BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM THỊ THÙY LINH
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
VỀ HỢP ĐỒNG MƢỢN NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM THỊ THÙY LINH
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
VỀ HỢP ĐỒNG MƢỢN NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
Phạm Thị Thùy Linh
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật dân sự
NLHVDS: Năng lực hành vi dân sự
NLPLDS: Năng lực pháp luật dân sự
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Giới thiệu khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài ............................. 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .......................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ........................................... 3
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn ........................................... 3
5. Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn ...................... 4
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ................................................. 4
7. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 4
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................... 5
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MƢỢN NHÀ Ở
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM.................................................. 5
1.1 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hợp đồng mượn nhà ở ....................... 5
1.1.1. Khái niệm hợp đồng mượn nhà ở............................................................ 5
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng mượn nhà ở ......................................... 6
1.2. Đối tượng của hợp đồng mượn nhà ở ........................................................ 9
1.3. Chủ thể của hợp đồng mượn nhà ở .......................................................... 10
1.4. Hình thức của hợp đồng mượn nhà ở....................................................... 12
1.5. Hiệu lực của hợp đồng mượn nhà ở ......................................................... 13
1.5.1. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mượn nhà ở ................................. 13
KẾT LUẬN .................................................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Giới thiệu khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài
Nhà ở là vấn đề được nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quan tâm và được
nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau. Nhà ở luôn gắn liền với con người,
là nhu cầu không thể thiếu của mỗi cá nhân, mỗi gia đình nên nó mang tính xã
hội sâu sắc. Chính vì thế quyền về nhà ở luôn được ghi nhận trong Hiến pháp
của hầu hết các quốc gia với tư cách là quyền cơ bản của công dân. Để đáp
ứng nhu cầu về nhà ở, mỗi cá nhân, hộ gia đình đều có phương thức tạo lập
khác nhau như: mua bán, tặng cho, cho thuê, cho mượn nhà ở. Tùy vào từng
điều kiện cụ thể mà vấn đề nhà ở sẽ được quy định khác nhau. Trong đó hợp
đồng mượn nhà ở được coi là một hình thức để các chủ thể giúp đỡ nhau
trong xã hội. Tuy nhiên, hiện nay trên thực tế việc tranh chấp về hợp đồng
mượn nhà ở diễn ra rất nhiều, các quy định của pháp luật về hợp đồng mượn
nhà ở còn rất ít chủ yếu được quy định tại Mục 10 Luật nhà ở 2015 (gồm
Điều 153, Điều 154). Vì vậy mà pháp luật điều chỉnh về vấn đề này lại có
nhiều điểm chưa rõ ràng về chủ thể, về hình thức về thời hạn của hợp đồng…
dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Do đó việc áp dụng pháp luật giải quyết
các tranh chấp này trên thực tế cũng chưa thống nhất và còn tồn tại nhiều thực
trạng bất cập.
Vì vậy, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu quy định của pháp luật dân sự về
hợp đồng mượn nhà ở, thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mượn nhà ở tại
cơ bản nhất trong mối liên hệ với hợp đồng dân sự chung chứ chưa đi sâu và
nghiên cứu cụ thể và toàn diện về hợp đồng mượn nhà ở.
Do đó, rất cần những đề tài nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp
đồng mượn nhà ở, từ đó chỉ ra được những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn cũng
như quy định của pháp luật dân sự hiện hành về hợp đồng mượn nhà ở, để từ đó đưa
ra được những giải pháp, kiến nghị sửa đổi, bổ sung có tính khả thi, kịp thời hoàn
thiện pháp luật dân sự và thực thi có hiệu quả về hợp đồng mượn nhà ở.
Vì vậy, trong phạm vi của luận văn tác giả tập trung nghiên cứu chế định
về hợp đồng mượn nhà ở không chỉ trên cơ sở lý luận đơn thuần mà còn
nghiên cứu trong cả thực tế đặc biệt là vấn đề giải quyết tranh chấp về hợp
3
đồng mượn nhà ở được giải quyết ở Tòa án tại Việt Nam để đưa ra sự điều
chỉnh của pháp luật về hợp đồng mượn nhà ở một cách phù hợp nhất. Hơn nữa
đây là công trình nghiên cứu khoa học theo định hướng ứng dụng đầu tiên đi sâu
vào thực tiễn thực hiện giải quyết tranh chấp về hợp đồng mượn nhà ở tại Tòa án.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu đề tài “Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng mượn
nhà ở tại Việt Nam”, tác giả không tham vọng đề cập một cách toàn diện, sâu
sắc tất cả các vấn đề liên quan đến hợp đồng mượn nhà ở mà chủ yếu tập
trung nghiên cứu một số khía cạnh pháp lý cơ bản nhất về hợp đồng mượn
nhà ở và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại cơ quan tư pháp của Việt Nam –
Tòa án để làm sáng tỏ thêm các khía cạnh pháp lý cũng như sự chưa phù hợp
trong các quy định pháp luật và áp dụng pháp luật gây nên tác động tiêu cực
tới việc giao kết, thực hiện hợp đồng mượn nhà ở nói riêng và các quan hệ
dân sự nói chung. Qua đó tác giả mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị nhằm tạo
thác và sử dụng các tư liệu thực tiễn để hoàn chỉnh luận văn.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Các kết quả nghiên cứu của luận văn này có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học. Một số kiến nghị của
luận văn có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp
luật trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật về
nhà ở nói chung và pháp luật giải quyết tranh chấp về hợp đồng mượn nhà ở
nói riêng tại Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu gồm 3 chương
Chương 1: Khái quát chung về hợp đồng mượn nhà ở theo pháp luật dân
sự Việt Nam.
Chương 2: Đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng mượn
nhà ở tại Việt Nam.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật về hợp đồng mượn nhà ở tại Việt Nam.
5
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MƢỢN NHÀ Ở
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hợp đồng mƣợn nhà ở
1.1.1. Khái niệm hợp đồng mượn nhà ở
Trong từ điển tiếng Việt, từ “mượn” được hiểu là “lấy của người khác để
dùng trong một thời gian rồi sẽ trả lại với sự đồng ý của người đó”.1
Điều 494 BLDS 2015 đã định nghĩa về hợp đồng mượn tài sản như sau:
“Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận gi a các bên, theo đó bên cho
pháp luật, không trái với đạo đức xã hội.
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng mượn nhà ở
Hợp đồng mượn nhà ở có đối tượng là nhà ở, một loạt tài sản có vai trò
quan trọng trong đời sống và được điều chỉnh bởi luật chuyên ngành, nên nó
mang những đặc điểm chung của hợp đồng mượn tài sản và đặc điểm riêng
của hợp đồng mượn nhà ở.
* Hợp đồng mượn nhà ở là hợp đồng chuyển giao quyền chiếm hữu và
quyền sử dụng nhà ở từ người cho mượn sang người mượn
Trong quan hệ mượn nhà ở, người cho mượn có nghĩa vụ chuyển giao
nhà ở và quyền sử dụng nhà ở cho người mượn mà không chuyển giao quyền
định đoạt. Bản chất của trong quan hệ mượn nhà ở là bên mượn có toàn quyền
chiếm hữu và sử dụng nhà ở trong thời gian mượn nhà, tuy nhiên lại không có
quyền định đoạt đối với nó như bán, tặng cho hoặc cho thuê, cho mượn lại.
Chỉ có chủ sở hữu của nhà ở mới thực hiện những quyền liên quan đến định
đoạt nhà ở.
* Hợp đồng mượn nhà ở là hợp đồng ưng thuận
Hợp đồng ưng thuận là hợp đồng mà theo quy định của pháp luật, quyền
và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi các bên thỏa thuận với nhau
xong nội dung chủ yếu của hợp đồng. Trong trường hợp này, dù rằng các bên
chưa trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết nhưng đã phát sinh quyền
yêu cầu của bên này đối với bên kia trong việc thực hiện hợp đồng. Hay nói
7
cách khác, hợp đồng ưng thuận là những hợp đồng mà thời điểm có hiệu lực
của nó là thời điểm giao kết.2
Hợp đồng mượn nhà ở là hợp đồng ưng thuận, bởi mượn nhà ở được
pháp luật quy định hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Thời điểm
giao kết là thời điểm các bên ký kết hợp đồng nếu các bên không có thỏa
phải trả lại nhà ở cho bên cho mượn đúng như tình trạng ban đầu của nhà ở
(trừ những hao mòn tự nhiên), mà không phải trả thêm bất cứ một khoản tiền
nào cho bên cho mượn. Bản chất của hợp đồng mượn nhà không phải nhằm
mục đích thu lợi mà là sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống và chủ
thể của hợp đồng thường là những người có mối quan hệ thân thiết hoặc ruột
thịt. Do đó, có thể thấy đây là một đặc điểm quan trọng của hợp đồng mượn
nhà ở, là cơ sở để phân biệt với các loạt hợp đồng khác.
* Hợp đồng mượn nhà ở chịu sự điều chỉnh mang tính chất chế ước giữa
ngành luật này với ngành luật khác
Nhà ở là một loạt tài sản đặc biệt, vừa có giá trị lớn, chịu sự quản lý đặc
biệt của Nhà nước, lại gắn liền với đất đai vì vậy bên cạnh sự điều chỉnh của
Luật nhà ở thì hợp đồng mượn nhà ở còn chịu sự điều chỉnh mang tính chất
chế ước của nhiều ngành luật khác nhau như: BLDS điều chỉnh những quy
định mang tính chất chung về hợp đồng mượn nhà ở; Luật đất đai điều chỉnh
những vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất. Nhà ở gắn liền với đất ở phải
là đối tượng sử dụng ổn định, lâu dài; nếu đất được giao có thời hạn để sử
dụng làm nhà ở để kinh doanh thì nhà ở cũng có thời hạn sử dụng như đất ở;
Luật kinh doanh bất động sản điều chỉnh những vấn đề liên quan đến hợp
đồng mượn nhà ở có một bên chủ thể là người nước ngoài.
* Hợp đồng mượn nhà ở phải thể hiện dưới hình thức văn bản
Như chúng ta đã biết, nhà ở là loại tài sản đặc biệt, có vai trò quan trọng
trong đời sống xã hội, lại có giá trị lớn, nên pháp luật quy định hợp đồng
mượn nhà ở phải được thực hiện dưới hình thức văn bản được quy định tại
Điều 121 Luật nhà ở 2014. Đây là một trong những điều kiện có hiệu lực về
hình thức của hợp đồng mượn nhà ở, để thuận tiện cho việc quản lý các giao
dịch về nhà ở và hạn chế tới mức thấp nhất các tranh chấp về nhà ở. Theo quy
9
10
- Hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở ký với chủ đầu tư dự án xây dựng
nhà ở nếu là mua, thuê mua nhà ở của chủ đầu tư
- Giấy phép xây dựng
- Giấy tờ khác chứng minh quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp
luật dân sự, pháp luật về đất đai nếu là đầu tư xây dựng nhà ở:
+ Giấy tờ mua bán, tặng cho, trao đổi, thừa kế về nhà ở theo quy định
của pháp luật
+ Bản án, quyết định của Tòa án có nội dung về quyền sở hữu của nhà ở
+ Quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về công nhận quyền
sở hữu nhà ở
+ Giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; về việc xây
dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh
hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép.3
+ Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ
quan, tổ chức để bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên tự làm nhà ở hoặc xây
dựng nhà ở để phân (cấp) cho cán bộ, công nhân viên bằng vốn không thuộc
ngân sách nhà nước hoặc do cán bộ, công nhân viên tự đóng góp xây dựng.
Trường hợp xây dựng nhà ở bằng vốn ngân sách nhà nước thì phải bàn giao
quỹ nhà ở đó cho cơ quan quản lý nhà ở của địa phương để quản lý, kinh
doanh theo quy định của pháp luật.4
1.3. Chủ thể của hợp đồng mƣợn nhà ở
Chủ thể của hợp đồng mượn nhà ở là những người tham gia vào quan hệ
hợp đồng mượn nhà ở, bao gồm có bên cho mượn và bên mượn nhà ở.
Bên cho mượn là bên có nhà ở cho mượn và có quyền đối với nhà ở cho
Khoản 5 Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của
Luật Đất đai số 45/2013/QH13.
4
Khoản 7 Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của
+ Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
+ Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm
bằng tài sản của mình;
12
+ Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Trường hợp bên cho mượn nhà ở là pháp nhân thì người có quyền giao
kết hợp đồng mượn nhà ở là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại
diện theo ủy quyền của pháp nhân. Người đại diện của pháp nhân phải tuân
theo đúng quy định pháp luật về đại diện.
* Đối với bên mượn nhà ở thì
- Nếu là cá nhân trong nước thì phải có đủ NLHVDS để thực hiện các
giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự và không bắt buộc phải
có đăng ký thường trú tại nơi có nhà ở được giao dịch.
- Nếu là cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì
phải có đủ NLHVDS để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp
luật Việt Nam, phải thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy
định của Luật nhà ở và không bắt buộc phải có đăng ký tạm trú hoặc đăng ký
thường trú tại nơi có nhà ở được giao dịch.
1.4. Hình thức của hợp đồng mƣợn nhà ở
Như được chỉ ra ở phần 1.2 hợp đồng mượn nhà ở phải thành lập bằng
văn bản không bắt buộc phải công chứng, chứng thực trừ trường hợp các bên
có nhu cầu (khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở 2014).
Sở dĩ pháp luật quy định cứng là hợp đồng mượn nhà ở phải thành lập
bằng văn bản là vì nhà ở là tài sản có giá trị lớn, ảnh hưởng đáng kể đến đời
sống của các chủ thể. Do đó giao kết bằng văn bản sẽ bảo đảm tính rõ ràng về
những nội dung mà các bên cam kết, thỏa thuận. Trong văn bản sẽ thể hiện
đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận sau đó
phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện có hiệu lực pháp luật của một giao dịch
dân sự được quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015 về các điều kiện có hiệu
lực pháp luật của hợp đồng dân sự, bao gồm:
* Thứ nhất là điều kiện về năng lực chủ thể
Như ta đã phân tích ở trên thì chủ thể của hợp đồng mượn nhà ở bao gồm
cá nhân và pháp nhân.
14
- Đối với cá nhân: Cá nhân khi tham gia vào quan hệ hợp đồng mượn
nhà ở được coi là có năng lực chủ thể đầy đủ khi đáp ứng được cả hai yếu tố
là NLPLDS và NLHVDS.
Theo quy định của Điều 16 BLDS thì NLPLDS của cá nhân là khả năng
của cá nhân có các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự; mọi cá nhân đều có
NLPLDS như nhau; NLPLDS của cá nhân có từ khi sinh ra và chấm dứt khi
người đó chết. Đây mới là điều kiện cần còn điều kiện đủ để cá nhân tham gia
quan hệ hợp đồng mượn nhà ở là NLHVDS của cá nhân 5. Điều 19 BLDS
2015 quy định NLHVDS của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi
xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.
Pháp luật dân sự Việt Nam căn cứ vào khả năng nhận thức và làm chủ
hành vi của mỗi cá nhân mà phân chia NLHVDS của cá nhân ở nhiều mức độ
khác nhau; được phép tham gia hay không tham gia giao kết hợp đồng mượn
nhà ở ở mức độ khác nhau.
Đối với điều kiện về năng lực chủ thể của cá nhân trong hợp đồng mượn
nhà ở thì chỉ có cá nhân là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
- Đối với tổ chức tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân. NLPLDS của
pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự.
NLPLDS của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký
nhận và tôn trọng”. Trái với đạo đức xã hội, đây là phạm trù rất khó xác định,
bởi xét cho cùng đạo đức là những ý chí chủ quan bên trong con người được
biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi, bằng sự ứng xử với nhau giữa con người
với con người cũng khó có cơ sở để xác định là một căn cứ để khẳng định
giao dịch dân sự hay hợp đồng dân sự trong trường hợp này bị vô hiệu.
* Điều kiện thứ ba để hợp đồng mượn nhà ở có hiệu lực pháp luật đó là
điều kiện về ý chí.
Tham gia vào giao kết hợp đồng mượn nhà ở, các bên phải hoàn toàn tự
nguyện. Một hợp đồng mượn nhà ở chỉ được coi là có sự tự nguyện của các
bên khi hợp đồng đó phản ánh một cách khách quan, trung thực những mong
muốn chủ quan bên trong của các bên
6
Điều 117 BLDS năm 2015.
16
Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí,
cho nên “tự nguyện” bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý
chí. Không có tự do ý chí và bày tỏ ý chí không thể có tự nguyện, nếu một
trong hai yếu tố này không có hoặc không thống nhất cũng không thể có tự
nguyện. Vi phạm sự tự nguyện của chủ thể là vi phạm pháp luật. Vì vậy, hợp
đồng mượn nhà ở thiếu sự tự nguyện không làm phát sinh hậu quả pháp lí.
Trong thực tế, không phải hợp đồng mượn nhà ở nào khi giao kết cũng
đều có sự tự nguyện của các bên. Rất nhiều hợp đồng mượn nhà ở được giao
kết không phản ánh đúng ý chí tự nguyện của một trong các bên giao kết hợp
đồng. Đó là những hợp đồng giao kết do có sự lừa dối, nhầm lẫn hay đe dọa.
Cụ thể:
- Hợp đồng mượn nhà ở được xác lập do có sự nhầm lẫn
hiểu là sự tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp của chính một bên chủ
thể trong hợp đồng, hoặc của người thứ ba đối với bên kia, làm cho bên kia sợ
hãi bắt buộc phải giao kết hợp đồng nhằm mục đích làm lợi cho bên chủ thể
có hành vi đe dọa. Đồng thời, để tránh một thiệt hại về tài sản và nhân thân
của mình, hoặc của người thân ruột thịt trong gia đình mà bên bị đe dọa phải
chấp nhận giao kết hợp đồng mượn nhà ở một cách cưỡng bức, không đúng ý
chí, mong muốn của mình.
* Điều kiện về hình thức của hợp đồng mượn nhà ở
Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài. Hình
thức của hợp đồng có thể bằng văn bản, bằng miệng hoặc bằng hành vi.
Thông qua hình thức của hợp đồng, các bên tham gia giao kết hợp đồng và
người thứ ba có thể biết được một cách chính xác nội dung hợp đồng do các
bên thỏa thuận. Nó là chứng cứ xác nhận các quan hệ đã, đang tồn tại giữa các
bên, qua đó xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm xảy ra.
Điều kiện về hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch khi pháp luật
có quy định: “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao
18
dịch trong trường hợp pháp luật có quy định” (khoản 2 Điều 117 BLDS 2015)
Luật nhà ở 2014 quy định rõ hợp đồng mượn nhà ở phải thành lập bằng
văn bản không bắt buộc phải công chứng, chứng thực trừ trường hợp các bên
có nhu cầu (Điều 121). Như vậy chỉ khi các bên giao kết hợp đồng mượn nhà
ở bằng văn bản thì mới đáp ứng điều kiện về hình thức.
1.5.2. Mức độ vô hiệu của hợp đồng mượn nhà ở và hậu quả pháp lý
trong từng trường hợp cụ thể
* Thứ nhất xét về mức độ vô hiệu của hợp đồng mượn nhà ở
- Dựa vào mức độ để xác định tính vô hiệu của hợp đồng mượn nhà ở là
vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối