1
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian làm luận văn, được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô, cơ quan,
các bạn bè đồng nghiệp, luận văn thạc sĩ kỹ thuật “ Nghiên cứu đề xuất giải pháp
ổn định cửa sông và bờ biển khu vực cửa Đà Rằng thành phố Tuy Hòa – tỉnh
Phú Yên” đã hoàn thành.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến thầy cô Trường Đại học Thủy lợi, Khoa công
trình, Phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học đã giảng dạy, giúp đỡ nhiệt tình trong
suốt quá trình học tập, trang bị kiến thức mới nhất, tiên tiến nhất về khoa học kỹ
thuật công trình thủy lợi, đồng thời giúp tôi vững tin khi làm công tác nghiên cứu
khoa học.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo
hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Văn Huân đã tận tình giúp đỡ tác giả từ những bước đi
đầu tiên xây dựng ý tưởng nghiên cứu, cũng như trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thiện Luận văn. Thầy đã luôn ủng hộ, động viên và hỗ trợ những điều kiện tốt
nhất để tác giả hoàn thành luận văn này.
Luận văn sẽ không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ về mọi mặt của
đồng nghiệp thuộc Công ty tư vấn & chuyển giao công nghệ Trường Đại học Thủy
lợi – Chi nhánh miền Nam.
TÁC GIẢ
Phạm Cao Mẫu
2
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC BẢNG
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
Chương I: TỔNG QUAN
I.1 Điều kiện tự nhiên
11
11
I.1.1. Vị trí địa lý
11
I.1.2. Đặc điểm địa hình
11
I.2. Điều kiện địa chất khu vực
12
I.2.1. Địa tầng
12
I.2.2. Đặc tính cơ lý của đất
14
I.3 Đặc điểm khí tượng, khí hậu, thủy hải văn
14
18
I.4. Diễn biến bồi lắng, xói lở cửa sông Đà Rằng
21
3
I.4.1. Hiện trạng khu vực nghiên cứu
21
I.4.2. Diễn biến bồi lắng hiện trạng khu vực nghiên cứu
23
I.5. Nhận xét chương I
Chương II: NGUYÊN NHÂN SẠT LỞ, BỒI LẮNG CỬA SÔNG ĐÀ RẰNG
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO KHU VỰC NGHIÊN CỨU
II.1 Nguyên nhân gây bồi lắng cửa sông Đà rằng
28
29
29
II.1.1.Nguyên nhân nội sinh:
29
68
III.1.2. Cao trình đỉnh chân kè thiết kế
71
III.1.3. Thân kè
72
III.1.4. Kết cấu công trình
74
III.2. Tính toán ổn định công trình
76
III.2.1.Tính toán ổn định mái dốc
76
III.2.2. Cơ sở lý thuyết tính toán ứng suất và biến dạng của đất nền
79
III.2.3. Kết qủa tính toán
81
Hình 2.11: Trường dòng chảy và biến động địa hình đáy PA1
Hình 2. 12: Trường dòng chảy và biến động địa hình đáy PA2
Hình 2.13: Trường dòng chảy và biến động địa hình đáy PA3
Hình 2.14: So sánh lưu lượng tại cửa sông của 3 phương án 1,2 và 3
Hình 2.15: Biến động địa hình đáy ngoài cửa sông (MC3) của phương án 1,2 và 3
Hình 2.16: Biến động địa hình đáy tại cửa sông (MC6) của phương án 1,2 và 3
Hình 2.17: Trường dòng chảy và biến động địa hình đáy PA4
Hình 2.18: Trường dòng chảy và biến động địa hình đáy PA5
Hình 2.19: Trường dòng chảy và biến động địa hình đáy PA6
Hình 2.20: Biến động địa hình đáy ngoài cửa sông (MC3) của phương án 2,4,5,6
Hình 2. 21: Biến động địa hình đáy tại cửa sông (MC6) của phương án 2,4,5,6
Hình 2.22: Sơ đồ cấu tạo công trình thành đứng dạng trọng lực
5
Hình 2.23: Sơ đồ cấu tạo công trình dạng thành đứng có kết cấu cọc cừ
Hình 2.24: Các dạng mặt cắt ngang đê mái nghiêng
Hình 2.25: Cắt ngang mỏ hàn đá đổ ở Pháp
Hình 2.26: Cắt ngang mỏ hàn nhiều loại vật liệu
Hình 2.27: Cắt ngang mỏ hàn có 1 phần sóng tràn
Hình 2.28: Cắt ngang mỏ hàn không có sóng tràn
Hình 2.29: Sơ đồ vai và tường đỉnh
Hình 2.30: Các dạng lăng thể chân mái dốc
Hình 2.31: Các khối bê tông dị thường
Hình 2.32: Khối Tetrapod
Hình 2.33: Khối Dolos
Hình 2.34: Mỏ hàn túi địa kỹ thuật
Hình 3.1: Bản đồ bố trí công trình
Hình 3.2: Mặt cắt ngang kè biển
Hình 3.3: Sơ họa mặt bằng và cắt dọc kè mỏ hàn
ATNĐ Áp thấp nhiệt đới
E
Hướng Đông (East)
MC
Mặt cắt
N
Hướng Bắc (North)
NE
Hướng Đông Bắc (North East)
NW
Hướng Tây Bắc (North West)
PA
Phương án
S
Hướng Nam (South)
SE
Khu vực cửa sông là nơi chịu ảnh hưởng đồng thời của các yếu tố động lực và thuỷ
thạch động lực biển và sông nên biến động mạnh mẽ nhất. Các yếu tố động lực và
thuỷ thạch động lực có ảnh hưởng quyết định tới hình thái vùng cửa sông là dòng
chảy và lượng bùn cát từ thượng nguồn sông cũng như sóng, dòng ven, dòng triều từ
biển vào. Các quá trình động lực biển như sóng, dòng ven và dòng triều sẽ gây ra
quá trình vận chuyển bùn cát dọc bờ và ngang bờ, cũng như nạo vét lòng sông.
Do đó, việc nghiên cứu đề xuất giải pháp ổn định cửa sông và bờ biển khu
vực cửa sông Đà rằng, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với đời sống người dân trong khu vực này.
2. Khái quát về khu vực nghiên cứu:
Phú Yên là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, nằm giữa 12o42’36” đến
13o41’28” vĩ độ Bắc và từ 108o40’40” đến 109o27’47” kinh độ Đông. Phía bắc giáp
tỉnh Bình Định, nam giáp tỉnh Khánh Hoà, tây giáp tỉnh Đắc Lắc & Gia Lai, đông
giáp Biển Đông. Diện tích tự nhiên: 5.045km2. Địa hình ở đây thấp dần từ tây sang
đông với 3 dạng địa hình chính là núi, trung du, đồng bằng và vùng ven biển. Cửa
sông Đà Rằng nằm trên địa phận thị xã Tuy Hòa – tỉnh Phú Yên và là cửa sông
chính của hệ thống sông Ba – một trong những hệ thống sông lớn nhất vùng Nam
Trung bộ với diện tích lưu vực là 13.900 km2.
Dòng chính sông Ba dài khoảng 380 km, được bắt nguồn từ đỉnh núi Ngọc
Rô cao 1240 m và chảy qua 4 tỉnh Gia Lai, Đắc Lắc, Kon Tum và Phú Yên. Ở phần
thượng nguồn, lòng sông hẹp, nhưng bắt đầu từ trạm thủy văn Củng Sơn – cách cửa
sông Đà Rằng khoảng 40 km, lòng sông được mở rộng và được gọi bằng cái tên địa
phương là sông Đà Rằng. Lòng sông Đà Rằng hàng năm luôn bị biến động (bồi -
9
xói) và tồn tại nhiều bãi bồi giữa sông. Đặc biệt, địa hình vùng cửa sông ven biển
luôn bị biến động sau mỗi mùa bão lũ, gây ảnh hưởng lớn đến giao thông thủy, thoát
lũ và phát triển kinh tế. So sánh hai bản đồ địa hình vùng cửa sông Đà Rằng năm
1997 và năm 2008 (hình 1), có thể thấy khu vực cửa sông được mở rộng, nhưng bãi
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa.
- Phương pháp mô hình toán để xác định các yếu tố thủy động lực khu vực
nghiên cứu; Ứng dụng các phần mềm tin học như AutoCAD, Geo-slope/W,
Microsoft Office… trong tinh toán thiết kế công trình cũng như trong soạn thảo văn
bản.
- So sánh và đối chiếu các TCVN, QCVN đã ban hành.
III. Kết quả đạt được
- Đánh giá được hiện trạng, phân tích nguyên nhân bồi lắng cửa sông Đà rằng
- Đề ra các giải pháp kết cấu thích hợp nhằm tránh tình trạng bồi lắng ở cửa
sông.
- Tuyến và mặt cắt hợp lý cho công trình tại cửa sông. Tính toán thiết kế điển
hình cho đoạn kè bờ, mỏ hàn.
IV. Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu khẳng định tính cấp thiết của đề tài, các mục tiêu cần đạt
được khi thực hiện đề tài, các cách tiếp cận và phương pháp thực hiện để đạt được
các mục tiêu đó. Ngoài phần mở đầu, phần kết thúc, phần phụ lục, danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương chính.
Chương I: TỔNG QUAN
Chương II: NGUYÊN NHÂN SẠT LỞ, BỒI LẮNG CỬA SÔNG ĐÀ RẰNG VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Chương III: TÍNH TOÁN PHƯƠNG ÁN CHỌN
11
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
I.1. Điều kiện tự nhiên:
I.1.1. Vị trí địa lý
Lưu vực sông Ba là một trong những lưu vực lớn nhất khu vực miền Trung,
với tổng diện tích lưu vực là 13.900 km², đây cũng là lưu vực lớn nhưng nằm trọn
nằm dọc hai bên bờ sông.
3. Vùng cao nguyên
Có dạng địa hình của cao nguyên Gia Lai thuộc khu vực Mang Yang Chư Sê
cao độ phổ biến từ (300 – 500)m. Địa hình khu vực lượn sóng và hình rẻ quạt nhưng
bằng thoải ở bề mặt trên diện rộng.
4. Vùng gò đồi
Đây là vùng địa hình trung gian giữa miền núi và đồng bằng hoặc giữa miền
núi và thung lũng. Chủ yếu tập trung ở An Khê, Sơn Hoà, hạ lưu sông Hinh và lưu
vực sông KRông và H.Năng. Vùng này có nhiều đồi gò thấp nhỏ xen kẽ thỉnh
thoảng có nơi tương đối bằng phẳng và khá rộng có khả năng phát triển cây hoa màu
và cây công nghiệp ngắn ngày đặc biệt là đồng cỏ chăn thả.
5. Vùng đồng bằng
Tập trung ở hạ lưu sông Ba, đất màu mỡ và bằng phẳng cao độ phổ biến từ (5
– 7)m. Đây là vùng trọng điểm kinh tế cũng đồng thời là vùng trọng điểm lúa của
lưu vực sông Ba và miền Trung.
I.2. Điều kiện địa chất khu vực:
I.2.1. Địa tầng:
Dựa theo tài liệu theo dõi hiện trường và kết quả chỉnh lý tài liệu thí nghiệm
trong phòng, địa tầng khu vực khảo sát từ trên xuống dưới đến độ sâu 10m gồm 2
lớp, được mô tả cụ thể như sau:
Lớp 1: Cát hạt mịn đến hạt vừa, màu xám, xám trắng, xám nâu, lẫn vỏ sò san
hô, trạng thái xốp.
Lớp phân bố trên bề mặt, dọc theo bờ biển, bờ sông hiện tại. Bề dày của lớp
thay đổi từ 6,0m đến 7,7m. Thành phần của lớp là cát hạt mịn đến hạt vừa, màu
xám, xám trắng, xám nâu, lẫn vỏ sò san hô, trạng thái xốp. Số búa SPT của lớp thay
đổi từ 6 đến 11.
- Giá trị SPT trung bình: 7
13
Symbol
material
m
m
m
0.0
0
-1.0
1 1.0-1.2
-2.0
2
-3.0
3 3.0-3.2
656
7
657
LỚP 1
-4.0
-9.0
Cát hạt mịn đến
hạt vừa, màu
xám, xám trắng,
xám nâu, lẫn vỏ
sò san hô, trạng
thái xốp
658
8
Sét pha, màu nâu,
nâu đen, xám
LỚP 2
nâu, lẫn vỏ sò,
trạng thái dẻo
chảy đến chảy
(3.0)
10
KẾT THÚC HK
Hình 1.1. Mặt cắt hố khoan đại diện
Lớp 2: Sét pha, màu nâu, nâu đen, xám nâu, lẫn vỏ sò, trạng thái dẻo chảy
đến chảy.
Lớp phân bố liền kề dưới lớp 1. Bề dày của lớp thay đổi từ 2,3m đến 4,0m.
Thành phần là sét pha, màu nâu, nâu đen, xám nâu, lẫn vỏ sò, trạng thái dẻo chảy
đến chảy, Số búa SPT của lớp thay đổi từ 2 đến 4.
Hạt cát mịn(%)
67.0
28.0
Hạt bụi (%)
5.0
31.0
Hạt sét (%)
0.0
16.0
Giới hạn chảy Wch (%)
-
30.0
Giới hạn lăn Wd
-
18.0
2.70
Độ rỗng n (%)
-
55.17
Hệ số rỗng (e0)
0.963
-
-
72.41
Góc ma sát trong tự nhiên o
18.40’
15.06
Lực dính tự nhiên C (kG/cm2)
-
0.126
VIII ở vùng hạ lưu.
Vào các tháng mùa mưa độ ẩm bình quân tháng trên lưu vực sông Ba có thể
đạt 80-90%. Các tháng mùa khô chỉ đạt dưới mức 75%. Độ ẩm không khí thấp nhất
trên lưu vực có thể xuống tới mức 15-20%. Riêng Plei Ku vào ngày 8/2/1978 đã
quan trắc được trị số độ ẩm thấp nhất chỉ 3%.
I.3.4. Bốc hơi
Tổng lượng bốc hơi bình quân năm trên toàn lưu vực vào khoảng 1.4001.420 mm. Lượng bốc hơi lớn nhất là vùng trung lưu 1712,4 mm (tại Cheo Reo),
vùng thượng lưu khoảng 1469,5 mm (An Khê), vùng hạ lưu thấp nhất (1324,3 mm).
Thời kỳ bốc hơi lớn nhất ở thượng lưu và trung lưu vào tháng 3 đến tháng 4 lượng
bốc hơi từ 150 - 230 mm/tháng, lượng bốc hơi nhỏ nhất thường vào tháng 10 đến
tháng 11 với lượng bốc hơi từ 65 - 85 mm/tháng. Ở hạ lưu sông Ba lượng bốc hơi
lớn nhất vào tháng 6, tháng 7 với lượng bốc hơi khoảng 160 – 220 mm/tháng. Bốc
hơi nhỏ nhất vào tháng 10 đến tháng 12 với lượng bốc hơi khoảng 50 – 80
mm/tháng.
16
I.3.5. Chế độ gió
Do sự chia cắt mạnh mẽ của địa hình và hướng của các dãy núi cao làm cho
lưu vực sông Ba chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính thổi tới. Từ tháng 5 đến
tháng 9 hướng Tây và Tây Nam. Từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau hướng Đông và
Đông Bắc, vùng thượng và hạ lưu sông Ba tốc độ gió thường lớn hơn vùng trung
lưu. Nguyên nhân là vùng trung lưu bị các dãy núi cao che khuất nhiều. Còn vùng
thượng và hạ lưu khá thuận lợi cho việc đón các hướng gió.
Tốc độ gió trung bình hàng năm vùng thượng lưu và hạ lưu có thể đạt 2,3 2,4 m/s. Tốc độ gió lớn nhất vùng thượng lưu là 23 m/s (An Khê) và ở hạ lưu là 36
m/s (Tuy Hoà). Trong khi đó ở trung lưu chỉ đạt 20 m/s (Cheo Reo). Bão thường
xuất hiện từ biển Đông.
Vùng cửa sông Đà Rằng chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa gồm hai mùa
gió chính trong năm: gió mùa đông và gió mùa hạ. Về mùa đông, gió mùa đông vấp
phải chướng ngại núi đã gây ra mưa rất nhiều trên vùng thấp ven biển và sườn Đông
– 35 % lượng nước cả năm. Tháng có lượng nước nhỏ nhất là tháng 3 hoặc tháng 4
và chỉ đạt 1,3 – 1,5 % lượng nước cả năm. Tháng 6 hàng năm thường có đỉnh lũ phụ
do mưa đầu mùa gây nên.
Cũng như mưa, dòng chảy sông ngòi không những biến động theo không
gian mà còn theo thời gian và được biểu thị theo phân phối dòng chảy năm dạng
bình quân – biểu thị dưới dạng phần trăm dòng chảy tháng (%) như bảng 1.2.
Bảng 1.2: Phân phối dòng chảy theo tháng dạng bình quân
Trạm
An
Khê
Kon
Tum
Củng
Sơn
Sông
Hinh
I
II
III
IV
V
Qtbtháng (%)
VI
VII VIII IX
18
b) Dòng chảy lũ trên dòng chính sông Ba
Mưa lũ trên lưu vực sông Ba thường xảy ra vào tháng IX-XI vì thời kỳ này
trên lưu vực bị chi phối bởi mưa dông do gió mùa mùa hạ hướng Tây Nam kết hợp
dải hội tụ nhiệt đới. Cũng thời gian này do bão từ biển Đông đổ vào đất liền gặp dải
Trường Sơn ngăn cản tạo thành vùng áp thấp nhiệt đới gây mưa lớn cho lưu vực,
lượng mưa và cường độ mưa trên lưu vực tăng lên mạnh mẽ vượt qua cường độ
thấm, khả năng trữ nước trong đất đạt mức bão hoà do đó lũ trong thời gian này là lũ
lớn nhất trong năm.
Bảng 1.3: Tần suất lưu lượng đỉnh lũ tại các trạm thủy văn lưu vực sông Ba
Tên trạm
An Khê
Củng Sơn
Sông Hinh
Từ…
đến
77-02
77-02
78-91
Qtbmax
(m3/s)
1152
6571
2288
a) Thuỷ triều
Thuỷ triều tại khu vực thuộc chế độ nhật triều không đều. Hàng tháng có từ
18 đến 22 ngày nhật triều. Thời kỳ triều cường thường xuất hiện nhật triều, khi triều
kém thường xuất hiện bán nhật triều. Biên độ triều trung bình là 1.50 ± 0.20 m. Khi
triều cường, độ cao mực nước là 1.70 m, khi triều kém độ cao triều là 0.50 m. Thời
gian triều dâng thường kéo dài hơn thời gian triều rút. Vận tốc dòng triều không lớn,
vào khoảng 20 ÷ 30 cm/s. Vào mùa mưa thuỷ triều chỉ gây ảnh hưởng tối đa đến
khoảng 4 km trong sông. Vào mùa khô, lưu lượng dòng chảy nhỏ, triều truyền xa
hơn.
b) Sóng
Độ cao sóng tương đương vào tháng 5 theo hướng đông bắc là 0,77m, theo
hướng đông là 0,89m. Khi truyền vào bờ độ cao sóng ít suy giảm, độ cao sóng ven
bờ đối với sóng đông bắc khoảng 0,6m - 0,7m, đối với sóng hướng đông khoảng
0,7m - 0,8m. Độ cao sóng tương đương ngoài khơi theo hướng đông nam là 1,04m
và theo hướng nam là 0,94m. Sự phân bố trường sóng ở phía nam và phía bắc vùng
19
nghiên cứu thấy rõ sự khác biệt, điều này do hướng sóng ngoài khơi hợp với đường
bờ một góc nhỏ. Do tác động của gió mùa đông bắc, vào tháng 11 sóng hướng đông
bắc là hướng sóng chủ đạo khu vực này. Độ cao sóng tương đương khu vực ngoài
khơi theo hướng này là 1,26m, theo hướng đông là 1,02m và theo hướng đông nam
là 0,86m. Không thấy sóng hướng nam xuất hiện trong thời gian này. Độ cao sóng
ven bờ do sóng hướng đông và đông bắc truyền vào khoảng 1m, do sóng đông nam
truyền vào khoảng 0,5m - 0,6m. Khu vực phía bắc vùng nghiên cứu, do ảnh hưởng
của một số đảo ngoài khơi, độ cao sóng vào bờ giảm rõ rệt, sự phân bố trường sóng
trong các vùng còn lại ít thay đổi. (xem hình 1.2)
20
Đối với khu vực bờ biền khu vực thành phố Tuy Hòa năm 2000 sạt lở 1,2km
tại xã An Phú, những khu vực khác bị sạt lở mạnh như Hoà Hiệp Trung (Đông
Hoà); Xuân Hải, thị trấn Sông Cầu (Sông Cầu); An Ninh Đông, An Hoà, An Phú
(Tuy An).
22
Hiện trạng sạt lở bờ đang xảy ra ở nhiều nơi đã có gia cố chống sạt lở bằng
công trình và các biện pháp chống sạt lở khác nhau. Tuy nhiên, các phương pháp
phòng chống này chỉ có ở một số khu vực, có những khu vực vừa có kè, cọc, trồng
cây, một số khu vực chỉ có kè hoặc cọc hoặc trồng cây, song cũng có khu vực chưa
có công trình phòng chống nào
Khu vực có các giải pháp phòng chống: Xuân Hải, thị trấn Sông Cầu (Sông
Cầu); An Hoà, An Chấn (Tuy An).
Khu vực chưa có giải pháp phòng chống nào: Bao gồm An Ninh Đông (Tuy
An); Xuân Phương (Sông Cầu); Hoà Hiệp Bắc, Hoà Tân Đông (Đông Hoà).
Sau đây là số đoạn đã có các công trình phòng chống là:
+ Số đoạn bị sạt lở đã có kè là 5 đoạn
+ Số đoạn bị sạt lở đã được trồng cây là 10 đoạn
+ Số đoạn bờ đã được đóng cọc là 4 đoạn
+ Số đoạn bờ có liên quan đến cửa sông, lạch, vụng là 8 đoạn
Phân cấp diễn biến sạt lở: Nếu xét diễn biến qúa trình sạt lở từ năm 1930 đến
nay thì có thể phân ra làm 5 thời kỳ:
+ Từ năm 1930 đến năm 1949 không có
+ Từ năm 1950 đến năm 1969 không có
+ Từ năm 1970 đến năm 1979 có 2 đoạn
+ Từ năm 1980 đến năm 1989 có 2 đoạn
+ Từ năm 1990 đến năm 2000 có 12 đoạn. Trong thời kỳ này qúa trình sạt lở
chủ yếu xảy ra từ năm 1995 trở lại đây, riêng năm 2000 bị sạt lở thêm 4 đoạn.
Ở Phú Yên quá trình sạt lở xảy ra mạnh nhất ở bờ biển của xã Xuân Hải (Sông
24
Hình 1.3: Sơ đồ phân vùng mặt cắt tính toán bồi – xói ven biển cửa sông Đà Rằng
- Vùng 3: là khu vực bờ phải cửa sông Đà Rằng được tính từ đường bờ ra đến
đường đẳng sâu -15m.
- Vùng 4: là vùng trong sông Đà Rằng từ cửa Đà Rằng về ngã ba sông Đà
Rằng và sông Chùa.
1.Tình hình bồi, xói từ tháng 08/2002 đến tháng 08/2003
Trong một năm địa hình đáy khu vực ven biển cửa sông Đà Rằng bồi lên với
tốc độ khá lớn, nhất là khu vực phía trái và phía phải của luồng. Cụ thể:
- Vùng trong sông có cao trình đáy thay đổi từ - 3,5 - 6 m. Kết quả tính toán
cho thấy khu vực này hầu như bồi hoàn toàn trừ khu vực gần ngưỡng cửa sông có
hiện tượng xói nhẹ. Mức độ bồi xói trung bình trong cả đoạn sông nghiên cứu là
0,34m, do đó tổng lượng bồi trên cả vùng là 905.487 m3, như vậy tốc độ bồi trung
bình theo tháng trong giai đoạn nghiên cứu khoảng 75.457 m3/tháng.
- Vùng luồng cửa sông Đà Rằng trong giai đoạn nghiên cứu có xu hướng xói
mạnh hơn bồi, nhất là vùng ngưỡng cửa sông, nơi xói nhất của luồng đạt trên 3m,
ngược lại khi ra gần đến đường đẳng sâu 8 m của khu vực luồng lại có hiện tượng
bồi nhẹ. Trong cả giai đoạn nghiên cứu mức độ bồi xói trung bình của cả luồng là 0,49m với tổng lượng bồi xói trong cả khu vực là - 409.806 m3.
25
Bảng 1.4: Lượng bồi xói khu vực ven biển cửa sông Đà Rằng từ 08/2002 - 08/2003
Diện tích
TT
Vùng 1
(m2)
1,75
0,34
435.305
Luồng
831.432
-2,81
1,90
-0,49
-409.806
3
Bờ trái
704.229
-0,40
1,91
0,53
Trong khoảng thời gian này khu vực nghiên cứu có hiện tượng bồi xói xen kẽ.
- Vùng trong sông: Kết quả tính toán bồi xói cho thấy trong giai đoạn nghiên
cứu này, khu vực trong sông có tốc độ bồi mạnh ở gần ngưỡng cửa sông, nơi được
bồi mạnh nhất đạt tới 2,91m. Mức độ bồi xói trung bình trong cả vùng là 0,14m, do
đó tổng lượng bồi của khu vực nghiên cứu là 1.763.846m3.
- Vùng luồng của khu vực nghiên cứu trong giai đoạn này có xu hướng xói nhẹ
ở gần ngưỡng cửa sông ra đến đường đẳng sâu -8m, nơi xói mạnh nhất đạt mức -