Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên của luận văn, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo
Nguyễn Thị Duyên - giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học - trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu và làm đề tài này.
Tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn đặc biệt tới cô giáo Dương Thanh Đính
(giáo viên chủ nhiệm lớp 3A) và cô Lã Thị Nguyên (giáo viên chủ nhiệm lớp
3B), Ban giám hiệu cùng các thầy cô giáo và các em học sinh lớp 3A và 3B
trường tiểu học Thị trấn Sóc Sơn - Hà Nội đã quan tâm, giúp đỡ và tạo điều
kiện cho tôi hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình thực hiện luận văn, do điều kiện, năng lực và thời gian
còn nhiều hạn chế, đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót. Vì
vậy, em rất mong nhận được sự góp ý và bổ sung của thầy cô cùng các bạn để
đề tài thêm hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày….. tháng….. năm 2013
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Phượng
Nguyễn Thị Phượng
K35B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
NXB GD
: Nhà xuất bản Giáo dục
TN&XH
: Tự nhiên và Xã hội
SL
: Số lượng
TL
: Tỉ lệ
ĐC
: Đối chiếu
TN
: Thực nghiệm
GV
: Giáo viên
HS
1.1.2. Phân loại............................................................................................... 7
1.1.3. Định hướng đổi mới hình thức tổ chức dạy học ở Tiểu học .................. 8
1.1.4. Một số hình thức dạy học ở Tiểu học .................................................... 9
1.2. Hình thức dạy học ngoài thiên nhiên ..................................................... 12
1.2.1. Khái niệm ........................................................................................... 12
1.22. Vai trò của hình thức dạy học ngoài thiên nhiên .................................. 13
1.2.3. Quy trình thực hiện hình thức dạy học ngoài thiên nhiên .................... 14
1.2.4. Những lưu ý khi sử dụng hình thức dạy học ngoài thiên nhiên ........... 15
1.3. Chương trình môn TN&XH lớp 3.......................................................... 15
Nguyễn Thị Phượng
K35B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
1.3.1.Mục tiêu dạy học môn TN&XH lớp 3 ................................................. 15
1.3.2. Nội dung chương trình môn TN&XH lớp 3 ....................................... 17
1.3.3. Đặc điểm chương trình môn TN&XH lớp 3........................................ 18
1.4. Đặc điểm tâm lí và nhận thức của học sinh lớp 3 ................................... 19
2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 21
2.1. Mục đích của việc khảo sát thực trạng ................................................... 21
2.2. Nội dung của việc khảo sát thực trạng ................................................... 21
2.3. Phạm vi khảo sát ................................................................................... 21
2.4. Kết quả khảo sát .................................................................................... 21
2.4.1. Thực trạng của việc dạy học môn TN&XH lớp 3 ............................... 21
2.4.1.1. Thực trạng của việc sử dụng các phương pháp dạy học ................... 21
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM .............................................. 52
3.1. Mục đích thực nghiệm ........................................................................... 52
3.2. Nội dung và kế hoạch thực nghiệm........................................................ 52
3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm ............................................................... 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 60
PHỤ LỤC.................................................................................................... 61
Nguyễn Thị Phượng
K35B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ở bất cứ quốc gia nào, giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) cũng luôn được
coi là vấn đề then chốt và là “quốc sách hàng đầu”. Sự nghiệp GD&ĐT có vị
trí quan trọng trong chiến lược con người, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
của đất nước “Nguồn tài nguyên và sự giàu có của một quốc gia không phải
nằm trong lòng đất mà chính là nằm trong bản thân con người, trí tuệ con
người”. Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải đẩy
mạnh phát triển GD&ĐT. Thấy rõ vai trò và tầm quan trọng đó, trong nhiều
kì đại hội gần đây, Đảng ta đã xây dựng định hướng phát triển GD&ĐT, coi
đây là lĩnh vực then chốt, tạo điều kiện cho GD&ĐT thực hiện sứ mệnh đi
trước, đón đầu. Quan điểm của Đảng về đường lối phát triển giáo dục và đào
tạo thể hiện ở Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII; Nghị quyết của Hội nghị
Có thể nói, trong hệ thống giáo dục quốc dân, Giáo dục Tiểu học là bậc
học nền tảng. Ở đó, các em được trang bị những kiến thức cơ bản sơ khai và
cũng quan trọng nhất của người công dân, người lao động tương lai. Đó là
những người có tri thức, có sức khỏe, có đạo đức… Để làm được điều ấy,
ngoài việc đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học thì đổi
mới hình thức dạy học ( HTDH) là một xu thế tất yếu để nâng cao chất lượng
giáo dục hiện nay. Đổi mới HTDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học
tập, phát huy sự chủ động, sáng tạo của học sinh. Môn TN&XH đặc biệt là
môn TN&XH lớp 3 là môn học có rất nhiều nội dung gắn liền với tự nhiên và
xã hội. Các em được học bộ môn này chính là được học về tự nhiên, học về
cuộc sống đang hàng ngày, hàng giờ diễn ra xung quanh các em. Vì vậy,
trong quá trình dạy học, giáo viên cần tích cực tổ chức các giờ học gắn liền
với thiên nhiên để học sinh được trực tiếp tìm hiểu, khám phá môi trường
xung quanh. Bên cạnh đó, còn làm cho môi trường trở thành nơi để học sinh
trải nghiệm, để thực hành, để củng cố và vận dụng những kiến thức và kĩ
năng đã học. Chính vì vậy, việc sử dụng hình thức dạy học ngoài thiên nhiên
trong dạy học môn TN&XH nói chung và trong dạy học môn TN&XH lớp 3
nói riêng là rất cần thiết. Bởi, điều đó sẽ kích thích tính tò mò, ham tìm tòi,
nghiên cứu… để hình thành và phát huy tính tích cực và sáng tạo của học
sinh. Tuy nhiên, trong thực tế, đa số giáo viên chỉ tiến hành hoạt động dạy
học trong lớp hoặc trong những không gian hạn hẹp, dẫn đến chất lượng giáo
dục chưa cao. Bên cạnh đó, những tài liệu nghiên cứu về việc sử dụng hình
Nguyễn Thị Phượng
2
K35B - GDTH
học Thị trấn Sóc Sơn.
Nguyễn Thị Phượng
3
K35B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
6. Phương pháp nghiên cứu
- Thống kê toán học.
- Đọc sách báo, tài liệu.
- Phân tích, tổng hợp.
- Quan sát.
- Điều tra.
- Phỏng vấn.
- Thực nghiệm khoa học.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được một số biện pháp sử dụng hình thức dạy học ngoài
thiên nhiên trong dạy học môn TN&XH lớp 3 phù hợp sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả sử dụng hình thức dạy học ngoài thiên nhiên trong dạy học môn
TN&XH lớp 3 nói riêng và nâng cao hiệu quả dạy học trong môn TN&XH
lớp 3 nói chung.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của khóa luận
gồm các chương sau:
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Mục đích của việc khảo sát thực trạng
2.2. Nội dung của việc khảo sát thực trạng
2.3. Phạm vi khảo sát
2.4. Kết quả khảo sát
Chương 2: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hình thức dạy học
ngoài thiên nhiên trong dạy học môn TN&XH lớp 3
2.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp
2.2. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hình thức dạy học ngoài
thiên nhiên trong dạy học môn TN&XH lớp 3
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
3.1. Mục đích thực nghiệm
3.2. Nội dung và kế hoạch thực nghiệm
3.3. Đánh giá kết quả
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Nguyễn Thị Phượng
5
K35B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC SỬ DỤNG
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
giáo viên, chế độ làm việc, thành phần học sinh, địa điểm và thời gian học
tập. Bên cạnh đó, nó có quan hệ chặt chẽ với các thành tố khác của quá trình
dạy học, nó hình thành và phát triển cùng với sự thay đổi các điều kiện văn
hóa, khoa học và công nghệ.
1.1.2. Phân loại
Để phân loại HTTC DH, người ta dựa vào rất nhiều tiêu chí khác nhau
như căn cứ vào nội dung, mục tiêu bài học; căn cứ vào số lượng học sinh tham
gia giờ học; căn cứ vào địa điểm diễn ra quá trình dạy học… Tuy nhiên, trong
quá trình đi nghiên cứu, chúng tôi đã căn cứ vào 2 tiêu chí để phân loại HTTC
DH, đó là: Căn cứ vào địa điểm diễn ra quá trình dạy học và căn cứ vào sự chỉ
đạo của giáo viên đối với toàn lớp hay đối với nhóm học sinh trong lớp.
Thứ nhất: Căn cứ vào địa điểm diễn ra quá trình dạy học, HTTC DH
được chia làm 2 loại:
HTTC DH trên lớp: là HTTC DH mà thời gian học tập được quy định
một cách xác định và ở một địa điểm riêng biệt, giáo viên chỉ đạo hoạt động
nhận thức có tính chất tập thể ổn định, có thành phần không đổi, đồng thời
chú ý đến những đặc điểm của từng học sinh để sử dụng các phương pháp và
phương tiện dạy học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh nắm vững tài
liệu học tập một cách trực tiếp cũng như làm phát triển năng lực nhận thức và
giáo dục học sinh tại lớp.
HTTC DH ngoài lớp: là HTTC DH trong đó giáo viên tổ chức, chỉ đạo
hoạt động học tập của học sinh ở địa điểm ngoài lớp nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho học sinh nắm vững, mở rộng kiến thức thong qua các hoạt động và các
mối quan hệ đa dạng từ môi trường học tập.
vậy, các em thường tiếp thu kiến thức một cách thụ động, kiến thức thu được
không bền vững và khó hình thành các kĩ năng, hành vi cho học sinh. Ngoài
ra, việc học tập thường được diễn ra trong bốn bức tường, ngăn cách với môi
trường bên ngoài làm cho nội dung học tập ít gắn liền với thực tế, hạn chế cơ
hội quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong môi trường tự nhiên và xã
hội bao quanh. Hơn nữa, việc đó còn làm cho giáo viên khó nắm bắt được
năng lực thực của học sinh, dẫn tới gây khó khăn cho việc hướng dẫn, bồi
dưỡng cho các em học sinh khá giỏi hay giúp đỡ các em học sinh có lực học
yếu kém…
Để khắc phục nhược điểm nêu trên, ngành giáo dục đã đưa ra những
định hướng đổi mới về hình thức tổ chức dạy học dựa trên cơ sở cải tiến
Nguyễn Thị Phượng
8
K35B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
những khía cạnh làm hạn chế hiệu quả dạy học của các hình thức dạy học
truyền thống. Cụ thể là:
Cải tiến về mặt không gian: đó là những giờ học không chỉ dừng lại ở
việc tổ chức trong không gian chật hẹp của bốn bức tường mà được mà được
mở rộng ra môi trường xung quanh như dạy học ngoài thiên nhiên, điều tra,
tham quan… Hoặc các giờ học trong lớp nhưng với sự trang bị của các
phương tiện dạy học như phương tiện trực quan, thiết bị thí nghiệm… cần
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Dạy học cả lớp có tác dụng:
- Giúp giáo viên có điều kiện cung cấp lượng thông tin nhiều hơn, đối tượng
tiếp nhận thông tin là học sinh cũng nhiều hơn.
- Tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên truyền thụ kiến thức một cách hệ thống,
logic.
1.1.4.2. Dạy học theo nhóm
Dạy học theo nhóm là hình thức tổ chức dạy học hợp tác, qua đó học
sinh được tổ chức để chia sẻ những hiểu biết của mình và đối chiếu sự hiểu
biết của mình với bạn học. Hình thức tổ chức dạy học này khai thác được trí
tuệ của tập thể học sinh, đồng thời học sinh được rèn luyện thông qua hoạt
động tập thể.
Dạy học theo nhóm có những tác dụng sau:
- Cho phép học sinh có nhiều cơ hội khám phá và diễn đạt ý tưởng của mình
về vấn đề mà nhóm đang quan tâm.
- Tạo điều kiện cho học sinh học cách lắng nghe và lựa chọn thông tin từ bạn
học để bổ sung vốn kiến thức, làm phong phú thêm sự hiểu biết của bản thân
mình.
- Hoạt động nhóm là dịp để học sinh phát huy vai trò trách nhiệm trong học
tập, điều đó làm phát triển kĩ năng giao tiếp và tính cách của trẻ, gồm cả việc
hợp tác, phối hợp với các bạn khác.
- Là cơ hội để học sinh tập dượt chỉ huy người khác.
- Giáo viên có điều kiện tập trung quan sát, theo dõi hoạt động của học sinh,
giúp các em giải quyết những khó khăn trong quá trình học tập khiến hiệu quả
dạy và học được nâng cao.
1.1.4.3. Dạy học cá nhân
Dạy học cá nhân là hình thức tổ chức dạy học chú ý tới hoạt động của
một cá thể học sinh.
tập, giảm sự căng thẳng cho học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả học tập.
Sử dụng trò chơi học tập để hình thành kiến thức, kỹ năng mới hoặc củng cố
kiến thức, kỹ năng đã học. Trong thực tế dạy học, GV thường tổ chức trò chơi
học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng. Tuy nhiên việc tổ chức cho học sinh
chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kỹ năng mới là rất cần để tạo hứng
thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới.
Trò chơi học tập có tác dụng vô cùng to lớn, giúp tăng cường khả năng
chú ý, nâng cao hứng thú của HS, góp phần giải trừ mệt mỏi, căng thẳng trong
Nguyễn Thị Phượng
11
K35B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
học tập; tạo môi trường cởi mở, thân thiện; tăng cường khả năng giao tiếp
giữa HS với HS, HS với GV.
1.1.4.6. Dạy học ngoài thiên nhiên
Dạy học ngoài thiên nhiên là hình thức tổ chức dạy học sinh động gây
hứng thú học tập cho học sinh. Thông qua việc quan sát thiên nhiên, học sinh
thêm yêu quý, có ý thức bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Các bài học
ngoài thiên nhiên giúp học sinh được quan sát trực tiếp các đối tượng học tập,
từ đó hình thành cho các em biểu tượng cụ thể, sinh động về thế giới tự nhiên,
xã hội xung quanh. Những bài học Tự nhiên và Xã hội lớp 3 có nhiều nội
dung gắn liền với thực tiễn, vì vậy, việc sử dụng hình thức tổ chức dạy học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
1.2.2. Vai trò của hình thức dạy học ngoài thiên nhiên
Các môn học về TN&XH có nhiều nội dung gắn liền với môi trường tự
nhiên và xã hội của địa phương, nơi các em học sinh đang sinh sống. Vì vậy,
việc tổ chức các tiết học ngoài thiên nhiên là hết sức cần thiết. Nhiều bài học
có thể tiến hành ngoài thiên nhiên như các bài học về: Cuộc sống xung quanh;
Một số cây trồng và vật nuôi; Các dấu hiệu của thời tiết; Xác định phương
hướng bằng Mặt Trời; Tìm hiểu về hệ thống biển báo giao thông đường bộ…
Có thể khẳng định, dạy học ngoài thiên nhiên là hình thức tổ chức dạy học
sinh động, hấp dẫn, có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học môn Tự nhiên
và Xã hội nói chung và trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 nói riêng.
Với giờ học ngoài thiên nhiên, học sinh không bị bó hẹp bởi phạm vi
lớp học, do vậy các em có điều kiện tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng của
môi trường xung quanh. Trong khi đó, kiến thức của môn Tự nhiên và Xã hội
chủ yếu là các sự vật, hiện tượng về tự nhiên, xã hội và môi trường xung
quanh các em. Vì vậy, giờ học ngoài thiên nhiên sẽ gây hứng thú học tập cho
học sinh, giúp các em tiếp thu bài nhanh và bền vững hơn, từ đó mà chất
lượng của giờ học được nâng cao.
Ngoài ra, khi được tiếp xúc với thiên nhiên, vẻ đẹp của thiên nhiên, môi
trường xung quanh sẽ gây xúc cảm đối với học sinh. Từ đó, các em thêm yêu
quý, có ý thức bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường.
Các bài học ngoài thiên nhiên giúp học sinh được quan sát trực tiếp các
đối tượng học tập, nhờ vậy hình thành cho các em biểu tượng cụ thể, sinh
động về thế giới tự nhiên – xã hội xung quanh.
Bên cạnh đó, giờ học ngoài thiên nhiên còn giúp hình thành ở học sinh
thói quen hợp tác, tương trợ lẫn nhau; Tạo điều kiện để học sinh bộc lộ cá
tính, năng khiếu, sở trường. Trên cơ sở đó mà giáo viên có thể điều chỉnh lại
cách dạy và giáo dục.
+ Đưa học sinh đến địa điểm học và ổn định tổ chức.
+ Tổ chức cho học sinh quan sát thực tế hoặc quan sát, làm thí nghiệm
trên các đối tượng.
+ Tổ chức cho học sinh thảo luận kết quả khảo sát.
+ Học sinh đưa ra các ý kiến thảo luận, nhận xét, bổ sung.
+ Giáo viên nhận xét và kết luận.
- Hoạt động 2: Thực hành
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hành các kĩ năng bằng các hoạt
động thực tế có liên quan đến nội dung bài học.
Nguyễn Thị Phượng
14
K35B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
- Hoạt động 3: Củng cố dặn dò
+ Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh các trò chơi có liên quan đến
nội dung bài học hoặc có thể cho học sinh liên hệ với thực tế hoặc cho học
sinh thể hiện thái độ của mình khi học xong bài học bằng những hành động cụ
thể để củng cố thêm bài học.
+ Giáo viên nhận xét, kết luận.
1.2.4. Những lưu ý khi sử dụng hình thức dạy học ngoài thiên nhiên
Các tiết học ngoài thiên nhiên có nhược điểm là khó quản lí học sinh,
mất thời gian đi lại, học sinh dễ bị phân tán chú ý vì những tác động của các
Biết mối quan hệ họ hàng nội ngoại. Biết phòng tránh cháy khi ở nhà.
Biết được những hoạt động chủ yếu của nhà trường và giữ an toàn khi ở
trường. Biết tên một số cơ quan hành chính, văn hóa, giáo dục, y tế và một số
hoạt động thông tin liên lạc, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại ở tỉnh
(thành phố) nơi học sinh ở. Biết một số quy tắc đối với người đi xe đạp. Biết
về cuộc sống trước kia và hiện nay ở địa phương và giữ vệ sinh môi trường.
Biết được sự đa dạng, phong phú của thực vật và động vật; chức năng
của thân, rễ, lá, hoa, quả đối với đời sống cây và lợi ích đối với đời sống con
người. Biết vai trò của Mặt Trời đối với Trái Đất và đời sống con người; vị trí
và sự chuyển động của Trái Đất trong hệ Mặt Trời; sự chuyển động của Mặt
Trăng quanh Trái Đất; hình dạng và đặc điểm bề mặt Trái Đất; biết ngày đêm,
năm tháng, các mùa [2].
Về kĩ năng: Môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 giúp họ sinh có kĩ năng biết
tự chăm sóc bản thân, phòng trống một số bệnh tật và tai nạn; biết giữ vệ sinh ở
nhà, trường học, giữ an toàn ở nhà, ở trường và khi đi trên đường; biết quan sát
nhận xét, nêu thắc mắc của mình về sự vật, hiện tượng trong tự nhiên xã hội.
Về thái độ và hành vi: Môn Tự nhiên và Xã hội giáo dục học sinh có ý
thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng
đồng; yêu thiên nhiên, gia đình, trường học và quê hương [2].
Với mục tiêu giáo dục như trên, ta nhận thấy môn Tự nhiên và Xã hội,
đặc biệt là môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 là môn học có rất nhiều nội dung gắn
liền với tự nhiên và xã hội. Việc học môn TN&XH của các em chính là việc
học về tự nhiên, học về cuộc sống đang hàng ngày, hàng giờ diễn ra xung
quanh các em. Những bài học trên lớp sẽ hình thành chủ yếu cho học sinh kiến
thức về tự nhiên, về cuộc sống, về cách giữ gìn và bảo vệ môi trường; còn hoạt
động ngoại khóa sẽ đưa các em tiếp cận với chính cuộc sống tự nhiên đó. Ở đó,
các em được vui chơi, được tìm hiểu và khám phá những điều mới lạ. Điều đó
Nguyễn Thị Phượng
Ở mảng kiến thức Con người và sức khỏe, học sinh được học các nội
dung cơ bản là tìm hiểu về các cơ quan: vận động, tuần hoàn, hô hấp, thần
kinh… cách vệ sinh và phòng trừ các bệnh liên quan tới các cơ quan đó.
Ở mảng kiến thức Xã hội, học sinh được tìm hiểu thêm, sâu hơn về gia
đình và các thế hệ trong gia đình, một số hoạt động ở trường. Đặc biệt học
sinh được khám phá các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, thương mại,
thông tin liên lạc trong tỉnh và các nước. Ngoài ra, học sinh còn được học về
làng quê và đô thị…
Nguyễn Thị Phượng
17
K35B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Ở mảng kiến thức về Tự nhiên, học sinh được tìm hiểu về thực vật,
động vật; học đến chi tiết các bộ phận cây, rễ, hoa, quả, lá. Học sinh được học
về Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh trong hệ mặt trời, song tất cả chỉ
dừng lại ở kiến thức sơ đẳng. Ở mảng này có một số bài rất gần gũi với cuộc
sống của học sinh như: tôm, cua, cá, chim, thú… Bên cạnh đó Tự nhiên và Xã
hội lớp 3 còn cung cấp cho học sinh năm, tháng, mùa, các đới khí hậu và bề
mặt của Lục địa…
Với nội dung như trên thì việc tổ chức cho học sinh học các tiết học
ngoài thiên nhiên là rất quan trọng và cần thiết.
1.3.3. Đặc điểm chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3
1.4. Đặc điểm tâm lí và nhận thức của học sinh lớp 3
Trẻ ở tuổi tiểu học là một thực thể trọn vẹn nhưng chưa hoàn thiện mà
các em đang tiếp tục lớn lên, đang phát triển không chỉ về thể chất mà cả về
trí tuệ. Trong mỗi em, mỗi bộ phận, mỗi cơ quan của cơ thể với chức năng
riêng cũng phát triển không đồng đều. Về mặt tâm lí cũng vậy, các quá trình
và các thuộc tính tâm lí cũng phát triển chưa đều. Vì vậy, tất cả những sự
kiện, hiện tượng gì xảy ra trong thời điểm này cũng có thể gây ấn tượng mạnh
mẽ và sâu sắc cho các em.
Với học sinh tiểu học, nhất là với học sinh lớp 3 đang chuẩn bị chuyển
sang giai đoạn 2 về mặt tâm lí và nhận thức thì tri giác góp phần quan trọng
vào việc thu nhận kiến thức. Nhờ trực giác, học sinh cảm nhận được tức thì
mọi sự vật, mọi hiện tượng. Bước đầu các em đã biết đi sâu vào tìm hiểu bản
chất sự vật, biết phân tích, suy luận mỗi khi tri giác, biết đi vào cấu tạo bên
trong của sự vật. Các em bước đầu nắm được mục đích quan sát, phát biểu
được mục đích quan sát một cách gẫy gọn, rõ ràng. Sau khi quan sát các sự
vật, hiện tượng với các chi tiết riêng lẻ, các em đã có năng lực tổng hợp các
chi tiết đó ở mức độ đơn giản. Từ các đặc điểm tri giác trên cho thấy, việc tổ
chức cho học sinh học tiết học ngoài thiên nhiên là phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lí của các em. Qua đó cũng thấy được vai trò rất lớn của người giáo viên
trong việc gợi mở và định hướng cho tri giác của trẻ đi đúng hướng, đúng
mục đích đã đặt ra, hướng dẫn các em xem xét và biết phát hiện những dấu
hiệu thuộc tính, bản chất của sự vật, hiện tượng.
Một đặc điểm tâm lí rất quan trọng đối với học sinh tiểu học, đó là “sức
tập trung và độ bền vững về chú ý của các em phụ thuộc vào đối tượng chú ý,
mức độ hoạt động của sự vật”, “sức chú ý của các em chỉ kéo dài trong một
thời gian nhất định” [5] và “sức chú ý đối với những hiện tượng bên ngoài
thường bền vững hơn sự chú ý đối với việc thực hiện các hoạt động trí
Nguyễn Thị Phượng