo vệ TTCN" là một trong những quyền cơ bản của con người. Tác giả
đã khái quát hoá nội dung bảo vệ TTCN của pháp luật Việt Nam trong các lĩnh vực cụ
thể như dân sự, bảo vệ người tiêu dùng, giao dịch điện tử, viễn thông, CNTT. Trong
nội dung kinh nghiệm nước ngoài, tác giả đã điểm đến khá nhiều quốc gia nổi bật như:
13
Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Hồng Kông, Malaysia, Nhật Bản, Trung Quốc… Trong
bài viết này, tác giả còn bàn luận về những khái niệm cơ bản liên quan đến lĩnh vực
bảo vệ TTCN như: riêng tư, bảo mật, thông tin và DLCN.
Bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Tứ, Đinh Quang Ngọc, Võ Nguyên An:
''Thực trạng hành vi xâm phạm bí mật đời tư người khác của người trưởng thành trẻ
tuổi ở Thành phố Hồ Chí Minh'' [106, tr.33-36]. Đây là một bài viết có tính khảo
sát, đánh giá cao thông qua các phương pháp xã hội học. Bài viết đề cập đến thực
trạng các hành vi xâm phạm bí mật đời tư người khác của người trưởng thành trẻ
tuổi trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua kết quả khảo sát, các tác giả đã
khẳng định người thành niên trẻ tuổi cần nâng cao hơn nữa ý thức về bí mật đời tư,
giáo dục và tự giáo dục thái độ, nhu cầu, động cơ đúng đắn, rèn luyện thói quen
không xâm phạm bí mật đời tư người khác đồng thời pháp luật cần có những quy
định và chế tài cụ thể đối với lĩnh vực này. Qua nghiên cứu này, tác giả luận án có
thêm một góc nhìn mới về hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ TTCN từ góc độ
thực tiễn của đời sống xã hội.
Bài nghiên cứu của Đinh Tiến Dũng, ''Quyền riêng tư trong Hiến pháp 2013
việc bảo vệ QCN tại quốc gia thành viên. Tác giả cho rằng cần thiết phải quy định
các khái niệm đời sống riêng tư của cá nhân, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, quyền
về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình cần phải được quy định cụ
thể trong pháp luật Việt Nam, tạo điều kiện cho việc bảo đảm các QCN được thực
16
hiện trong thực tiễn.
Bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Vân, ''Bảo vệ DLCN trong bối cảnh
cách mạng công nghiệp 4.0'' [109, tr.6-9]. Tác giả đã nhận định: Ở Việt Nam, chế
định quyền riêng tư hay quyền bảo vệ TTCN đã được quy định tại nhiều văn bản
pháp luật. Tuy nhiên, các quy định này hiện nay phần lớn là các quy định về việc
bảo vệ quyền riêng tư trong đời sống nói chung, tức việc bảo vệ quyền này được
quy định theo một chế định chung không phân biệt là trong môi trường trực tuyến
(online) hay môi trường ngoại tuyến (offline). Gần đây, một số đạo luật chuyên
ngành mới có một số quy định, chủ yếu dưới dạng các nguyên tắc chung và chưa đủ
cụ thể, dành riêng cho việc bảo vệ TTCN trên internet hoặc môi trường số. Điều đó
cho thấy khung pháp lý của Việt Nam về vấn đề bảo vệ DLCN trong môi
trường internet và kỹ thuật số hiện nay còn rất mỏng, chưa có những quy định về
bảo vệ DLCN đối với những chủ thể ứng dụng/sử dụng công nghệ 4.0. Bài nghiên
cứu này đã cung cấp một lượng thông tin phong phú về bảo vệ DLCN trong nền
công nghiệp 4.0, đặt ra những đòi hỏi và suy nghĩ cho các nhà hoạch định chính
sách khi giải quyết những vấn đề thực tiễn liên quan tới QCN và sự phát triển của
cách mạng công nghiệp hiện đại.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới, những công trình nghiên cứu về quyền riêng tư và bảo vệ TTCN
có số lượng đồ sộ và nội dung phong phú và đi trước Việt Nam một thời gian dài.
Ngay từ năm 1890, với tác phẩm Quyền riêng tư -The rights to Privacy của Louis D
Brandeis và Warren, Samuel D. đã đề cập tới vấn đề này. Không chỉ với các nhà luật
các phán quyết của Toà án châu Âu liên quan đến bảo vệ dữ liệu và có dẫn chiếu
đến các quốc gia cụ thể như Áo, Thuỵ Điển, Đức, Tây Ban Nha, Hà Lan, Ireland,
tác giả đã đưa ra các định nghĩa về DLCN, xử lý dữ liệu, DLCN nhạy cảm, chuyển
giao dữ liệu đến nước thứ ba, cân bằng quyền cơ bản đã được đề cập và so sánh, đối
chiếu ở các quốc gia khác nhau [143].
Cuốn sách Understanding Privacy (Hiểu về quyền riêng tư) của Daniel J.
Solove [124]. Cuốn sách đã đưa ra những nội dung cơ bản nhất về quyền riêng
tưtrong đó có khái niệm về quyền riêng tư. Tác giả phân tích cho người đọc cách
hiểu như thế nào là một hành vi vi phạm quyền riêng tư hoặc những hành động dễ
dẫn đến xâm phạm quyền riêng tư. Tác giả cũng đề cập đến sự phát triển vượt bậc
của CNTT và mối quan tâm ngày càng tăng của con người đối với việc bảo vệ
quyền riêng tưcủa họ. Tác giả còn đưa ra những khía cạnh liên quan đến việc bảo vệ
quyền riêng tư từ góc độ bảo vệ các TTCN như: thu thập, xử lý, tiết lộ… TTCN.
Bài nghiên cứu ''The Right to Privacy'' (Quyền riêng tư) của Samuel D.
Warren; Louis D. Brandeis [157, pp.193-220]. Đây là một trong những ấn phẩm nổi
tiếng đầu tiên, là công trình kinh điển khi xem xét tới quyền riêng tư và bảo vệ
quyền riêng tư. Trong tác phẩm của mình, hai tác giả là Samuel D. Warren và Louis
D. Brandeis đã chính thức đề cập đến khái niệm này trong bài viết "The Right to
Privacy" (Quyền riêng tư) đã xác định quyền riêng tư là "quyền được ở một mình"
(The Right to be let alone). Các tác giả đã viết: mục đích của chúng tôi là xem xét
liệu luật hiện hành có quy định một nguyên tắc có thể được viện dẫn đúng cách để
18
bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân hay không; nếu có, bản chất và mức độ bảo vệ đó
là gì? Với khả năng ngày càng tăng của chính phủ, báo chí, và các cơ quan và tổ
chức khác để xâm chiếm các khía cạnh trước đây không thể tiếp cận của hoạt động
cá nhân, họ lập luận rằng luật phải phát triển để đáp ứng với thay đổi công
nghệ. Các lệnh cấm truyền thống chống xâm nhập, tấn công, phỉ báng và các hành
19
minh cho việc cấm buôn bán.
Bài viết ''Personal Health Information Management: Consumers’ Perspectives''
(Quản lí thông tin sức khoẻ cá nhân: triển vọng của người tiêu dùng) của Andrea
Civan1, Meredith M. Skeels1, Anna Stolyar1, Wanda Pratt [115]. Bài viết đề cập đến
việc quản lý thông tin sức khoẻ của cá nhân thông qua khảo sát dữ liệu dựa trên
người lớn tại trường Đại học Whasington. Chúng bao gồm kiểm soát cá nhân, chia sẻ,
tích hợp, bảo mật và linh hoạt. Thông qua cuộc khảo sát, các tác giả cho rằng những
phát hiện của họ cung cấp những hiểu biết mới về những ý tưởng mới nổi trong
nghiên cứu và thiết kế CNTT sức khỏe người tiêu dùng. Theo các tác giả việc quản lí
thông tin sức khoẻ cá nhân (PHIM) liên quan đến các hoạt động hỗ trợ việc người
tiêu dùng truy cập, tham gia, tổ chức và sử dụng thông tin y tế cá nhân của mình.
Báo cáo về Bảo vệ dữ liệu và quyền con người lần thứ 14 [40]. Báo cáo này
đưa ra những vấn đề cơ bản của bảo vệ dữ liệu và con người trong đó có khái niệm về
DLCN bao gồm tên, địa chỉ, ngày sinh, số bảo hiểm quốc gia của cá nhân được bảo
vệ theo Điều 8 Công ước nhân quyền châu Âu. Thông qua các hồ sơ y tế có được,
Toà án nhân quyền châu Âu đã nêu ra: việc bảo vệ DLCN, đặc biệt là dữ liệu y tế, vô
cùng quan trọng đối với quyền của một cá nhân được tôn trọng đời sống riêng và gia
đình, được đảm bảo bởi Điều 8 Công ước. Tôn trọng sự bảo mật dữ liệu y tế là
nguyên tắc sống còn của mọi hệ thống pháp luật của các bên tham gia công ước. Nó
không những mang tính then chốt đối với việc hiểu được sự riêng tư của một bệnh
nhân mà còn bảo vệ niềm tin vào y đức và dịch vụ y tế nói chung. Báo cáo đề cập đến
nghĩa vụ cung cấp DLCN, việc cung cấp DLCN không có sự chấp thuận, và thu thập,
lưu trữ DLCN đều là can thiệp vào quyền tôn trọng sự riêng tư của cá nhân.
Báo cáo Data Protection in the European: the role of National Data
Protection Authorities (Bảo vệ DLCN ở châu Âu: vai trò của các cơ quan bảo vệ dữ
liệu quốc gia) của European Union Agency for Fundamental Rights [132]. Báo cáo
khẳng định rõ tầm quan trọng của Cơ quan bảo vệ dữ liệu châu Âu, là công cụ trong
hợp lý như thế nào và khi sự riêng tư xung đột với các quyền khác thì làm thế nào
để quyết định được quyền nào được ưu tiên; hai là: tác giả nêu ra những phân tích
của mình về vấn đề của đồng tính nam và đồng tính nữ cùng với các vấn đề như phá
thai, mang thai hộ, thử nghiệm ma tuý, quyền được chết… để minh hoạ cho nền
tảng hiến pháp chung. Từ góc độ tiếp cận của triết học và luật học, cuốn "Quyền
riêng tư: đồng tính nam, đồng tính nữ và hiến pháp" đã đề cập đến nhóm xã hội dễ
bị tổn thương này khá sớm. Theo quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề tình
dục được áp dụng tại 24 bang thì quan hệ đồng giới mang tính tội phạm được áp
dụng đối với hàng triệu người sống ở Hoa Kỳ, vậy TTCN của họ liên quan tới tình
trạng nhiễm HIV, thụ tinh nhân tạo với đồng tính nam và đồng tính nữ được bảo vệ
như thế nào.
Cuốn sách The Right to Privacy Paperback (Quyền riêng tư) của Caroline
Kennedy và Ellen Alderman [118]. Từ cách tiếp cận các trường hợp nghiên cứu cụ
thể, các tác giả cho rằng mặc dù khái niệm sự riêng tư không xuất hiện trong Hiến
21
pháp, song mọi người đều có quyền riêng tư. Các tác giả nhắc lại lời của Louis D
Brandeis về "quyền được ở một mình", đặt ra những vấn đề hết sức cụ thể liên quan
tới mối quan hệ giữa công việc của cơ quan nhà nước, của chủ sử dụng lao động và
của người khác đối với sự riêng tư cá nhân. Trong "Quyền riêng tư", các tác giả đã
khảo sát các quyết định của toà án, tuyên bố của nguyên đơn về quyền riêng tư của
họ bị đe doạ bởi chính phủ, bởi doanh nghiệp, bởi các phương tiện truyền thông
hoặc bởi những người khác. Các tác giả đề cập đến những vấn đề như quyền lực của
các nhân viên luật pháp để tìm kiếm ma tuý, tính bảo mật của xét nghiệm AIDS,
phá thai. Thông qua việc nghiên cứu 6 lĩnh vực chung: sự riêng tư với thực thi pháp
luật; sự riêng tư và sự tự tin; riêng tư với báo chí; riêng tư với những "kẻ nhòm
ngó"; riêng tư tại nơi làm việc; riêng tư và thông tin, các tác giả đã cung cấp cho
độc giả những hiểu biết cơ bản về sự riêng tư và yêu cầu, đòi hỏi của con người về
7 về máy tính, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư (International Conference on
Computers, Privacy and Data Protection,) CPDP 2014, tổ chức tại Brussels tháng
1/2014. Các tác giả đã đánh giá tính cấp thiết của công nghệ lưu trữ, tấn công trực
tuyến và tác động của việc lưu trữ dữ liệu đối và nguy cơ đối với sự riêng tư. Các
tác giả cũng xem xét đến sự đánh đổi giữa bảo vệ an ninh và sự riêng tư, các cách
thức hỗ trợ để bảo đảm sự riêng tư và bảo vệ dữ liệu. Cuốn sách này được soạn thảo
trong quá trình sửa đổi cơ bản luật bảo vệ dữ liệu châu Âu, đã đề xuất các cách tiếp
cận táo bạo và hợp lý trong quá trình sửa đổi cơ bản Chỉ thị bảo vệ dữ liệu châu Âu
năm 1995, đề cập đến mọi yêú tố trong lĩnh vực CNTT và công nghệ máy tính ICT gắn với sự riêng tư và bảo vệ dữ liệu.
Cuốn sách Data Protection and Privacy: The Age of Intelligent Machines,
(Quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu: thời đại của các loại phương tiện thông minh) của
Ronald Leenes, Rosamunde van Brakel, Serge Gutwirth, Paul De Hert [155]. Cuốn
sách này đã tập hợp các bài viết phân tích khái niệm, các vấn đề cụ thể, giải pháp và
thảo luận về thực thi liên quan đến bảo vệ quyền riêng tư và dữ liệu tại Hội nghị quốc
tế thường niên lần thứ 10 về máy tính, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư tổ chức tại
Brussels tháng 1/2017. Những vấn đề rất mới về quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu liên
quan đến Quy định bảo vệ Dữ liệu chung châu Âu (GDPR) có hiệu lực vào tháng 5
năm 2018 thay thế Chỉ thị Directive 95/46/EU đã được đưa ra để phân tích, xem xét.
Nghiên cứu này nhận định GDPR đã làm hài hòa luật bảo vệ dữ liệu trên khắp châu
Âu, bảo vệ và trao quyền cho tất cả DLCN của công dân châu Â, đồng thời định hình
lại cách các tổ chức trên toàn khu vực trong tiếp cận quyền riêng tư về dữ liệu. Cuốn
sách còn đề cập đến những vấn đề quan trọng của GDPR về các thách thức an ninh
dữ liệu của nền công nghiệp 4.0, các dạng thức dữ liệu mới.
Bài nghiên cứu ''Creating Data Protection Legislation in the United States:
An Examination of Current Legislation in the European Union, Spain, and the
United States" (Lập pháp về bảo vệ dữ liệu ở Hoa Kỳ: kiểm nghiệm lập pháp hiện
tại ở Liên minh châu Âu, Tây Ban Nha và Hoa Kỳ) của Jennifer M. Myers [140].
Bài nghiên cứu này ra đời sau khi có Chỉ thị về bảo vệ dữ liệu ở châu Âu 1995. Tác