QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 53

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TS. Bùi Hữu Dược
Vụ trưởng vụ Phật giáo
Ban Tôn giáo Chính phủ
Việt Nam là đất nước có nhiều tôn giáo, các tôn giáo có nguồn gốc, lịch sử, đặc
trưng và quá trình phát triển khác nhau, nhưng có nhiều điểm tương đồng. Điểm chung
đáng quý nhất của các tôn giáo ở Việt Nam là sự tôn trọng và chung sống hài hòa giữa
các tôn giáo trong một đất nước đa dân tộc, đa tín ngưỡng.
Tuy nhiên, do tác động và ảnh hưởng từ nhiều mặt của đời sống xã hội, hoạt
động tôn giáo đã bộc lộ theo những chiều hướng khác nhau. Cùng với các tôn giáo
hoạt động thuần túy tôn giáo, còn có tôn giáo bị chính trị lợi dụng đã từng nảy sinh
không ít phức tạp, làm ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống xã hội ở nước ta. Gần đây
trong bối cảnh quốc tế hóa, dân chủ được đề cao, các thế lực thù địch với CNXH
đã lợi dụng chiêu bài tự do tôn giáo, lôi kéo, xúi giục, kích động một số phần tử
cực đoan trong nước và nước ngoài, tổ chức những hoạt động xuyên tạc, chống đối
chính quyền, dựng nên các sự kiện liên quan tới tôn giáo, vu cáo Việt Nam vi phạm
nhân quyền về tôn giáo, tạo ra những trở ngại làm ảnh hưởng tới công cuộc xây
dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực trạng đó cùng với nhu cầu phát triển của
đất nước đang đặt Việt Nam đứng trước hàng loạt vấn đề mâu thuẫn liên quan tới
tôn giáo cần giải quyết. Đó là mâu thuẫn giữa việc đáp ứng nhu cầu tự do tôn giáo
của người có đạo thực hiện hoạt động tôn giáo bình thường với việc ngăn chặn sự
xâm lấn của các trào lưu tôn giáo cực đoan, tôn giáo bị chính trị phản động lợi
dụng. Ở góc độ văn hóa, đạo đức, mâu thuẫn của việc giữ gìn bảo tồn và phát huy
bản sắc văn hóa, giá trị đạo đức của dân tộc trong các truyền thống tôn giáo với
trào lưu của các tôn giáo mới mang theo văn hóa và đạo đức phi truyền thống được
sự hậu thuẫn khá tinh vi của các lực lượng lợi dụng dân chủ và cơ chế thị
trường....Giải quyết được những vấn đề ấy trong tôn giáo bên cạnh công tác vận
động quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo thì công tác quản lý nhà nước về tôn




điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá
nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật.
Như vậy, QLNN về TG là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hướng các hoạt động tôn giáo phục vụ lợi ích
chính đáng của các tín đồ và phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam. Nhà nước quy định bằng pháp luật các hoạt động tôn giáo nhằm bảo đảm
quyền bình đẳng giữa các công dân, các tổ chức xã hội trước pháp luật, hình thành
khung pháp lý, làm cơ sở để các tôn giáo thực hiện hoạt động của mình trong
khuôn khổ pháp luật.
2. Thực trạng tôn giáo và nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ Nhà nước với
tôn giáo ở Việt Nam.
2.1. Thực trạng
Hiện tại Việt Nam có 14 tôn giáo với 38 tổ chức tôn giáo, 01 pháp môn tu
hành đã được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, trong đó có 7 tôn
giáo ngoại nhập và 7 tôn giáo nội sinh. Trên 26 ngàn cơ sở thờ tự, hơn 24 triệu tín
đồ (chiếm khoảng 27% dân số cả nước), gần 83.000 chức sắc, nhà tu hành,
250.000 chức việc. Tín đồ các tôn giáo phần đông là nhân dân lao động, gắn bó với
quê hương đất nước. Sau chiến tranh một bộ phận tín đồ chức sắc các tôn giáo di
tản ra nước ngoài, bởi vậy nhiều chức sắc, tín đồ tôn giáo trong nước có quan hệ
với người thân ở nước ngoài. Ở nước ngoài, số đông người sau thời gian hiểu về
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, họ hướng về đất
nước, cùng đồng bào trong nước chung tay xây dựng quê hương. Số ít do lôi kéo,
kích động của các phần tử xấu đã quay lưng lại với dân tộc, chống phá tiến trình
xây dựng CNXH của Việt Nam, gây nhiều khó khăn cho QLNN về TG trong nhiều
năm đã qua.
Việt Nam trong thời gian mấy thập kỷ gần đây số lượng tín đồ và số lượng
các tổ chức tôn giáo tăng rất nhanh, nhất là đạo Tin lành ở khu vực miền núi Tây
Bắc và Tây Nguyên. Bên cạnh các tôn giáo, Việt Nam có hệ thống tín ngưỡng

với tôn giáo, không tham mưu xây dựng pháp luật phù hợp với hoạt động tôn giáo,
không chủ động trong giải quyết vấn đề tôn giáo. Vì lẽ đó trước hoạt động sôi động
của các tổ chức tôn giáo, đặc biệt là hiện tượng tôn giáo mới, đạo lạ QLNN về TG


lúng túng, bị động.
3.2. Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo:
Đối với văn bản pháp quy liên quan tới QLNN về TG, quản lý hoạt động tôn giáo
được quy định trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004), ngoài ra còn được quy
định ở khá nhiều văn bản pháp luật khác nên khi thực hiện gặp không ít khó khăn.
Nhiều nội dung của pháp luật về các lĩnh vực như: cơ sở vật chất, nhà, đất của tôn
giáo; đào tạo chức sắc tôn giáo, nhà tu hành; hoạt động nhân đạo, từ thiện; mở
trường lớp;… chưa hướng dẫn chi tiết, thếu cụ thể khiến việc triển khai thực hiện
chưa đồng nhất làm cho QLNN về TG gặp khó khăn.
3.3. Tính chuyên nghiệp và tính hiệu quả trong QLNN về TG:
Kết quả đánh giá QLNN về TG ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay cho thấy
tính chuyên nghiệp trong QLNN về TG chưa cao. Đội ngũ cán bộ làm công tác
QLNN về TG chưa ngang tầm với nhiệm vụ được giao. Chưa đáp ứng được đòi hỏi
thực tiễn. Điều đó đang đặt ra cho QLNN về TG cần phải nhận thức đúng về
QLNN về TG và có điều chỉnh cho phù hợp.
3.4. Vị trí của cơ quan chuyên trách QLNN về TG:
Hiện nay vị trí cơ quan chuyên trách QLNN về TG đã bộc lộ những bất cập,
đang là vấn đề đặt ra cần quan tâm. Cơ quan chuyên trách tôn giáo trực thuộc
ngành Nội vụ như hiện tại với sự điều chỉnh chức năng và làm rõ cơ chế quan hệ,
hay đặt ở một ngành khác mang tính độc lập hơn để hiệu quả QLNN về TG cao
hơn là vấn đề cần được giải quyết. Trong những năm nhập cơ quan QLNN về TG
vào ngành Nội vụ, thực hiện được việc giảm đầu mối hành chính. Tuy nhiên không
giảm biên chế và hiệu quả công việc chưa có chuyển biến tích cực thậm chí còn
bộc lộ một số hạn chế so với thời gian trước đó vì những bất cập trong trực thuộc
hành chính[4].

nếu có riêng Luật tín ngưỡng, tôn giáo sẽ càng khẳng định sự phân biệt về ứng xử
đối với tôn giáo, điều mà Việt Nam đã và đang bị các thế lực thiếu thiện chí khai
thác để chống ta về tự do nhân quyền. Mặt khác cần thấy rõ đối với lĩnh vực
QLNN về TG Việt Nam chưa chuẩn bị tốt cho việc ra bộ Luật tín ngưỡng, tôn giáo
ở nhiều khía cạnh: thứ nhất, chưa chuẩn bị được đội ngũ cán bộ trực tiếp làm
QLNN về TG, có tính chuyên nghiệp cao, có trình độ chuyên môn thành thạo, theo
cách thường gọi là những “chuyên gia” đủ để thực hiện QLNN về TG theo luật.


Chúng ta có nhiều nhà nghiên cứu lý luận về tôn giáo rất sâu, rộng, nhưng những
người QLNN về TG có kinh nghiệm, hiểu lý luận và thực hành thành thạo thì rất
ít. Trong khi đó xây dựng pháp luật về tôn giáo phần chuyên môn tôn giáo do
những người có thực tiễn đề xuất xây dựng là rất quan trọng. Không có chuyên gia
sâu về thực tiễn thì khó để đề xuất đúng. Bởi vậy việc tham mưu xây dựng bộ Luật
tín ngưỡng, tôn giáo sẽ rất hạn chế nếu không đồng thời hoặc phải đi trước một
bước là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp, giỏi về chuyên môn. Và
nếu đòi hỏi làm sớm, làm nhanh, để có luật thì khi ra được luật cũng rất khó giải
quyết theo luật, vì nó không đồng bộ, khi đó sẽ tạo ra sự thiếu tin tưởng vào luật.
Thứ hai, bộ máy hành chính hiện tại còn khá nhiều hạn chế trong quản lý, nhất là
quản lý đối với tôn giáo một lĩnh vực có đặc thù riêng, rất nhạy cảm và luôn được
quốc tế quan tâm. Nếu chưa nâng khả năng quản lý nhà nước lên ngang tầm với
đòi hỏi của luật mà đã đưa ra bộ Luật tín ngưỡng, tôn giáo thì việc ra đời luật này
chỉ là hình thức không có lợi cho QLNN về TG ở nước ta. Thứ ba, QLNN về TG ở
Việt Nam đang chủ yếu là vận động và dưới sự lãnh đạo của Đảng, nếu không có
sự thay đổi về phương pháp quản lý đối với lĩnh vực này hoặc thay đổi thiếu triệt
để thì hiệu lực của thực hiện QLNN về TG theo luật cũng rất thấp.
Tuy nhiên, dù có xây dựng Luật tín ngưỡng, tôn giáo riêng hay ẩn những quy
định cho hoạt động tôn giáo vào các bộ luật khác. Theo chúng tôi, để QLNN về TG
hiệu quả, cần sớm có điều khoản chế tài, không chỉ quy định cho tổ chức và cá nhân
tôn giáo, mà phải có chế tài quy định xử lý đối với tổ chức, cá nhân quản lý hoặc

Thứ hai, đổi mới phương thức QLNN về TG theo hướng tăng cường quản lý
tổ chức giáo hội các tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo có bộ máy hành chính đạo, có
các quy định như Điều lệ, Hiến chương, Nội quy,..., có chức sắc, chức việc. Thông
qua pháp luật điều chỉnh đối với tổ chức giáo hội các tôn giáo, điều chỉnh các quy
định của tổ chức giáo hội nhằm nâng cao trách nhiệm tự quản trong nội bộ của tổ
chức giáo hội tôn giáo.
Thứ ba, QLNN về TG từ cơ sở. Mọi diễn biến về tôn giáo diễn ra ở cơ sở
nhưng cơ sở gần như không có cán bộ chuyên trách về tôn giáo mà chủ yếu là kiêm
nhiệm. Tăng cường trách nhiệm cho địa phương và giao trách nhiệm cho cán bộ
QLNN về TG ở cơ sở nhiều hơn theo phương châm phòng, chống không để các
điểm nóng về tôn giáo xảy ra, những vấn đề nãy sinh được giải quyết ngay từ cơ
sở, vấn đề sẽ đơn giản hơn, ít tốn kém hơn.


4.5. Điều chỉnh quan hệ Nhà nước đối với tôn giáo
Công tác xã hội, công tác từ thiện là nhu cầu và là tâm nguyện của chức sắc,
tín đồ các tôn giáo đã được trình bày, phản ánh với Đảng và Nhà nước từ lâu. Nhu
cầu đó nếu được cụ thể hóa bằng các chính sách, pháp luật sẽ góp phần phát huy
nội lực của các tầng lớp nhân dân, của các tôn giáo tham gia xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, góp phần giảm tải sức ép và gánh nặng về nguồn lực đầu tư, tài chính và
quản lý cho các cơ quan Nhà nước, dành ngân sách Nhà nước để đầu tư cho phát
triển, cho đào tạo nguồn lực con người, cho cải cách chế độ tiền lương đối với đội
ngũ cán bộ, công chức,…
Cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện một số quy định trong hệ
thống pháp luật tôn giáo để giải quyết về vấn đề này. Theo đó cần xem xét, từng
bước đưa các trường, lớp đào tạo của tôn giáo vào hệ thống giáo dục quốc dân như
nhiều nước trên thế giới đã làm để phát huy những giá trị tích cực và đóng góp của
tôn giáo trong lĩnh vực đào tạo nhân lực, giáo dục đạo đức, văn hóa, đồng thời tăng
cường sự quản lý nhà nước đối với công tác đào tạo, giáo dục trong các trường tôn
giáo, thông qua cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục

14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38

Tên tỉnh
Hà Nội
Hải Phòng
Bắc Giang

Quảng Ngãi
Bình Định
Phú Yên
Khánh Hoà
Bình Thuận

Ph.
giáo
1,765
597
706
594
837
1
5
14
296
113
397
8
32
03
0
0
01
10
530
802
955
591

120
37
47
67
47
0
0
0
0
10
224
353
131
80
1
51
292
169
350
76
86
33
138
52
46
16
83
24
146
108

0
0
0
0
1
12
33
28
52
17
21
12

3
3
0
0
2
1
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
0

0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
1
0

0
0
0
0
0
0
0
0
10

TG
khác
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0

416
151
445
75
79
03
0
0
01
20
755
1,156
1,088
671
3
216
643
258
381
330
105
229
705
180
385
275
484
303
563
431

Kon Tum
Gia Lai
Đăk Lăk
Lâm Đồng
B.Rịa V.Tàu
Đồng Nai
Tp H.C.Minh
Bình Dương
Bình Phước
Tây Ninh
Long An
Cần Thơ
Sóc Trăng
Vĩnh Long
Kiên Giang
Trà Vinh
Bến Tre
Bạc Liêu
Cà Mau
An Giang
Tiền Giang
Đồng Tháp
Hậu Giang
Tổng

112
23
23
82
122

584
78
64
27
33
96
53
65
95
42
84
18
19
55
54
49
28
6,454

3
0
2
8
7
15
21
24
65
15
3

7
11
13
2
12
3
8
5
9
22
4
464

0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
105
1
1
0

11
0
15
5
0
1
10

0
0
0
1
0
0
0
28
1
0
0
81

19
23
19
18
14
0
22
35
27





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status