BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ QUI TRÌNH SẢN XUẤT
GIỐNG CÁ DĨA TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ KIM LIÊN
Ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Niên khóa: 2008-2010
Tháng 07/2010
KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ QUI TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ DĨA TẠI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU & PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
CÔNG NGHỆ CAO TP.HCM
Tác giả
NGUYỄN THỊ KIM LIÊN
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng Kỹ sư ngành
Nuôi Trồng Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn :
TS. Vũ Cẩm Lương
sát, kết hợp bố trí thí nghiệm.
Kết quả đã khảo sát được bốn đợt sản xuất giống cá dĩa trong giai đoạn 2008 –
2009. Số cặp cá bố mẹ nuôi vỗ năm 2008 là 15 cặp, 2009 là 24 cặp, kích thước (chiều dài
tổng) cá bố mẹ tham gia sinh sản trung bình 13 cm, tuổi cá bố mẹ nuôi vỗ trung bình từ 2
– 3 năm tuổi. Tỉ lệ sống trung bình của cá hương sau khi tách khỏi cá bố mẹ năm 2008
thấp nhất 43,4% ứng với số ngày tuổi tách cá con khỏi cá bố mẹ là 11 ngày tuổi và cao
nhất đạt 78,4% ứng với thời điểm tách cá con là 19 ngày tuổi, năm 2009 tỉ lệ sống trung
bình của cá hương đạt 87,9% ứng với ngày tuổi tách cá con khỏi cá bố mẹ là 18 ngày tuổi.
Các chỉ tiêu chất lượng nước, thức ăn, bệnh cá trong qui trình nuôi vỗ cá bố mẹ, sản xuất
giống và ương nuôi cá hương cũng được khảo sát chi tiết.
Một số giải pháp thử nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giống cá dĩa đã và
đang được thực hiện ở Trung tâm: Điều chỉnh lại thời điểm tách cá con khỏi cá bố mẹ khi
cá được 18, 20 và 23 ngày tuổi, theo dõi và điều chỉnh lại một số biện pháp kỹ thuật trong
qui trình sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm. Kết quả bước đầu ghi nhận: Thời điểm tách
cá con khỏi cá bố mẹ khi cá được 23 ngày tuổi có tỉ lệ sống cao nhất đạt 80,1 % ; Các chỉ
tiêu chất lượng nước như DO, pH, nhiệt độ, nitrit, độ cứng nằm trong phạm vi thích hợp
cho qui trình sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm ; Các thông số kỹ thuật sản xuất giống
cá dĩa đang và sẽ được hệ thống hóa phục vụ công tác theo dõi, quản lý và nâng cao hiệu
quả sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm.
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang tựa
i
Cảm tạ
Chương 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
2.1. Đặc điểm sinh học của cá dĩa
3
2.1.1 Phân loại
3
2.1.2 Phân bố sinh thái
4
2.1.3 Môi trường sống
4
2.1.4 Đặc điểm hình thái, sinh lý
5
a Hình thái bên ngoài
5
b Cấu tạo ống tiêu hóa
7
b Sức sinh sản
7
c Phân biệt đực cái
8
d Mùa vụ sinh sản
8
2.1.8 Tập tính sinh sản
8
a Tập tính bắt cặp
8
b Tập tính vệ sinh tổ
8
c Hiện tượng sinh sản
9
10
2.2.6 Giai đoạn cá đẻ
11
2.2.7 Giai đoạn cá con sau khi nở
12
2.2.8 Giai đoạn tách cá con
12
2.3. Tổng quan về các chỉ tiêu chất lượng nước trong nuôi cá cảnh
13
2.3.1 Chỉ số pH nước
13
2.3.2 Độ cứng của nước
14
2.3.3 Amonia và Nitrite
14
a Thông tin về nuôi vỗ cá bố mẹ
16
b Thông tin về cá sinh sản
17
c Thông tin về cá bột (từ lúc nở đến ngày tách khỏi cá bố mẹ)
17
d Thông tin về cá hương (từ lúc tách đến 1 tháng tuổi)
17
3.3. Đánh giá những ưu, nhược điểm trong quá trình sản xuất
18
3.4. Đề xuất và thử nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
giống cá dĩa tại Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Công nghệ
cao Tp.HCM
18
3.4.1 Giải pháp 1: Điều chỉnh lại thời điểm tách cá con khỏi cá bố mẹ
18
20
3.4.2.2 Điều chỉnh lại chế độ thay nước cho cá nuôi
20
3.4.2.3 Hệ thống hóa các thông số kỹ thuật trong qui trình sản xuất giống cá dĩa
tại Trung tâm
20
a Đặt vấn đề
20
b Bố trí thực hiện
20
c Chỉ tiêu theo dõi
20
3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
21
Chương 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
25
4.1.2 Quản lý cá sinh sản
25
a Thông tin về các cặp cá bố mẹ sinh sản
25
b Sức sinh sản thực tế
26
c Tỉ lệ thụ tinh
27
d Tỉ lệ nở
28
e Thay nước cho cá sinh sản
28
f Thức ăn cho cá sinh sản và cách cho ăn
28
32
e Quản lý bệnh trong giai đoạn cá hương
33
4.2. Kết quả sản xuất cá dĩa đã thực hiện giai đoạn 2009
34
4.2.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ
34
a Thông tin về nuôi vỗ cá bố mẹ
34
b Thức ăn cho cá bố mẹ nuôi vỗ và cách cho ăn
34
c Quản lý chất lượng nước cá bố mẹ
35
d Thay nước cá bố mẹ
35
a Tỉ lệ sống của cá hương
37
b Thức ăn cho cá hương và cách cho ăn
37
c Thay nước cho cá hương
38
4.3. Đánh giá những ưu, nhược điểm trong quá trình sản xuất
40
4.3.1 Ưu điểm
40
4.3.2 Nhược điểm
41
4.4. Đề xuất và thử nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giống
cá dĩa tại Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao
Tp.HCM
41
c Hệ thống hóa các thông số kỹ thuật trong qui trình sản xuất giống cá dĩa tại
Trung tâm
47
Chương 5. KẾT LUẬN VÀ ĐẾ NGHỊ
48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
49
PHỤ LỤC
50
viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Hình dạng bộ máy sinh dục cá dĩa cái
Trang
6
Hình 2.2 Hình dạng bộ máy sinh dục cá dĩa đực
6
43
Hình 4.9 Cá con 20 ngày tuổi
43
Hình 4.10 Cá con 23 ngày tuổi
44
Hình 4.11 Cá hương NT I
44
Hình 4.12 Cá hương NT II
44
Hình 4.13 Cá hương NT III
44
ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn của cá dĩa
Bảng 4.8 Tỉ lệ sống của cá bột qua các đợt
29
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của thời gian tách bầy đến tỉ lệ sống của cá hương
31
Bảng 4.10 Thức ăn cho cá hương
32
Bảng 4.11 Chế độ thay nước cho cá hương
33
Bảng 4.12 Thông tin về cá bố mẹ nuôi vỗ năm
34
Bảng 4.13 Các thông số chất lượng nước nuôi vỗ cá bố mẹ
35
Bảng 4.14 Sức sinh sản thực tế
35
Bảng 4.15 Tỉ lệ sống của cá bột
Bảng 4.23 Chế độ thay nước cho các giai đoạn cá dĩa
46
x
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ngày nay, hầu như các loại cá cảnh phổ biến trên thế giới đều có mặt tại Việt Nam
với tổng số hơn 100 loài. Trong sự phong phú đó thì từ lâu cá dĩa đã được xem là một loài
cá cảnh nước ngọt có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng, có giá trị xuất khẩu
lớn. Theo sở NN & PTNT TP.HCM, 2003, cá dĩa chiếm 15% trong tỉ lệ cá cảnh xuất khẩu
ở nước ta. Cá dĩa hiện có vị trí cao trên thị trường cá cảnh bởi loại cá này rất khó cho sinh
sản nhân tạo, để sản xuất cá dĩa thành công đòi hỏi sự am hiểu kỹ thuật và kinh nghiệm.
Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao là đơn vị sự
nghiệp có thu trực thuộc Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao, được thành lập
ngày 22/11/2005 của UBND Tp.HCM. Nhằm hoạt động nghiên cứu khoa học trong các
lĩnh vực nông nghiệp, thực hiện trình diễn các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao và chuyển giao công nghệ. Trong đó mảng thủy sản đã đưa vào hoạt động
tại Trung tâm từ năm 2006, với nội dung nghiên cứu và hoàn thiện dần qui trình sản xuất
giống cá dĩa nhằm chuyển giao kỹ thuật đến cho người dân. Hiện nay, qui trình sản xuất
giống cá dĩa đã và đang sản xuất thử nghiệm tại Trung tâm.
Tuy nhiên, hiện việc sản xuất cá dĩa ở Trung tâm gặp một số khó khăn, trở ngại.
Điều đó có thể do Trung tâm mới thành lập, điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế, mô hình
nuôi cá dĩa cũng chỉ mới được sản xuất thử nghiệm và đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Trung
tâm còn non trẻ, chưa có kinh nghiệm nhiều trong sản xuất giống cá dĩa.
1
Loài: Symphysodon discus (Heckel, 1840);
S. aequifasciatus (Pellegrin, 1904)
Loài phụ: S. discus discus (Heckel, 1840);
S. discus willischwartzi (Burgees, 1981);
S. aequifasciatus aequifasciatus (Pellegrin, 1904);
S. aequifasciatus axelrodi (Schultz.L.P, 1960);
S. aequifasciatus haraldi (Schultz.L.P, 1960).
Ngoài ra còn nhiều loài tạp lai khác nên hiện nay cá dĩa trên thị trường rất đa dạng
và phong phú. Từ thập niên 50 của thế kỷ trước, cá dĩa được nuôi dưỡng và hơn 10 năm
sau đó được nuôi đại trà ở nhiều quốc gia trên thế giới như Hongkong, Đài Loan, Trung
quốc, Singapore, Úc, Đức, Nhật, Việt Nam.
3
2.1.2 Phân bố sinh thái
Cá dĩa có nguồn gốc từ lưu vực của hệ thống sông Amazone, ở những nhánh sông
có tính axit, nước mềm, chảy qua các nước Brazil, Colombia, Peru, Venezuela thuộc Nam
Mỹ. Chúng sống ở những hồ nhỏ nơi có những nhánh cây, rễ cây chìm trong nước, mực
nước sâu ít nhất 1m.
2.1.3 Môi trường sống
Ngoài tự nhiên, cá dĩa được tìm thấy trên hệ thống sông Amazone, nơi được chia
làm ba dạng thủy vực và có điều kiện môi trường như sau:
- Nước trắng: nước sông ở đây có màu vàng olive nhạt do chảy qua các vùng có
phù sa hay đất sét, pH: 6,9 – 7,1, 0dH: 3 – 8, nhiệt độ: 26 – 290C.
- Nước xanh (nước trong): nước ở những nhánh sông chảy qua các cao nguyên, có
pH: 6,9 – 7,3, dH: 5 – 12, nhiệt độ: 24 – 280C.
- Nước đen: do sự hòa tan của lá cây, rễ cây,.. khi bị mục nát, pH: 4,5 – 6,5, dH: 0
– 4, nhiệt độ: 26 – 300C.
Cá dĩa thường sống ẩn nấp trong các thân cây, rễ cây chìm trong nước, ở những
thủy vực có nước sạch, trong, có tính axit, nhóm nước đen và thường sống thành bầy.
đặc biệt phân nhánh có vách dày.
c Hình dạng bộ máy sinh dục
- Cá đực: Gai sinh dục ngắn, chia thành hai thùy nhọn và hơi cong về phía sau
- Cá cái: Gai sinh dục lồi ra khoảng 3 mm dạng tù, thẳng
5
Hình 2.1 Hình dạng bộ máy
sinh dục cá dĩa cái
Hình 2.2 Hình dạng bộ máy
sinh dục cá dĩa đực
(Trích bởi Phạm Thị Thanh Thúy, 2008)
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
a Tính ăn của cá dĩa
Cá dĩa là loài ăn tạp thiên về động vật, đặc biệt thích mồi sống di động. Giai đoạn
nhỏ thức ăn ưa thích là Artemia, Moina, Daphnia. Cá trưởng thành có thể ăn các loại thức
ăn như: trùng chỉ, tim, gan, thịt bò xay nhuyễn.
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn của cá dĩa
Thành phần dinh dưỡng
(%)
Thức ăn
Spirulina
Trùn chỉ
Artemia
-
13,46
11,2
-
0,14
-
-
-
55
66,3
64,3
> 35
Protein
Chất khô
β – caroten
Protein/trọng lượng thô
sắc thể hiện rõ. Khi cá 5 – 6 tháng, cá có màu sắc sặc sỡ của cá trưởng thành, nuôi và
chăm sóc tốt đến tháng thứ 10 cá có thể bắt cặp sinh sản.
2.1.7 Đặc điểm sinh sản
a Tuổi thành thục
Cá dĩa thành thục khi 12 tháng tuổi, nhưng nếu được nuôi dưỡng tốt có cá 9 – 10
tháng tuổi có thể bắt cặp và tham gia sinh sản.
7
b Sức sinh sản
Cá dĩa đẻ biến động từ 150 – 250 trứng. Thời gian tái thành thục: cá giữ con 1
tháng tuổi, cá không giữ con 7 ngày.
c Phân biệt đực cái
Cá dĩa rất khó phân biệt đực cái. Chỉ khi cá thành thục sinh dục xong thì mới phân
biệt được chính xác.
Cá đực
Cá cái
Dấu hiệu sinh dục sơ cấp
- Đầu to múp
- Đầu thuôn hơn
- Dáng điệu động hớn mạnh mẽ, các tia
- Dáng điệu động hớn mềm dẻo hơn
vây vương rộng và dài hơn
Dấu hiệu sinh dục thứ cấp
rùng mình liên tục. Cá tăng cường cạp ổ. Lúc này gai sinh dục dài ra hơn có thể phân biệt
được cá đực cá cái.
Trước khi bắt đầu đẻ trứng, cá cái sẽ đi thử vài đường từ dưới lên, cá đực đi tiếp
theo sau. Sau khi thấy thích hợp, chúng tiến hành đẻ trứng.
Cá cái đẻ trứng theo chiều dọc giá thể, từ dưới lên. Cá đực cũng theo lộ trình đó
tiết tinh để thụ tinh cho trứng. Thời gian đẻ trứng kéo dài 1 – 1,5 giờ.
d Chăm sóc trứng
Trứng được đẻ tập trung thành cụm. Lúc này cá bố mẹ dùng vây ngực quạt nước
và dùng miệng phun nước cung cấp oxy cho trứng và loại bỏ những trứng hư.
Sau 24 giờ, trứng thụ tinh chuyển sang màu trắng xám. Ở 300C trứng nở trong
vòng 55 – 57 giờ. Ở điều kiện nhiệt độ bình thường 26 – 280C, trứng sẽ nở trong khoảng
65 – 75 giờ (Axerod, 1972, trích bởi Nguyễn Ngọc Hân, 1984, trích bởi Huỳnh Thanh
Vân, 2006). Trong thời gian này, bể đẻ cá nên đặt ở nơi yên tĩnh, tránh để cá hoảng sợ
như tiếng động, người lạ, thay đổi điều kiện sinh thái đột ngột, cá bố mẹ có thể ăn trứng.
Tỉ lệ nở đạt khoảng 60 – 90%.
e Chăm sóc cá con
Cá mới nở chưa bơi lội được, bám vào giá thể và dinh dưỡng bằng noãn hoàng. Cá
bố mẹ sẽ dùng miệng ngậm con đến một vị trí sạch khác trên giá thể. Khi cá con rơi khỏi
giá thể, cá bố mẹ sẽ dùng miệng ngậm con và phun trở lại giá thể. Cá bố mẹ luôn bơi bên
cạnh chăm sóc và bảo vệ cá con.
Sau khoảng 3 – 4 ngày cá con nở ra, có thể bơi lội tự do. Lúc này, cá con bám trên
mình cá bố mẹ, dinh dưỡng nhờ chất nhầy tiết ra từ mình cá bố mẹ. Chất nhầy này rất
quan trọng, là một loại chất dinh dưỡng cho cá con như sữa. Thời kỳ nuôi con kéo dài 14
– 18 ngày, trong thời nuôi con cá bố mẹ có màu sắc sậm, chúng không ăn hoặc ăn rất ít.
9
2.2 Tổng quan về qui trình sản xuất giống cá dĩa
2.2.1 Chọn bể cho cá đẻ
Theo Đoàn Khắc Độ (2006), bể có kích thước 70 – 80 cm x 50 cm x 40 cm là vừa
vòng 10 – 15 ngày (nếu không nuôi con), hoặc 30 – 40 ngày (nếu phải nuôi con). Cá
thường đẻ vào buổi chiều lúc nhiệt độ trong hồ tăng, quá trình cá đẻ kéo dài khoảng 1 – 2
giờ. Nhiệt độ khoảng 280C, trứng sẽ nở sau 48 tiếng hoặc nở sau 45 tiếng ở nhiệt độ 300C
(Đoàn Khắc Độ, 2006).
- Cá dĩa thường hay đẻ sau khi mới thay nước cho hồ. Cá dĩa thường đẻ trứng vào
buổi chiều, thời gian đẻ có thể kéo dài từ 1,5 giờ đến 3 giờ tùy theo số lượng trứng nhiều
hay ít. Trong thời gian cá đang đẻ, không nên bơm oxy gần nơi giá thể chỗ cá đẻ và tạm
ngưng máy lọc nước để tránh hơi nước phun quá mạnh làm trôi tinh của cá đực có thể làm
trứng không thụ tinh. Tùy theo chất lượng cá bố mẹ, số lượng trứng có thể nhiều hay ít,
nhưng trung bình từ 150 trứng trở lại, nếu đậu tốt có thể lên đến 200 trứng hoặc hơn nữa.
Nên dán giấy màu rong biển bên ngoài hồ để hạn chế tối đa người đến xem và tránh
những tiếng động lớn có thể làm cá bố mẹ hốt hoảng dẫn đến tình trạng chúng sẽ tự ăn
trứng của chúng. Sau 24 giờ, những trứng thụ tinh tốt sẽ chuyển sang màu trắng xám,
trứng bị hư có màu đục. Nhiệt độ 28 – 300C, trứng sẽ nở sau 60 giờ, nhiệt độ thấp hơn
trứng nở chậm hơn khoảng 65 giờ đến 75 giờ. Trứng sẽ nở từ 60 – 90% tổng số lượng tùy
theo tốt hay xấu (Vĩnh Khang, 1996).
- Nước trong bể cá đẻ phải sạch và đảm bảo pH nước cho cá đẻ từ 6,5 – 7,0 với độ
cứng nước < 100ppm CaCO3, nhiệt độ nước 280C, tập tính đẻ trứng của cá diễn ra trong
vòng 1 – 2 tuần lễ, nếu như trong khoảng thời gian này cặp cá không đẻ thì ta tiến hành
thay 50% - 70% nước trong bể tạo môi trường giống như điều kiện ngoài tự nhiên ở dòng
sông Amazon, để kích thích cặp cá đẻ trứng. Cá thường đẻ trứng vào buổi chiều hoặc buổi
tối, số lượng trứng phụ thuộc vào chất lượng cá bố mẹ trung bình số lượng trứng từ 150 –
200 trứng. Trứng sẽ nở sau 50 – 60 giờ phụ thuộc vào nhiệt độ nước, trứng sẽ nở sớm hơn
nếu nhiệt độ nước trong bể cá đẻ cao hơn. Trường hợp trứng không thụ tinh có thể do
trứng cá bị nấm, do cá trống yếu tinh hoặc hai con cá mái bắt cặp với nhau. Để hạn chế
trứng cá bị nấm thì sau khi cá đẻ xong ta bơm xanh methylene vào trong giá thể trứng
(Chan Kok Eng, 1991).
11
(1996); Chan Kok Eng (1991) khi cá con được từ 2 – 3 tuần thì tách cá con ra bể khác để
nuôi riêng.
2.3 Tổng quan về các chỉ tiêu chất lượng nước trong nuôi cá cảnh
2.3.1 Chỉ số pH nước
Chỉ số pH nước biểu thị độ axit, trung tính hay độ kiềm của nước. Chỉ số pH nước
có giá trị từ 0 đến 14, trong đó nước trung tính có pH là 7, nước có tính axit có pH dưới 7
và nước có tính kiềm có pH trên 7. Mỗi loài cá cảnh đều cần khoảng pH nước thích hợp
để phát triển, nếu pH không thích hợp sẽ ảnh hưởng lên khả năng sinh trưởng, đề kháng
bệnh, thậm chí gây sốc pH và làm chết cá. pH tăng hay giảm cũng ảnh hưởng đến sự phân
hủy và hàm lượng độc chất ammonia, nitrit trong bể. Tuy nhiên ảnh hưởng quan trọng
hơn là ảnh hưởng gián tiếp của pH thông qua môi trường nước. Độ pH ảnh hưởng đến
nồng độ hòa tan các muối dinh dưỡng, đến độ cứng của nước, thành phần các độc tố. Khi
pH càng cao, hàm lượng ammonia dạng không phân ly (NH3) càng nhiều và rất có hại cho
cá, ngược lại khi pH càng giảm, thì độc tính khí H2S càng tăng (Tạp chí cá cảnh Việt
Nam, 08/01/2009). pH thích hợp cho cá dĩa sinh sản phát triển từ 6,5 – 7,5. Cần định kỳ
thường xuyên kiểm tra pH bằng các phương pháp dùng máy đo pH, giấy quỳ kiểm tra pH
hoặc có thể dùng thuốc thử pH chuyên dùng để giữ độ pH ổn định trong khoảng thích
hợp.
Nếu pH nước quá thấp, có thể làm tăng pH lên bằng các phương pháp sau: độ pH
nước trong bể nuôi sẽ giảm dần theo thời gian nuôi, cần thay nước thường xuyên, tăng
cường sục khí (để giảm lượng khí CO2 gây hạ pH) và định kỳ hút các chất thải và mùn bã
ở đáy bể (để ngăn sự phân hủy chất hữu cơ làm hạ pH). Thêm bột sôđa (1 muỗng càphê/
20 lít nước bể) hay vỏ sò để tăng độ pH. Tránh lạm dụng các hóa chất chỉ làm tăng độ pH
tức thời nhưng không giữ pH ổn định (Vũ Cẩm Lương , 2008).
Nếu pH nước quá cao thì giảm độ pH như sau: có thể dùng nguồn nước có pH thấp
(như nước giếng ngầm) để pha thêm và sục thêm khí CO2 (Vũ Cẩm Lương , 2008).
13
14