I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Giáo dục đào tạo của nước ta ngày nay đang có những bước phát triển
mạnh mẽ trên con đường hội nhập, nhưng cũng có những biểu hiện rất đáng lo
ngại đó là vấn đề đạo đức nhà giáo, đạo đức học sinh, sự gia tăng về các tệ nạn
xã hội ở nhiều lứa tuổi khác nhau…., đặc biệt là đối với học sinh nữ nói chung
và học sinh nữ vùng dân tộc thiểu số nói riêng, các em là đối tượng dễ bị tổn
thương nhất về tâm sinh lí và tinh thần. Ngày nay, khi xem qua các trang mạng
xã hội không khó để chúng ta có thể tìm các trang website có chứa những đoạn
video về bạo lực học đường có liên quan đến học sinh nữ, hoặc học sinh nữ bị
lợi dụng tình dục, phải bỏ học và những vụ việc ấy không chỉ diễn ra với học
sinh miền xuôi mà với cả học sinh miền núi và đặc biệt là học sinh người dân
tộc thiểu số. Sự bùng nổ về thông tin, mạng xã hội các em có sự giao lưu giao
tiếp trên những diễn đàn mà ở đó sự phân biệt đúng sai của các em chưa thật sự
rõ ràng, sự thiếu hiểu biết của các em về kĩ năng sống cũng như thiếu sự định
hướng đúng đắn của gia đình, giáo viên và cả các tổ chức xã hội, đã dẫn đến
những hệ lụy vô cùng to lớn.
Đứng trước những vấn đề liên quan đến công tác hỗ trợ chăm sóc tâm lí cho
học sinh. Ngày 18/12/2017, Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành Thông tư số
31/2017/TT-BGDĐT về việc hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lí cho học
sinh ở các trường phổ thông. Thông tư đã nêu rõ những nội dung và hình thức
thực hiện công tác tư vấn cho học sinh nhưng để thực hiện được công tác tư vấn
cần phải có các nhà tư vấn chuyên nghiệp mà trong thực tế hầu hết các trường
học đều chưa có. Bởi vậy nhiệm vụ hỗ trợ tâm lí cho học sinh đặc biệt là học
sinh nữ chủ yếu là giáo viên chủ nhiệm và giáo viên phụ trách công tác Đội.
Riêng đối với học sinh nữ người dân tộc số thiểu số khi lên học bậc THCS
ở các trường bán trú, con đường đến với cái chữ của các em đầy gian nan và vất
vã, khi bước vào cái tuổi đầy biến động về cơ thể và tâm lí thì các em lại phải
sống xa gia đình, phải ở lại bán trú tại trường để theo học, do khoảng cách từ
nhà đến trường của các em có nơi đến 20 km đường rừng núi, chủ yếu là đi bộ,
các em đã phải tự thân lo hết mọi việc. Vì những lí do đó mà có nhiều em không
những giải pháp của mình và nhận được những góp ý bổ sung để tôi có thể tiếp
tục có những giải pháp phù hợp hơn nữa giúp đỡ học sinh thân yêu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc chăm sóc hỗ
trợ học sinh nữ người dân tộc thiểu số ở trường PTDTBT THCS.
3. Đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh nữ trường PTDTBT THCS Tam Chung.
- Các giải pháp của giáo viên trong việc chăm sóc hỗ trợ học sinh nữ người
dân tộc thiểu số ở trường PTDTBT THCS Tam Chung.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Lập kế hoạch, nghiên cứu, tìm hiểu tư vấn, lấy phiếu điều tra, hỗ trợ, đàm
thoại. Phân tích tổng hợp, tham khảo tài liệu, học hỏi đồng nghiệp.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
* Một số khái niệm về chăm sóc hỗ trợ tâm lí học sinh:
“Chăm sóc hỗ trợ tâm lí cho học sinh THCS là quá trình tác động có chủ
định của thầy cô giáo đến trẻ em nhằm giúp các em vượt qua những rào cản về
tâm lí trong cuộc sống cũng như tham gia vào các hoạt động ở trường, gia đình
và cộng đồng.
Chăm sóc tâm lí là một quá trình đi từ những hiểu biết của thầy cô giáo về
học sinh đến việc phát hiện những vướng mắc rào cản tâm lí của học sinh để từ
đó có những tác động can thiệp phù hợp.
Chăm sóc tâm lí học sinh bao gồm cả hoạt động hướng dẫn tư vấn. Tuy
nhiên, đó là những hoạt động hướng dẫn tư vấn để can thiệp tích cực vào lĩnh
vực thái độ tình cảm của đố tượng học sinh được chăm sóc. Chăm sóc tâm lí cho
học sinh dựa trên nền tảng của sự hiểu biết và tình cảm của thầy cô giáo và từng
đối tượng học sinh của hoạt động này”[1].
2
xa tiếp tục phát triển.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm.
Thực trạng đời sống tâm lí học sinh THCS ngày nay nói chung đang có
nhiều vấn đề hết sức đáng lo ngại. “Ngoài xã hội, các em phải đối mặt với
những cám dỗ của các trò chơi, các trang thông tin mạng,… Và bản thân các em
cũng phải lúng túng với những vấn đề mới nảy sinh: những thay đổi về tâm sinh
lý, tình yêu tuổi học trò, … Cá biệt, có những em vấp phải vấn đề nghiêm trọng
hơn:lệch lạc về giới tính, bạo hành gia đình, tệ nạn xã hội,… Đối diện với những
vấn đề phức tạp đó, rất nhiều em sẽ không biết nhìn nhận, giải quyết vấn đề như
thế nào cho hợp lý”[2]. Bởi vậy nhiều học sinh có thể trở nên hung hăng sẵn
sàng đánh nhau hoặc kết bè, kéo cánh để đánh bạn chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ
trong cuộc sống. Một số em bị lạm dụng tình dục, cũng có khi các em quan hệ
với bạn cùng lớp dẫn đến có thai phải nghỉ học.
3
Đối với học sinh trường PTDTBT THCS Tam Chung, các em chủ yếu là ở
giai đoạn tuổi dậy thì, đây cũng là lúc đa phần các em phải xa gia đình ở lại bán
trú tại trường, các em bắt đầu phải tự mình lo cho bản thân trong khi đó bản thân
các em lại có rất nhiều rào cản, cụ thể như rào cản về khả năng giao tiếp và khả
năng hòa nhập trong môi trường bán trú.
Với đề tài này, tôi đã nghiên cứu từ năm học 2016-2017 và cùng với đồng
nghiệp tiến hành khảo sát, tìm hiểu, vận dụng, chia sẻ kinh nghiệm trong toàn
trường, trong đó có lớp 6B do tôi chủ nhiệm. Cụ thể về khảo sát thực trạng của
các em học sinh như sau:
1. Bảng thăm dò về khả năng giáo tiếp của học sinh với bạn bè và
thầy cô trong trường của học sinh nữ lớp 6B năm học 2016-2017.
Khả năng giao tiếp
Số lượng học sinh/ tổng
Tỉ lệ %
cho học sinh. Các lực lượng tham gia vào công tác này, đều là những lực lượng
không chuyên, không được đào tạo bài bản về công tác chăm sóc hỗ trợ tâm lí.
Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm lớp không chỉ cần đảm bảo tốt nhiệm vụ chuyên
môn mà còn là chỗ dựa tinh thần cho học sinh khi xa gia đình. “Mặc dù không
phải là nhà tư vấn chuyên nghiệp nhưng chính cách ứng xử, xử lí tình huống của
giáo viên, sự thông cảm, yêu thương của cô giáo cũng chính là động lực để các
em vượt qua những vấn đề khó khăn về tâm lí”[2].
3. Các giải pháp thực hiện.
3.1.Một số biện pháp nắm bắt những đặc điểm nổi bật về tâm lí học
sinh nữ người dân tộc thiểu số ở trường.
“Người giáo viên cần phải nắm và am hiểu sự phát triển tâm sinh lí của học
sinh trung học cơ sở để có biện pháp giáo dục không phải là khuôn mẫu, mỗi
4
con người đều có hoàn cảnh, có tâm sự, có tình cảm, tính cách khác nhau cho
nên việc am hiểu các em và tìm biện pháp giáo dục thích hợp” [3].
Để có thể nắm bắt được những đặc điểm tâm lí nổi bật của học sinh giáo
viên trường PTDTBT THCS Tam Chung đã áp dụng có hiệu quả những giải
pháp trong Bồi dưỡng thường xuyên, Modun 11 bậc THCS và những giải pháp
mang đặc điểm riêng của nhà trường như sau:
3.1.1. Tìm hiểu về những phong tục tập quán, đặc điểm tâm sinh lí của
đồng bào dân tộc thiểu số nơi mình đang công tác.
Đây là việc làm đầu tiên hết sức quan trọng đối với giáo viên như tôi là
người miền xuôi lên công tác tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có đồng bào
dân tộc thiểu số sinh sống. Giáo viên trước khi muốn hiểu và chia sẽ với các em
phải hiểu được phong tục tập quán của dân tộc các em trước. Vì vậy, để tìm hiểu
về những phong tục tập quán, bản thân đã tự nghiên cứu, tìm hiểu qua sách vở,
báo trí, trong đó có báo Thiếu niên dân tộc thiểu số. Đây là Tờ báo có rất nhiều
Từ những thông tin thu thập được qua phiếu điều tra ta có thể lấy được rất
nhiều nguồn thông tin về các em như: sở thích, nguyện vọng, mơ ước… từ đó
thấy được phần nào tính cách của các em. Hơn nữa, khi nắm được người mà em
kính trọng thân thiết thì có thể phối hợp với người đó để hỗ trợ tâm lí cho các
em khi cần thiết.
- Sau khi thu thập được nguồn thông tin học sinh trong lớp học và trong
phòng kí túc mà mình quản lí thông qua Phiếu điều tra. Từ đó, có thể nhận ra
những đặc điểm chung và những đặc điểm riêng của học sinh về tâm sinh lí của
các em.
Từ những ngày đầu tiên, học sinh bước vào lớp 6, giáo viên đã chủ động
thống kê thông tin học sinh trong lớp học, đặc biệt chú ý quan tâm nhiều đến đối
tượng học sinh nữ, cần tổng hợp các nội dung như: họ tên học sinh; người dân
tộc, độ tuổi và đặc điểm tâm lí của các em thông qua tiếp xúc với các em trên
lớp trong các tiết sinh hoạt lớp hoặc các hoạt động chung của lớp để nắm được
đặc điểm cá nhân của các em. Để nắm bắt những đặc điểm cá nhân của các em
giáo viên chủ nhiệm có thể qua những buổi tiếp xúc với các em ở trên lớp.
1. Danh sách đặc điểm cá nhân của học sinh nữ người dân tộc thiểu số
lớp 6B năm 2016-2017.
TT
1
Họ tên học sinh
Hà Thị Chinh
Dân tộc
Thái
Tuổi
- Ngoan ngoản, biết vâng lời.
- Xinh xắn.
- Ngoan ngoản, chăm chỉ.
- Ít nói.
- Ngoan ngoản, chưa chăm chỉ.
- Nhút nhát.
6
5
Giầng Thị Gống
Mông
12
6
Hà Ngọc Mai
Thái
12
7
8
Vị Thị Ngọc
12
- Ngoan ngoản, chăm chỉ.
- Nhút nhát, ít nói.
- Ngoan ngoản , Chăm chỉ, tích cực
tham ra các hoạt động của lớp.
- Năng động, tích cực.
- Ngoan ngoản nhưng chưa chăm
chỉ, ít nói, hay vắng học.
- Ngoan ngoản, ít nói
- Ngoan ngoản, ít nói
- Ngoan ngoản, dễ gần .
- Ngoan ngoản, chăm chỉ .
- Ngoan ngoản, khó gần.
2. Danh sách đặc điểm cá nhân của học sinh nữ phòng ở kí túc xá, phòng 9.
TT
1
2
Họ tên học sinh
Giàng Thị Dợ
Sùng Thị Chơ
Dân tộc
Mông
Mông
9A
7B
Giàng Thị Cha
Sùng Thị Vua
Mông
Mông
6A
7A
Đặc điểm cá nhân
Ngoan ngoản, chăm chỉ,dễ gần.
- Ngoan ngoản, chăm chỉ .
- Ít nói.
- Ngoan ngoản, chưa chăm chỉ.
- Nhút nhát.
- Ngoan ngoản, nhút nhát.
-Ngoan ngoản, chăm chỉ.
- Ngoan ngoản chăm chỉ có năng
khiếu văn nghệ.
- Ngoan ngoản, ít nói.
- Ngoan ngoản, ít nói.
Từ phiếu điều tra cũng như việc thống kê số học sinh nữ trong lớp trong
trường giáo viên có thể nhận thấy được học sinh người dân tộc thiểu số ở mỗi
một dân tộc khác nhau các em lại mang những đặc điểm riêng về tính cách mà
giáo viên có thể nhận biết. Đối với các em học sinh nữ người dân tộc Thái,
Mường các em rất nhanh nhẹn và dễ gần gũi. Nhưng ngược lại, đối với các em
học sinh người dân tộc Mông lại rất nhút nhát, không cởi mở. Bởi vậy, giáo
viên cần phải tìm hiểu nguyên nhân và có những giải pháp cụ thể, phù hợp với
các đối tượng học sinh.
nhưng thiếu cân đối về mặt trí tuệ, đạo đức. Trong các em tồn tại song song đặc
điểm của cả trẻ con và người lớn. Các em muốn chứng tỏ mình là người lớn,
được đối xử như người lớn. Có rất nhiều vấn đề các em thắc mắc nhưng lại xấu
hổ không biết hỏi ai.
* Về mặt sinh lý:
Ở độ tuổi dậy thì, là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều.
Tầm vóc các em lớn khá nhanh, hệ xương phát triển mà chủ yếu là xương ống
tay, xương ống chân, xương ngón tay, ngón chân phát triển chậm vì thế thiếu sự
cân đối. Sự phát triển hệ tim mạch cũng không cân đối. Hệ thần kinh của các em
chưa có khả năng chịu đựng kích thích mạnh mẽ hoặc đơn điệu kéo dài... Các
em sẽ gặp rất nhiều bối rối, bỡ ngỡ thậm chí là sợ hải khi đối mặt với những
thay đổi của cơ thể mình. Tuy nhiên, đối với học sinh dân tộc miền núi lại có sự
phát triển cơ thể chậm hơn so với học sinh miềm xuôi và thành phố về chiều
cao, cân năng, theo thông kê số liệu thu tập được trong nhà trường thì cân nặng
phổ biến của các em ở lớp 6 là từ 20- 30 kg, lớp 7 là từ 23 – đến 35 kg. Vì vậy,
giáo viên cần phải có sự theo dõi phát hiện những thay đổi mặt sinh lí của các
em để có các giải pháp phù hợp.
* Một số vấn đề về tâm lý của thiếu niên.
Đây là thời kì mà các em có sự phát triển mạnh mẽ về mặt tâm lí. Có khả
năng phân tích, tổng hợp khi tri giác các sự vật, hiện tượng. Trí nhớ của các em
phát triển mạnh, đặc biệt là trí nhớ có chỉ định. Khối lượng ghi nhớ được tăng
lên. Khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa trừu tượng hóa ở các em phát
triển mạnh. Nhu cầu khẳng định mình của các em phát triển mạnh mẽ, các em
rất muốn được chứng minh, thể hiện mình trước mọi người. Các em có nhu cầu
lớn trong giao tiếp với mọi người. Có khát vọng được bạn bè thừa nhận, tôn
trọng. Các em đã bắt đầu quan tâm đến tình bạn khác giới. Điều này ảnh hưởng
đến tính ngượng ngùng, e thẹn của các em. Bắt đầu xuất hiện sự quan tâm đến
bản thân, đến những phẩm chất của mình. Các em có nhu cầu tự đánh giá và so
8
Năm học 2017-2018, Trường PTDTBT THCS Tam Chung có 10 lớp/ 342
học sinh, số học sinh nữ có 139, trong đó số học sinh nữ dân tộc thiểu số chiếm
100%, cụ thể: học sinh nữ dân tộc Mông có 86 em, Thái 45 em và Mường có 8
em.
Ngay khi bước vào đầu năm học mới, Ban giám hiệu nhà trường đã thành
lập Tổ tư vấn, hỗ trợ học sinh. Thành phần tổ tư vấn, hỗ trợ học sinh gồm: Đại
diện lãnh đạo nhà trường làm tổ trưởng; thành viên của tổ tư vấn bao gồm giáo
viên chủ nhiệm lớp, nhân viên y tế học đường, giáo viên phụ trách công tác
Đoàn, Đội, đại diện cha mẹ học sinh và một số học sinh là cán bộ lớp. Sau khi
thành lập tổ tư vấn, nhà trường đã xây dựng Kế hoạch và phân công nhiệm vụ
đến từng thành viên về nhiệm vụ chăm sóc hỗ trợ tâm lí cho học sinh. Căn cứ
vào Kế hoạch của nhà trường, mỗi thành viên trong tổ đều phải lên kế hoạch cá
nhân cụ thể và phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc tổ chức các hoạt động như:
hoạt động ngoài giời lên lớp, các tiết sinh hoạt dưới cờ theo các chủ đề, chủ
9
điểm. Đối với học sinh gặp vấn đề khó khăn về tâm lí giáo viên cần có kế hoạch
tư vấn cụ thể cho từng trường hợp để có thể đạt hiệu quả cao.
3.3.2. Khuyến khích các em sử dụng tiếng phổ thông thường xuyên.
Đây là việc làm tưởng chừng như không liên quan gì tới việc chăm sóc hỗ
trợ tâm lí học sinh, nhưng đó lại là một việc làm vô cùng quan trọng tác động
đến sự phát triển tâm sinh lí, khả năng giao tiếp của học sinh. Đối với các em
học sinh người dân tộc thiểu số, việc sử dụng tiếng phổ thông là ngôn ngữ thứ
hai của các em, nên khả năng giao tiếp, sử dụng tiếng phổ thông của các em rất
hạn chế. Do đó, giáo viên cần làm tốt công tác tuyên truyền và làm cho các em
hiểu được vê tầm quan trọng của tiếng phổ thông, các em cần phải sử dụng
thành thạo tiếng phổ thông, đây là ngôn ngữ của quốc gia, có như vậy, các em
mới có thể tiếp thu được bài học. Bên cạnh đó, giáo viên cần phải thường xuyên
gặp gỡ, trao đổi, tiếp xúc, nói chuyện với các em, khuyến khích các em sử dụng
10
tham dự các hoạt động thi đua nhân các ngày lễ lớn như Khai giảng, Đêm trung
thu, ngày 20/11, ngày 8/3…và tham gia các Hội thi do nhà trường phát động và
các ban ngành tổ chức. Ban đầu, các em rất ngần ngại, nhưng khi tham gia các
em rất nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm. Thông qua các hoạt động văn hóa,
thể dục thể thao, các em học sinh đã hòa đồng, đoàn kết với nhau hơn và mạnh
dạn hơn trong mọi mặt, tình cảm giữa thầy cô và học trò cũng trở nên gắn kết và
thân thiết hơn.
Ảnh kỷ niệm đội tuyển học sinh giỏi thể dục thể thao của trường năm học 2017-2018
Đội văn nghệ nữ của trường chuẩn bị biểu diễn ngày 20/11/2017
3.3.4. Giáo viên thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyên, trao đổi với
học sinh nữ khu kí túc xá của nhà trường.
Đối với giáo viên quản lí phòng kí túc xá, các thầy cô quản lí như là người
cha, người mẹ của các em ở trường, khi có vấn đề gì xảy ra thì các thầy, cô quản
lí khu kí túc xá là người có mặt đầu tiên để giúp đỡ các em. Vì vậy, giáo viên
cần thường xuyên trao đổi, nói chuyện với các em, nó sẽ tạo cho các em sự tin
tưởng, gần gủi. Từ đó các em mới có thể chia sẽ với thầy, cô những khó khăn,
11
vướng mắc trong học tập, cuộc sống ở trường và gia đình. Luôn tạo cho các em
có cảm giác an toàn trong phòng ở, bằng cách xây dựng một bầu không khí ấm
cúng "gia đình", để các em thật sự cảm thấy phòng ở là nhà và bạn bè, thầy cô là
những người thân.
chức khéo léo để học sinh có thể giải bày tâm sự của mình, học sinh có thể gửi
những câu hỏi những thắc mắc của mình về cho giáo viên chủ nhiệm lớp và các
em sẽ được giữ bí mật thông tin. Từ các buổi sinh hoạt đó mà mọi thắc mắc của
các em được giải đáp phần nào và qua đó các bạn khác cũng có thể giải đáp
những thắc mắc của bản thân.
3.3.7. Kết hợp với gia đình, hội phụ nữ, ban dân số xã trong việc vận
động, tuyên truyền về phong tục tập quán, hủ tục lạc hậu .
Các em học sinh đặc biệt là học sinh người Mông thường được bố mẹ dựng
vợ gã chồng từ rất sớm, bởi vậy nhiều em học sinh nữ bước vào tuổi 14, 15 là đã
bị bố mẹ, bạn bè giục đi lấy chồng. Bản thân các em cũng quan niệm 18, 20 tuổi
chưa lấy chồng đã là già và sẽ không có ai lấy.
Như trường hợp của em Sùng Thị Tồng lớp 7B. Mặc dù mới là học sinh lớp
7 nhưng em đã 14 tuổi, sau thời gian nghỉ tết Nguyên đán năm 2017, em bỏ học
không ra lớp. Nhận thấy học sinh không ra lớp, giáo viên chủ nhiệm lớp đã nắm
bắt tình hình của em qua các bạn trong lớp, thì được biết em muốn bỏ học ở nhà
để đi lấy chồng. Giáo viên chủ nhiệm đã liên lạc qua điện thoại và trao đổi với
phụ huynh đề nghị để em trở lại lớp, phụ huynh có ý định không muốn em tiếp
tục theo học mà muốn em ở nhà để lập gia đình sớm. Nắm bắt được thông tin
này, giáo viên chủ nhiệm đã báo cáo với Ban giám hiệu nhà trường và cùng với
nhà trường mời đại diện các tổ chức như đại diện Hội phụ nữ, ban dân số xã vào
tận nhà của em để vận động gia đình tiếp tục tạo điều kiện để em trở lại trường
theo học, đồng thời tuyên truyền hãy bỏ các hủ tục lạc hậu, tránh hiện tình trạng
tảo hôn lập gia đình sớm vì em chưa đủ tuổi vị thành niên. Kết quả, cho đến nay
em đã trở lại lớp đi học bình thường nhưng giáo viên chủ nhiệm vẫn phải tiếp
tục theo dõi động viên em và gia đình tạo điều kiện để em tiếp tục theo học.
3.3.8. Kết hợp, hỗ trợ tư vấn tâm lí cho học sinh nữ với học sinh nam
trong nhà trường.
Đối với học sinh nam trong trường do ở bán trú các em có cơ hội tiếp xúc
với nhau thường xuyên dễ nảy sinh tình cảm, trong khi đó học sinh nam thường
đi học muộn hơn so với tuổi nên các em thường nảy sinh ý định “bắt” bạn gái
bán trú trong khu kí túc xá, phòng 1 của nhà trường. Các em này thường nảy
sinh mâu thuẫn với nhau, đến mức không nói chuyện với nhau và nghiêm trọng
hơn là các em còn thách thức sẵn sàng đánh nhau, em Hà Ngọc Mai đã nói
chuyện này với giáo viên chủ nhiệm lớp 7B. Ngay khi biết được thông tin giáo
viên chủ nhiệm lớp đã phối hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp có liên quan trực
14
tiếp đến phòng ở kí túc xá để tìm hiểu nguyên nhân, chỉ cho các em thấy cái sai
của mình và xin lỗi lẫn nhau. Kể từ đó các em đã hiểu nhau nhiều hơn và ngày
càng thân thiết, giúp đở nhau trong học tập và cuộc sống.
3.3.10. Thực hiện nguyên tắc bí mật” trong công tác tư vấn.
Đối với những học sinh có những thắc mắc mang tính riêng tư đặc biệt liên
quan đến vấn đề tình yêu, vấn đề về cảm xúc, sự lệch lạc trong giới tính cũng
như trong cách suy nghĩ... giáo viên cần phải có sự tư vấn riêng, đảm bảo tính
riêng tư, kín đáo, dễ tiếp cận và phù hợp để tổ chức hoạt động tư vấn. Giáo viên
phải đảm bảo những điều các em chia sẻ mang tính riêng tư và phải tuyệt đối bí
mật giữa cô và trò. Từ đó sẽ tạo nên sự tin tưởng của học sinh đối với giáo viên.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Khi thực hiện đề tài này tôi đã nhận được sự giúp đỡ và kết hợp của tập thể
cán bộ giáo viên trong nhà trường, các đồng chí phụ trách công tác đội và thực
hiện công tác bồi dưỡng thường xuyên ở nhà trường kết quả thu được thực tế hết
sức khả quan đó là. Số học sinh nữ được tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ đạt 100%, điều
đó đã tác động trực tiếp đến các hoạt động giáo dục của nhà trường như sau. Số
học sinh nữ bỏ học giảm theo từng năm, số vụ bạo lực học đường của học sinh
nữ trong lớp và kí túc xá không còn. Số học sinh nữ tiếp tục vào học lớp 10
THPT ngày càng tăng, chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn của các khối lớp
đã được cải thiện.
1. Bảng thăm dò về khả năng giáo tiếp của học sinh với bạn bè và
1. Kết luận.
Công tác chăm sóc hổ trợ tâm lí cho các em là một việc làm hết sức quan
trọng đặc biệt là đối với trường bán trú, việc hỗ trợ chăm sóc tâm lí cho các em
không chỉ giúp cho các em vượt qua những khó khăn những rào cản về tâm lí
mà còn giúp cho các em có thể học tập tốt hơn, tham gia các hoạt động phong
15
trào tích cực hơn. Mỗi giáo viên chúng ta hãy nhiệt huyết và dành tình yêu
thương của mình tất cả vì học sinh thân yêu và hãy luôn trân trọng nó và coi nó
như tình yêu của người mẹ người cha đối với những đứa con của mình.
Những giải pháp của đề tài này được dựa trên những biện pháp chung mà
tập thể giáo viên trong trường PTDTBT THCS Tam Chung đã và đang thực
hiện, áp dụng. Kết quả đạt được tuy chưa phải là nhiều nhưng nhận thấy được sự
tiến bộ từ trong ý thức, trong hành động cũng như trong kết quả học tập của học
sinh, nên tôi mạnh dạn chia sẽ sáng kiến của mình cùng với đồng nghiệp và
mong nhận được sự nhận xét đánh giá góp ý của hội đồng khoa học và đồng
nghiệp để tôi có thể cùng với cán bộ giáo viên trường PTDTBT THCS Tam
Chung tiếp tục sát cánh bên mái trường và học sinh Mường Lát thân yêu.
2. Kiến nghị.
- Về phía nhà trường:
+ Nhà trường bố trí phòng hỗ trợ tư vấn tâm lý đảm bảo tính riêng tư, kín
đáo, dễ tiếp cận và phù hợp để tổ chức hoạt động tư vấn; trang bị cơ sở vật chất,
trang thiết bị, tài liệu, học liệu cần thiết để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ tư vấn.
+ Cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác chăm sóc hỗ trợ tâm lí cho
học sinh, đặc biệt có sự hỗ trợ về mọi mặt trong các buổi tổ chức hoạt động
ngoại khóa về công tác hỗ trợ tâm lí cho học sinh.
- Về phía phòng GD&ĐT, Sở giáo dục:
+ Cần tổ chức thêm các buổi tập huấn cho giáo viên về vấn đề tư vấn hỗ trợ
tâm lí cho học sinh đặc biệt là đối với giáo viên các trường có học sinh bán trú.
ĐHQG Hà Nội.
Giáo trình tâm lí học đại cương. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn Nhà
xuất bản Đại học sư phạm.
17
MỤC LỤC
TT
I
1
2
3
4
II
1
2
3
4
III
1
2
Nội dung
Mở đầu
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung
Họ và tên tác giả: Đỗ Thị Dung
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường PTHDBT THCS Tam Chung,
TT
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh giá
xếp loại
Kết quả
đánh giá
xếp loại
Năm học
đánh giá
xếp loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh; Tỉnh...)
(A, B, hoặc C)
Cấp huyện
B
2008-2009
Cấp tỉnh
thân thiện trong lớp học có
học sinh thuộc các thành phần
dân tộc khác nhau ở trường
THCS Tam Chung.
19
Một số kinh nghiệm tổ chức
4.
thành công buổi họp phụ
huynh đầu năm học ở trường
Cấp huyện
A
2015-2016
PTDTBT THCS Tam Chung.
----------------------------------------------------
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT HUYỆN MƯỜNG LÁT
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC