Một số biện pháp dạy lồng ghép giáo dục môi trường thông qua môn tự nhiên và xã hội lớp 3 - Pdf 53

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẬU LỘC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY LỒNG GHÉP
GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA
MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hà Thu
Chức vụ: Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thuần Lộc
SKKN thuộc môn: Tự nhiên và Xã hội


THANH HÓA, NĂM 2018

MỤC LỤC

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận.
2.1.1. Vai trò của môi trường.
2.1.2. Mục tiêu giáo dục môi trường ở bậc tiểu học.
2.1.3.Tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường ở trường
tiểu học.

20



1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Môi trường đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của chúng
ta. Giáo dục môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục
hình thành và phát triển ở học sinh sự hiểu biết và quan tâm tới những vấn đề
về môi trường, tạo điều kiện cho các em tham gia vào sự phát triển một xã hội
bền vững về sinh thái.
Giáo dục bảo vệ môi trường nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng
có sự hiểu biết và nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó, những
khái niệm cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường, những tình cảm, mối
quan tâm trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường, những kỹ năng giải quyết
cũng như cách thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia. Đó cũng chính
là hình thành và phát triển ở các em thói quen, hành vi ứng xử văn minh, lịch
sự và thân thiện với môi trường, bồi dưỡng cho các em tình yêu thiên nhiên,
những xúc cảm và kỹ năng sống bảo vệ môi trường không chỉ ở trường mà là
mọi lúc, mọi nơi.
Sự thiếu hiểu biết về môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường là một
trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm và suy thoái môi trường. Do đó
giáo dục bảo vệ môi trường là một vấn đề quan trọng nhằm đào tạo con người
có kiến thức, có đạo đức về môi trường, có năng lực phát hiện và xử lý các
vấn đề về môi trường trong thực tiễn. Nhưng thực tế hiện nay, môi trường
Việt nam và trên thế giới đang bị ô nhiễm gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc
sống của người dân. Vì vậy bảo vệ môi trường đang là vấn đề cấp bách, nóng
bỏng không chỉ ở Việt Nam mà cả trên toàn thế giới. Vì thế, giáo dục bảo vệ
môi trường là việc làm cần thiết không thể thiếu trong nhà trường hiện nay.
Như chúng ta đã biết bậc học Tiểu học là bậc học nền móng, bậc phổ

đề giáo dục môi trường phải được tích hợp thông qua một số môn học, mà nội
dung có quan hệ gần gũi với môi trường. Vậy nên đưa vào chương trình lồng
ghép với các môn học như thế nào để có hiệu quả? Đây là vấn đề mà mỗi nhà
quản lí, mỗi giáo viên phải trăn trở và quan tâm để tìm ra giải pháp dạy lồng
ghép giáo dục môi trường cho học sinh trong các môn học thật sự có hiệu quả.
Xuất phát từ lí do trên tôi đã chọn đề tài: "Một số biện pháp dạy lồng ghép
giáo dục môi trường thông qua môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3" ở trường
Tiểu học Thuần Lộc - Hậu Lộc - Thanh Hóa”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm ra những biện pháp tối ưu nhất giúp bản thân nâng cao chất
lượng dạy lồng ghép giáo dục môi trường thông qua môn Tự nhiên và xã hội
lớp 3
- Giúp cho các em hiểu và hình thành, phát triển ở các em thói quen,
hành vi ứng xử văn minh, lịch sự và thân thiện với môi trường. Bồi dưỡng
tình yêu thiên nhiên, những xúc cảm, xây dựng cái thiện và hình thành thói
quen, kĩ năng sống bảo vệ môi trường cho các em, giúp cho các em sớm có ý
thức trong việc bảo vệ môi trường sống.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
+ Nghiên cứu nội dung, phương pháp dạy môn Tự nhiên và xã hội lớp
3 và việc dạy lồng ghép giáo dục môi trường thông qua môn Tự nhiên và xã
hội lớp 3
+ Học sinh lớp 3B Trường Tiểu học Thuần Lộc năm học 2017-2018
(lớp thực nghiệm)
+ Học sinh lớp 3A Trường Tiểu học Thuần Lộc năm học 2017-2018
(lớp đối chứng)
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp đọc tài liệu nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
+ Phương pháp Phân tích, so sánh, tổng hợp.
+ Phương pháp Điều tra nghiên cứu.
+ Phương pháp Thống kê số liệu.

sống. Nếu được giáo dục tốt các em sẽ là lực lượng nòng cốt trong việc cải
tạo, bảo vệ môi trường tại địa phương và đặc biệt hơn các em sẽ trở thành
những tuyên truyền viên tích cực trong cộng đồng...
Vì vậy, mục tiêu giáo dục môi trường ở bậc Tiểu học cần đạt là:
+ Về kiến thức: Giúp cho học sinh ban đầu biết được
- Các thành phần của môi trường và tác động qua lại giữa chúng
- Mối quan hệ giữa con người với môi trường...
- Biết được thế nào là ô nhiễm môi trường và các biện pháp bảo vệ môi
trường xung quanh...
+ Về Kĩ năng:
- Biết giữ gìn vệ sinh mọi nơi, mọi lúc...
- Biết làm đẹp môi trường xung quanh...
- Biết trồng và chăm sóc cây xanh...
+ Thái độ:
- Có tình thương yêu, tôn trọng mọi người...
- Có ý thức sống thân thiện với thiên nhiên.
2.1.3.Tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường ở trường tiểu học.
- Giáo dục bảo vệ môi trường nhằm làm cho các em hiểu và hình thành,
phát triển ở các em thói quen, hành vi ứng xử văn minh, lịch sự, thân thiện
3


với môi trường. Bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, những xúc cảm, xây dựng cái
thiện và hình thành thói quen, kĩ năng sống bảo vệ môi trường cho các em.
- Số lượng học sinh tiểu học rất đông chiếm khoảng gần 10% dân số.
Con số này sẽ nhân lên nhiều lần nếu các em biết và thực hiện được tuyên
truyền về bảo vệ môi trường trong cộng đồng, tiến tới tương lai có cả một thế
hệ biết bảo vệ môi trường
- Để thực hiện được mục tiêu, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
trong trường tiểu học hiện nay, con đường tốt nhất là :

sự cân nhắc, lựa chọn, kết hợp chặt chẽ một cách có hệ thống các kiến thức
giáo dục môi trường và kiến thức môn Tự nhiên và xã hội thành một nội dung
thống nhất, gắn bó với nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ được đề cập trong
bài học...

4


a. Nội dung kiến thức trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3: Chương trình
môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 được cấu trúc thành 3 chủ đề
+ Chủ đề "Con người và sức khỏe": Giúp học sinh nhận biết được các
bộ phận bên ngoài của cơ thể, vai trò của các giác quan, các hệ cơ quan trong
cơ thể và những ảnh hưởng của môi trường tới sức khỏe con người...
+ Chủ đề "Xã hội": Giúp học sinh nhận biết được các thành viên cũng
như các hoạt động trong gia đình, trường học, quê hương và các mối quan hệ
với cuộc sống xung quanh.
+ Chủ đề "Tự nhiên": Giúp cho học sinh biết được đặc điểm, lợi ích các
loài thực vật, động vật gần gũi cũng như các điều kiện sống, mối quan hệ…
b. Nội dung giáo dục môi trường cần tích hợp trong môn Tự nhiên và Xã
hội lớp 3:
+ Chủ đề "Con người và sức khỏe": Dựa vào kiến thức trong chủ đề,
giáo viên hình thành cho học sinh có ý thức và thói quen giữ gìn vệ sinh môi
trường xung quanh...
+ Chủ đề "Xã hội": Dựa vào kiến thức trong chủ đề, giáo viên hình
thành cho học sinh thái độ tôn trọng, lòng thương yêu và có trách nhiệm giữ
gìn môi trường sạch đẹp trong cộng đồng...
+ Chủ đề "Tự nhiên": Dựa vào kiến thức trong chủ đề, giáo viên hình
thành cho học sinh ý thức thân thiện với môi trường và biết cách bảo vệ
chúng.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:

- Các em chưa hứng thú với môn Tự nhiên và xã hội, nhiều học sinh coi
đây là môn phụ nên không tập trung chú ý nghe giảng vì vậy học sinh chưa
biết áp dụng kiến thức đã học vào thực tế. Từ những kiến thức trọng tâm bài
học có liên quan đến môi trường các em mới chỉ hiểu và nắm được kiến thức
trong sách giáo khoa còn việc vận dụng vào thực tế cuộc sống còn hạn chế.
- Ví dụ: Học sinh lớp 3 vừa học bài “ Một số hoạt động ở trường, khi
học bài này học sinh biết được một số hoạt động ở trường ngoài hoạt động
học tập trong giờ học; biết được lợi ích của các hoạt động trên qua đó có ý
thức tham gia các hoạt động ở trường phù hợp với sức khỏe và khả năng của
mình, các em có ý thức thường xuyên dọn vệ sinh, trồng và chăm sóc cây để
ngôi trường luôn xanh, sạch, đẹp nhưng ngược lại nhiều em vẫn chưa tự giác
và tích cực tham gia việc chung khi trường, lớp giao trách nhiệm như tổng vệ
sinh trường lớp, chăm sóc bồn hoa cây cảnh, quét mạng nhện lớp học,…
2.2.2. Kết quả của thực trang:
Để tìm hiểu nhận thức, nắm bắt khả năng thích ứng và nhu cầu của học
sinh lớp 3 về công tác giáo dục môi trường nhằm thực hiện giáo dục môi
trường cho học sinh đạt hiệu quả cao, tôi đã khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý
kiến từng học sinh khối lớp 3. Tổng số học sinh được khảo sát là 38 em và
kết quả đạt được như sau:
TT
Câu hỏi
Có Không Lưỡng
(%)
(%)
lự (%)
1 Con người có thể sống khoẻ mạnh ở những nơi 21,1
60,5
18,4
không khí thiếu trong lành được không?
2 Có cần phải tiết kiệm và giữ gìn nguồn nước đang 60,5



Qua kết quả trên, tôi nhận thấy rằng phần đa học sinh đã có nhận thức
đúng về vấn đề môi trường. Ở đây, học sinh cũng đã nhận thấy giá trị của môi
trường với sức khoẻ con người. Cụ thể khi tôi đưa ra câu hỏi “Con người có
thể sống khoẻ mạnh ở những nơi không khí thiếu trong lành được không?”; có
đến 60,5% học sinh trả “không” hay khi tôi hỏi câu hỏi “Học sinh có nên làm
những việc gây ô nhiễm môi trường không?” thì có 73,7% học sinh trả lời
“Không”. Nhưng vẫn còn có một số học sinh chưa thật sự quan tâm đến môi
trường, chưa có nhận thức đầy đủ về môi trường, như khi tôi hỏi “Diệt ruồi
muỗi, các con vật có hại có phải là hành vi bảo vệ môi trường hay không?” thì
có tới 10,5% học sinh lưỡng lự và 42,1% học sinh trả lời là “ không”.
Sau đó tôi điều tra, thống kê về tình hình nhận thức về môi trường của
học sinh khối 3 đầu năm học, kết quả đạt như sau:
Học sinh nhận
Học sinh nhận
thức tốt về Bảo
thức chưa tốt về
Lớp
Sĩ số
vệ môi trường Bảo vệ môi trường
SL
%
SL
%
3A (Lớp đối chứng)
18
10
55,5
8

phòng tránh một số bệnh tật và tai nạn; Quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt
7


câu hỏi, diễn đạt những hiểu biết của mình (bằng lời nói hoặc hình vẽ) về các
sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội.
- Hình thành và phát triển ở HS những thái độ và hành vi: Có ý thức
thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng
đồng; Yêu thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương.
* Nội dung chương trình môn Tự nhiên và xã hội lớp 3: Sau khi học
xong chương trình môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 các em biết.
- Biết tên, chức năng và giữ vệ sinh các cơ quan hô hấp, tuần hoàn, bài
tiết nước tiểu và thần kinh.
- Biết tên và cách phòng tránh một số bệnh thường gặp ở cơ quan hô
hấp, tuần hoàn, bài tiết nước tiểu, thần kinh.
- Biết mối quan hệ họ hàng, nội, ngoại.
- Biết phòng tránh cháy khi ở nhà.
- Biết những hoạt động chủ yếu của nhà trường và giữ an toàn khi ở
trường.
- Biết tên một số cơ sở hành chính, văn hóa, giáo dục, y tế và một số
hoạt động thông tin liên lạc, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại ở tỉnh
(thành phố) nơi học sinh ở.
- Biết một số qui tắc đối với người đi xe đạp.
- Biết về cuộc sống trước kia và hiện nay ở địa phương và giữ vệ sinh
môi trường.
- Biết được sự đa dạng và phong phú của thực vật và động vật; chứa
chức năng của thân, rễ, lá, hoa, quả đối với đời sống của cây và ích lợi đối với
con người; ích lợi hoặc tác hại của một số động vật đối với đời sống con
người.
- Biết vai trò của mặt trời đối với trái đất và đời sống con người; vị trí

vào bài. Kiến thức giáo dục môi trường trong các bài học có thể phân biệt các
loại bài khác nhau như:
- Toàn bài có nội dung giáo dục môi trường.
- Trong bài có một mục, một đoạn hoặc một vài câu, một vài ý có nội
dung giáo dục môi trường.
- Kiến thức trong bài có một hoặc nhiều chỗ có khả năng liên hệ, bổ
sung thêm kiến thức giáo dục môi trường.
- Nội dung bài không có kiến thức và cũng không có khả năng liên hệ,
bổ sung kiến thức giáo dục môi trường.
+ Xác định kiến thức giáo dục môi trường được lồng ghép vào bài (nếu
có)
+ Xác định các bài có khả năng đưa kiến thức giáo dục môi trường vào
bài bằng hình thức liên hệ và dự kiến các kiến thức có thể đưa vào từng bài.
b. Lựa chọn các kiến thức giáo dục môi trường:
Việc lựa chọn các kiến thức giáo dục môi trường để tích hợp vào bài
học trong quá trình giảng dạy là rất cần thiết, vì sẽ giúp cho giáo viên có sự
tính toán để sắp xếp cho mình một hệ thống các kiến thức giáo dục môi
trường, phân bố theo từng chủ đề, từng bài học. Để lựa chọn các kiến thức đó,
giáo viên cần lấy các kiến thức giáo dục môi trường đã được dự kiến để xem
xét, đối chiếu phù hợp cho từng nội dung bài giảng. Có vậy tiết học mới đạt
được hiệu quả cao
c. Các nguyên tắc đưa kiến thức giáo dục môi trường vào bài học:
Do việc đưa kiến thức giáo dục môi trường vào các bài học theo
phương thức tích hợp, đặc biêt là hình thức liên hệ, có nghĩa là các kiến thức
đưa vào bài giảng là do giáo viên tự lựa chọn. Bởi vậy, việc đưa các kiến thức
đó vào bài học không thể tuỳ tiện, mà phải dựa vào những nguyên tắc khoa
học rõ ràng. những nguyên tắc đó là:
+ Phải dựa vào nội dung bài học, nghĩa là các kiến thức giáo dục môi
trường đưa vào bài học phải có mối liên hệ lôgic chặt chẽ với các kiến thức
trong bài học. Các kiến thức trong bài học được coi là nền móng, là cơ sở cho

dung giáo dục môi trường đến với học sinh một cách hiệu quả, cần lựa chọn
những cách tiếp cận hợp lí và khoa học. Lựa chọn các phương pháp giáo dục
phải xuất phát từ quan điểm tiếp cận trong giáo dục bảo vệ môi trường. Đó là
giáo dục về môi trường, giáo dục trong môi trường và giáo dục vì môi trường.
Nghiên cứu từ thực tế, để thực hiện được mục tiêu, nội dung giáo dục
bảo vệ môi trường trong trường tiểu học, trong điều kiện hiện nay, con đường
tốt nhất là:
-Tích hợp lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường qua môn học
- Đưa giáo dục bảo vệ môi trường trở thành một nội dung của hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
- Quan tâm tới môi trường địa phương, thiết thực cải thiện môi trường
địa phương, hình thành và phát triển thói quen ứng xử thân thiện với môi
trường địa phương.
Thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường có thể sử dụng nhiều phương
pháp dạy học đa dạng như thảo luận nhóm, quan sát, trò chơi, phương pháp
tìm hiểu, điều tra, đóng vai…đồng thời sử dụng những phương pháp đặc thù
của các môn học. Tuy nhiên để việc lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường
đem lại hiệu quả tôi đã vận dụng nhiều phương pháp phù hợp và tổ chức các
hoạt động một cách linh hoạt theo chương trình đã xây dựng.
10


* Phương pháp thảo luận:
Đây là phương pháp dạy học giúp học sinh bày tỏ quan điểm, ý kiến,
thái độ của mình và lắng nghe ý kiến của người khác về các vấn đề môi
trường có liên quan đến nội dung bài học. Qua phương pháp dạy học này, giáo
viên giúp học sinh nhận thức và có hành vi, thái độ đúng đắn về môi tường.
Ví dụ 1: Đối với bài 3 “Vệ sinh hô hấp” giáo viên tổ chức cho học sinh
thảo luận nhóm để liên hệ thực tế với nội dung như sau:
+ Liên hệ thực tế trong cuộc sống, kể ra những việc các em có thể làm

của giáo viên, học sinh có nhận thức và hình thành hành vi đúng đắn: không
nên vứt rác bừa bãi ở những nơi công cộng.
* Phương pháp trò chơi:
11


Trò chơi có ý nghĩa rất quan trọng đối với học sinh tiểu học. Trò chơi
gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em lĩnh hội kiến thức về môn
học và giáo dục bảo vệ môi trường nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả. Khi sử
dụng phương pháp trò chơi, giáo viên lưu ý: chuẩn bị trò chơi; giới thiệu tên
trò chơi, hướng dẫn cách chơi, thời gian chơi và luật chơi; cho học sinh chơi;
nhận xét kết quả; rút ra bài học về bảo vệ môi trường qua trò chơi. Tùy vào
nội dung của từng bài học, giáo viên có thể chọn và tổ chức trò chơi phù hợp
để tích hợp nội dung giáo dục môi trường cho các em. Chẳng hạn, giáo viên
có thể tổ chức trò chơi đóng vai giúp học sinh thể hiện nhận thức, thái độ của
mình trong các tình huống cụ thể và thể hiện cách ứng xử phù hợp với các
tình huống.
Ví dụ: Khi dạy bài “Giữ gìn lớp học sạch đẹp”, giáo viên có thể tổ chức
cho học sinh đóng vai với tình huống như sau.
Trước giờ học, một nhóm học sinh (2-4) em ăn quà, vứt giấy bừa bãi ra
lớp. Một học sinh khác trông thấy và đã xử lý như thế nào?
Khi học sinh đóng vai, các em thể hiện nhận thức, thái độ của mình qua
vai đã đóng. Từ đó, giáo viên có thể điều chỉnh, bổ sung cho học sinh về nhận
thức, hành vi giữ gìn vệ sinh trường, lớp học.
* Phương pháp tìm hiểu, điều tra:
Đây là phương pháp tổ chức cho học sinh tham gia vào quá trình tìm
hiểu các vấn đề môi trường ở địa phương. Qua tìm hiểu, học sinh nhận thức
được thực trạng môi trường, giáo dục học sinh tình yêu quê hương đất nước, ý
thức bảo vệ môi trường. Sử dụng phương pháp này, giáo viên lưu ý: thiết kế
các câu hỏi, bài tập cho học sinh (cá nhân hoặc nhóm) tiến hành điều tra, tìm

giáo dục quan trọng cần được thực hiện nghiêm túc, đúng nội dung và đúng
phương pháp để có thể mang lại hiệu quả cao trong công tác bảo vệ môi
trường trong nhà trường Tiểu học.
Biện pháp 6. Định vị các địa chỉ có thể lồng ghép các nội dung giáo
dục môi trường thông qua môn Tự nhiên và xã hội.
* Căn cứ vào địa chỉ giáo dục môi trường trong môn Tự nhiên xã hội lớp
3 tôi đã lập kế hoạch dạy lồng ghép nội dung giáo dục môi trường như sau:
- Con người và sức khỏe:
+ Cơ quan hô hấp và một số bệnh lây qua đường hô hấp.
+ Cơ quan tuần hoàn: bảo vệ cơ quan tuần hoàn.
+ Giữ vệ sinh cơ quan bài tiết nước tiểu.
+ Cơ quan thần kinh: Nghỉ ngơi và học tập điều độ.
- Xã hội:
+ Quan hệ trong gia đình và vấn đề giữ gìn môi trường sống.
+ Giữ vệ sinh trường, lớp học.
+ Làng quê, đô thị; giữ vệ sinh nơi công cộng; liên hệ đến thực trạng môi
trường địa phương.
- Tự nhiên:
+ Thực vật, động vật, ích lợi và tác hại đối với cuộc sống con người;
cách bảo vệ chúng.
+ Mặt trời và trái đất, khí hậu ảnh hưởng đối với sự sống của con người.
* Nội dung và mức độ tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường còn tùy
thuộc vào từng bài mà áp dụng cho phù hợp, vì thế việc xây dựng kế hoạch,
thiết kế các hoạt động là sự cần thiết để đem lại hiệu quả trong tiết dạy cho
nên tôi đã xây dựng cụ thể cho từng bài học với nội dung tích hợp như sau.

13


ĐỊA CHỈ, NỘI DUNG, MỨC ĐỘ TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

động ở trường
môi trường như: làm vệ sinh, trồng cây, tưới
cây,…
Bài 30: Hoạt động
nông nghiệp
- Biết các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, lợi
Bài 31: Hoạt động
ích và một số tác hại (nếu thực hiện sai) của
công nghiệp,
các họat động đó.
thương mại
Bài 32: Làng quê và - Nhận ra sự khác biệt giữa môi trường sống ở làng
đô thị
quê và môi trường sống ở đô thị.
- Biết rác, phân, nước thải là nơi chứa các mầm
bệnh là hại sức khoẻ con người và động vật.
- Biết phân, rác thải nếu không xử lí hợp vệ sinh sẽ
Bài 36: Vệ sinh môi
là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.
trường
- Biết một vài biện pháp xử lí phân, rác thải, nước
thải hợp vệ sinh.
- Có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường.
- Biết cây xanh có ích lợi đối với cuộc sống của
Bài 46: Khả năng kì
con người; khả năng kì diệu của lá cây trong
diệu của lá cây
việc tạo ra ôxi và các chất dinh dưỡng để nuôi
cây
- Nhận ra sự phong phú, đa dạng của các con vật


Liên hệ

- Liên
hệ

15


Tên bài
Bài 56, 57:
Đi thăm thiên
nhiên
Bài 58:
Mặt trời

Nội dung tích hợp GDBVMT
- Hình thành biểu tượng về môi trường tự nhiên.
- Yêu thích thiên nhiên.
- Hình thành kĩ năng quan sát, nhận xét mô tả
môi trường xung quanh.
- Biết mặt trời là nguồn năng lượng cơ bản cho
sự sống trên trái đất.
- Biết sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời vào
một số việc cụ thể trong cuộc sống hàng
ngày.

Mức độ
tích hợp
- Liên

thi của đề tài, hiệu quả của dạy lồng ghép giáo dục môi trường thông qua môn
Tự nhiên và Xã hội.
* Nội dung, kế hoạch dạy thực nghiệm: Năm học 2017 - 2018, tôi đã
áp dụng các biện pháp trên để dạy lồng ghép giáo dục môi trường trong môn
Tự nhiên-xã hội, song do điều kiện tôi xin đưa ra 1 tiết thực nghiệm tiêu biểu
mà tôi đã trực tiếp dạy tại lớp 3B. Bên cạnh đó tôi tiến hành dạy ở lớp 3A (lớp
đối chứng) cũng với bài này và dạy theo hướng lâu nay mà giáo viên vẫn
thường dạy. Sau đó, tôi tiến hành kiểm tra khảo sát chất lượng học sinh và so
sánh đối chứng với kết quả của học sinh hai lớp.
* Thiết kế bài day: Qua nghiên cứu nội dung sách giáo khoa môn Tự
nhiên và xã hội lớp 3, tôi thấy rằng nhiều nội dung bài học có khả năng tích
hợp giáo dục môi trường cho học sinh. Tôi tiến hành soạn và dạy 1 tiết (soạn
dạy lồng ghép nội dung giáo dục môi trường vào bài)
Tôi đã tiến hành soạn bài và tiến hành dạy như sau:
GIÁO ÁN MINH HOẠ DẠY LỚP THỰC NGHIỆM
BÀI 3 “ Vệ sinh hô hấp”
I. Mục tiêu: Sau bài học, học sinh biết
16


- Nêu ích lợi của việc tập thở buổi sáng
- Kể ra những việc nên làm và không nên làm để giữ vệ sinh cơ quan
hô hấp
- Giữ sạch mũi, họng
II. Đồ dùng dạy học: Các hình trong sách giáo khoa trang 8,9
III. Các hoạt động dạy học:
Hoạt động 1: Thảo luận nhóm
+ Mục tiêu: Nêu được ích lợi của tập thở buổi sáng
+ Cách tiến hành:
Bước 1: Làm việc theo nhóm. Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát các

cơ quan hô hấp? Tại sao?
Bước 2: Làm việc cả lớp

17


- Giáo viên gọi một học sinh lên trình bày. Mỗi học sinh chỉ phân tích
một bức tranh, học sinh khác nhận xét, bổ sung.
- Giáo viên bổ sung hoặc sửa chữa những ý kiến chưa đúng của học
sinh.
Hoạt động 3: Liên hệ thực tế
Bước 1: Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm để liên hệ thực
tế với nội dung như sau:
+ Liên hệ thực tế trong cuộc sống, kể ra những việc nên làm và có thể
làm được để bảo vệ và giữ gìn cơ quan hô hấp
+ Nêu những việc các em có thể làm ở nhà và xung quanh khu vực nơi
các em sống để giữ gìn cho bầu không khí lôn luôn trong lành.
Bước 2: Làm việc cả lớp
- Giáo viên gọi học sinh (đại diện nhóm ) lên trình bày, học sinh khác
nhận xét, bổ sung.
- Giáo viên nhận xét, bổ sung, sửa chữa những ý kiến chưa đúng của học
sinh.
Sau đó kết luận:
+ Không nên ở trong phòng có người hút thuốc lá, thuốc lào (vì trong
khói thuốc lá, thuốc lào có nhiều chất độc) và không chơi đùa ở những nơi có
nhiều khói bụi. Khi quét dọn, làm vệ sinh lớp học, nhà ở cần đeo khẩu trang.
+ Luôn quét dọn và lau sạch đồ đạc cũng như sàn nhà để bảo đảm không
khí trong nhà luôn sạch, không có nhiều bụi.
+ Tham gia vệ sinh đường làng, ngõ xóm; không vứt rác, khạc nhổ bừa
bãi,..

Lớp

Sĩ số

3A

18

3B

20

Học sinh nhận thức tốt về
những việc nên làm và
không nên làm để giữ vệ
sinh cơ quan hô hấp
SL
%
13
72,2
20

100

Học sinh nhận thức không
tốt về những việc nên làm
và không nên làm để giữ vệ
sinh cơ quan hô hấp
SL
%

- Đặc biệt, tăng thêm tình đoàn kết với bạn bè trong lớp, ý thức tự giác
cùng nhau bảo vệ môi trường.
19


- Học sinh rất hứng thú với môn học, không khí lớp học sôi nổi, các em
mạnh dạn thể hiện mình trước đám đông, tinh thần hợp tác trong học tập.
Kết quả về tình hình nhận thức về môi trường của hai lớp đạt như sau:
Học sinh nhận thức tốt về Học sinh nhận thức chưa
Bảo vệ môi trường
tốt về Bảo vệ môi trường
Lớp Sĩ số
SL
%
SL
%
3A
18
13
72,2
5
27,7
3B
20
20
100
0
0
Nhìn vào bảng tổng hợp kết quả ta thấy:
- Với học sinh lớp 3A (Lớp đối chứng) cơ bản các em học sinh đã nhận

tiểu học.

20


Tuỳ theo đặc điểm từng lớp mà giáo viên linh hoạt lồng ghép không
gây quá tải, giúp các em tiếp thu một cách thoải mái, nhẹ nhàng, tự tin, hiệu
quả.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Qua việc nghiên cứu đề tài, việc "Một số biện pháp dạy lồng ghép
giáo dục môi trường thông qua môn Tự nhiên và xã hội lớp 3" cho cho học
sinh lớp 3 là một việc làm không dễ. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao người
giáo viên cần làm tốt những nội dung sau:
- Mỗi giáo viên phải nắm vững mục tiêu, nội dung chương trình môn
Tự nhiên và xã hội lớp 3
- Xác định mục tiêu giáo dục môi trường qua môn Tự nhiên và xã hội
- Xác định kiến thức giáo dục môi trường để tích hợp vào nội dung bài
học
- Xác định nội dung lồng ghép giáo dục môi trường
- Xác định các phương pháp dạy học tích hợp giáo dục môi trường:
- Định vị các địa chỉ có thể lồng ghép các nội dung giáo dục môi trường
thông qua môn Tự nhiên và xã hội.
- Thiết kế và thực hiện tiến trình tiết dạy lồng ghép các nội dung giáo
dục môi trường thông qua môn Tự nhiên và xã hội.
3.2. Kiến nghị:
1. Đối với giáo viên.
+ Phải nắm chắc nội dung chương trình, lựa chọn phương pháp hình thức
tổ chức dạy học phù hợp với mỗi bài học, phù hợp với từng đối tượng học
sinh trong lớp để học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, kĩ năng của bài học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status