Tài liệu soạn giảng dlđp Quảng Trị(đầy đủ) - Pdf 53

Quảng Trị là tỉnh nằm trong vùng Bắc Trung Bộ, có diện tích tự nhiên
4.744,32 km
2
. Dân số trung bình năm 2007 có 630.784 người, chiếm 1,44% về
diện tích và 0,76% về dân số cả nước, mật độ dân số 133 người/km
2
. Toàn tỉnh có
10 đơn vị hành chính, bao gồm 2 thị xã là Đông Hà, Quảng Trị và 8 huyện là Vĩnh
Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, Hướng Hóa, Đăkrông và huyện
đảo Cồn Cỏ. Thị xã Đông Hà là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị.
I. Các Đặc điểm tự nhiên
1. Vị trí địa lý-kinh tế
Tỉnh Quảng Trị nằm trên tọa độ địa lý từ 16
0
18 đến 17
0
10 vĩ độ Bắc, 106
0
32
đến 107
0
34 kinh độ Đông.
- Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình.
- Phía Nam giáp huyện Phong Điền và A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phía Đông giáp biển Đông.
- Phía Tây giáp tỉnh Savanakhet và Salavan nước CHDCND Lào.
- Quảng Trị có lợi thế về địa lý-kinh tế, là đầu mối giao thông, nằm ở trung
điểm đất nước, ở vị trí quan trọng- điểm đầu trên tuyến đường huyết mạch chính
của Hành lang Đông-Tây nối với Lào - Thái Lan - Mianmar qua cửa khẩu quốc tế
Lao Bảo đến các cảng biển miền Trung như Cửa Việt, Chân Mây, Đà Nẵng, Vũng
Áng v.v. Đây là điều kiện rất thuận lợi để Quảng Trị mở rộng hợp tác kinh tế trong

dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp; vùng trung du và đồng bằng nhỏ hẹp chạy
dài dọc theo tỉnh; kế đến là vùng cát nội đồng và ven biển. Do địa hình phía Tây
núi cao, chiều ngang nhỏ hẹp nên hệ thống sông suối đều ngắn và dốc.
- Địa hình núi cao. Phân bố ở phía Tây từ dãy Trường Sơn đến miền đồi bát
úp, chiếm diện tích lớn nhất, có độ cao từ 250-2000 m, độ dốc 20-30
0
. Địa hình
phân cắt mạnh, độ dốc lớn, quá trình xâm thực và rửa trôi mạnh. Các khối núi điển
hình là Động Voi Mẹp, Động Sa Mui, Động Châu, Động Vàng. Địa hình vùng núi
có thể phát triển trồng rừng, trồng cây lâu năm và chăn nuôi đại gia súc. Tuy nhiên
phần lớn địa hình bị chia cắt mạnh, sông suối, đèo dốc nên đi lại khó khăn, làm hạn
chế trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, mạng lưới điện v.v. cũng
như tổ chức đời sống xã hội và sản xuất. Tuy nhiên có tiềm năng thủy điện khá
phong phú.
- Địa hình gò đồi, núi thấp. Là phần chuyển tiếp từ địa hình núi cao đến địa
hình đồng bằng, chạy dài dọc theo tỉnh. Có độ cao từ 50-250m, một vài nơi có độ
cao trên 500 m. Địa hình gò đồi, núi thấp (vùng gò đồi trung du) tạo nên các dải
thoải, lượn sóng, độ phân cắt từ sâu đến trung bình. Khối bazan Gio Linh-Cam Lộ
có độ cao xấp xỉ 100-250 m dạng bán bình nguyên, lượn sóng thoải, vỏ phong hóa
dày, khối bazan Vĩnh Linh nằm sát ven biển, có độ cao tuyệt đối từ 50-100m. Địa
hình gò đồi, núi thấp thích hợp cho trồng cây công nghiệp lâu năm như cao su, hồ
tiêu, cây ăn quả lâu năm v.v.
- Địa hình đồng bằng. Là những vùng đất được bồi đắp phù sa từ hệ thống
các sông, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao tuyệt đối từ 25-30 m. Bao gồm
đồng bằng Triệu Phong được bồi tụ từ phù sa sông Thạch Hãn khá màu mỡ; đồng
bằng Hải Lăng, đồng bằng sông Bến Hải tương đối phì nhiêu. Đây là vùng trọng
điểm sản xuất lương thực, nhất là sản xuất lúa ở các huyện Hải Lăng, Triệu Phong,
Gio Linh, Vĩnh Linh.
- Địa hình ven biển. Chủ yếu là các cồn cát, đụn cát phân bố dọc ven biển.
Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc phân bố dân cư. Một số khu vực

trên 500 m. Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 8 nhiệt độ cao trung bình 28
0
C, tháng
nóng nhất thường là tháng 6, 7, nhiệt độ tối cao có thể lên tới 40
0
-42
0
C.
Số giờ nắng trung bình 5-6 giờ/ngày. Biên độ giữa các tháng trong năm
chênh lệch 7
0
-9
0
C. Chế độ nhiệt của Quảng Trị rất thuận lợi cho phát triển thâm
canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp
- Chế độ mưa. Lượng mưa trung bình hàng năm của Quảng Trị khoảng
2200-2500 mm; số ngày mưa trong năm dao động từ 154-190 ngày. Chế độ mưa ở
Quảng Trị biến động rất mạnh theo các mùa và cả các năm. Trên 70% lượng mưa
tập trung vào các tháng 9, 10, 11. Có năm lượng mưa trong 1 tháng mùa mưa
chiếm xấp xỉ 65% lượng mưa trung bình nhiều năm. Mùa khô thường từ tháng 12
đến tháng 7 năm sau, khô nhất vào tháng 7. Đây là thời kỳ có gió Tây Nam thịnh
hành. Tính biến động của chế độ mưa ảnh hưởng nhiều tới sản xuất nông, lâm, ngư
nghiệp, tới thi công các công trình xây dựng v.v. Mùa mưa, lượng mưa lớn tập
trung trong thời gian ngắn thường gây nên lũ lụt; mùa hè, thời gian mưa ít kéo dài
thường gây nên thiếu nước, khô hạn.
- Độ ẩm. Quảng Trị có độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 83-88%.
Giữa hai miền Đông và Tây Trường Sơn, chế độ ẩm cũng phân hóa theo thời gian.
Tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 4, độ ẩm thấp nhất có khi xuống đến 22%;
trong những tháng mùa mưa, độ ẩm tương đối trung bình thường trên 85%, có khi
lên đến 88-90%.

tiết của Quảng Trị cũng như ở các tỉnh miền Trung mang tính chất khắc nghiệt:
thường xảy ra hạn hán về mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa. Do đó việc khắc phục
thiên tai, xây dựng các công trình thuỷ lợi, trồng rừng đầu nguồn để giữ nước
chống lũ lụt để ổn định sản xuất và đời sống có ý nghĩa to lớn cần được quan tâm
chú trọng.
2.3. Thuỷ văn.
Quảng Trị có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ trung bình 0,8-1
km/km
2
. Do đặc điểm địa hình bề ngang hẹp, có dãy Trường Sơn núi cao ở phía
Tây nên các sông của Quảng Trị có đặc điểm chung là ngắn và dốc. Toàn tỉnh có
12 con sông lớn nhỏ, tạo thành 3 hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sông Thạch
Hãn và sông Ô Lâu (Mỹ Chánh).
- Hệ thống sông Bến Hải. Bắt nguồn từ khu vực động Châu có độ cao 1257
m, có chiều dài 65 km. Lưu lượng trung bình năm 43,4 m
3
/s. Các phụ lưu ở thượng
nguồn gồm có sông Sa Lung, sông Rào Thanh. Diện tích lưu vực rộng khoảng 809
km
2
. Sông đổ ra biển ở Cửa Tùng.
- Hệ thống sông Thạch Hãn. Có chiều dài 155 km, diện tích lưu vực lớn nhất
2660 km
2
. Nhánh sông chính là Thạch Hãn bắt nguồn từ từ các dãy núi lớn Động
Sa Mui, Động Voi Mẹp (nhánh Rào Quán)và động Ba Lê, động Dang (nhánh
Đăkrông). Sông Thạch Hãn đổ ra biển ở Cửa Việt.
- Hệ thống sông Ô Lâu (sông Mỹ Chánh). Được hợp bởi hai nhánh sông
chính là Ô Lâu ở phía Nam và sông Mỹ Chánh ở phía Bắc. Diện tích lưu vực của
hai nhánh sông khoảng 900 km

xuất 92.908,81 ha, rừng phòng hộ 65.312,36 ha, rừng đặc dụng 55.343,38 ha. Độ
che phủ rừng toàn tỉnh năm 2007 đạt 43,6%.
- Đất nuôi trồng thuỷ sản. Diện tích 2.521,77 ha, chiếm 0,85% diện tích đất
nông nghiệp, được sử dụng để nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ, ngọt.
- Ngoài ra còn có đất có điều kiện sản xuất muối, diện tích nhỏ 8,8 ha và đất
nông nghiệp khác 195,99 ha.
1.2. Đất phi nông nghiệp. Diện tích trên địa bàn toàn tỉnh có 40.587,12 ha,
bao gồm các loại đất ở, đất chuyên dùng và đất đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa
trang nghĩa địa v.v.
- Đất ở. Diện tích 6.941,12 ha, chiếm 17,1% diện tích đất phi nông nghiệp,
trong đó đất ở tại đô thị 1.434,62 ha, đất ở tại nông thôn 5.506,5 ha.
- Đất chuyên dùng. Diện tích 14.115,31 ha, chiếm 38,78% diện tích đất phi
nông nghiệp, bao gồm chủ yếu các loại đất: đất trụ sở cơ quan, công trình sự
nghiệp 347,38 ha; đất an ninh quốc phòng 1.744,15 ha; đất sản xuất kinh doanh phi
nông nghiệp 615,58 ha (đất khu công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động
khoáng sản, sản xuất VLXD); đất có mục đích công cộng 11.408,2 ha (giao thông,
thuỷ lợi v.v.).
- Đất tôn giáo, tín ngưỡng. Diện tích 363,89 ha, chủ yếu là đất đình, miếu,
am, từ đường v.v.
- Đất nghĩa trang nghĩa địa. Diện tích 3.915 ha.
- Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng. Diện tích 15.145,76 ha.
1.3. Đất chưa sử dụng. Diện tích đất chưa sử dụng trên toàn tỉnh còn
138.580,42 ha, chiếm 29,21% tổng diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là:
- Đất bằng chưa sử dụng, diện tích 13.112,31 ha, có thể khai thác đưa vào sử
dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp khác.
- Đất đồi núi chưa sử dụng, diện tích còn khá lớn 124.691,46 ha. Đây là
tiềm năng lớn cho phép khai hoang mở rộng qui mô phát triển nông, lâm nghiệp và
đưa vào sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội.
- Diện tích núi đá không có rừng cây 776,65 ha.
Tuy diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều nhưng phần lớn là đất cồn cát, đất

, ngư trường đánh
bắt rộng lớn, khá giàu hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, mực nang, cua,
hải sâm, tảo và một số loài cá, san hô quý hiếm. Trữ lượng hải sản vùng biển tỉnh
Quảng Trị có khoảng 60.000 tấn. Khả năng khai thác hàng năm khoảng 17.000 tấn.
Diện tích vùng bãi bồi ven sông trên 4.000 ha, đặc biệt vùng ven biển có khoảng
1.000 ha mặt nước và một số diện tích đất bị nhiễm mặn, đất cát có khả năng
chuyển đổi để phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản các loại.
Ngoài khơi cách đất liền 28 hải lý có huyện đảo Cồn Cỏ có vị trí quan trọng
về kinh tế và quốc phòng, hiện đang xây dựng cảng cá và khu dịch vụ hậu cần
nghề cá của tỉnh và các tỉnh trong vùng. Ven biển có một số vũng kín gió, thuận lợi
cho phát triển cảng, xây dựng các nhà máy đòng tàu, sửa chữa tàu biển và xây
dựng các khu neo đậu tàu thuyền như khu vực Cửa Việt, Cửa Tùng. Dọc bờ biển
Quảng Trị có nhiều bãi tắm, cảnh quan đẹp, có các di tích lịch sử cách mạng có thể
đưa vào khai thác du lịch như bãi tắm Cửa Việt, Cửa Tùng, Mỹ Thuỷ, Triệu Lăng,
địa đạo Vịnh Mốc v.v.
Cách không xa bờ biển Quảng Trị khoảng 100-120 km có nguồn khí mêtan
chất lượng cao với trữ lượng từ 60-100 tỷ m
3
. Khu vực mỏ nằm gần đảo Cồn Cỏ,
nếu khai thác nguồn khí này đưa vào đất liền thì tỉnh Quảng Trị là địa điểm gần
nhất.
Với tiềm năng tài nguyên biển, đảo đa dạng, Quảng Trị có điều kiện đẩy
mạnh phát triển tổng hợp kinh tế biển như đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản;
dịch vụ hậu cần nghề cá; cảng hàng hóa và vận tải biển; du lịch biển, sinh thái
biển. Trên cơ sở phát triển hài hòa các ngành kinh tế biển trong sự gắn kết chặt chẽ
với định hướng phát triển chung của vùng và cả nước, gắn kết với phát triển Hành
lang kinh tế Đông-Tây nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng biển đảo.
4. Tài nguyên nước
Trên địa bàn tỉnh có các nhánh đầu nguồn của 3 hệ thống sông chính đổ ra
biển là sông Bến Hải, Thạch Hãn và sông Ô Lâu. Sự phân bố đều khắp của các

- Sét gạch ngói. Hiện có 18 điểm, mỏ, có trữ lượng khoảng gần 82 triệu m
3
,
phân bố ở nhiều nơi nhưng tập trung chủ yếu ở Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ,
Triệu Phong, Hải Lăng.
- Cát, cuội, sỏi xây dựng. Có 16 mỏ và điểm, trữ lượng dự báo khoảng 3,9
triệu m3, tập trung ở phần thượng nguồn các sông, nằm ở những vùng có giao
thông thuận lợi cho việc khai thác.
- Cát thủy tinh. Dự báo trữ lượng 125 triệu m
3
, chất lượng tốt, phân bố chủ
yếu ở Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng nhưng tập trung ở khu vực Cửa Việt, cho
phép xây dựng nhà máy chế biến silicát, sản xuất thủy tinh và kính xây dựng.
- Cao lanh. Đã phát hiện được 3 điểm cao lanh là Tà Long, A Pey (Đăkrông)
và La Vang (Hải Lăng) chất lượng khá tốt, đang tiếp tục thăm dò, thử nghiệm để
đưa vào khai thác.
- Than bùn. Phân bố tập trung Hải Lăng và Gio Linh với tổng trữ lượng gần
400 ngàn tấn cho phép khai thác làm nguyên liệu cho sản xuất phân vi sinh với
khối lượng lớn.
- Ti tan. Phân bố dọc ven biển nhưng tập trung chủ yếu ở Vĩnh Linh, Gio
Linh, Hải Lăng, có trữ lượng khoảng 400.000 tấn, thể khai thác với khối lượng
khoảng 10-20 nghìn tấn/năm để xuất khẩu.
- Các mỏ nước khoáng. Phân bố ở Cam Lộ, Đakrông cho phép phát triển
công nghiệp sản xuất nước khoáng, tổ chức dịch vụ nghỉ dưỡng, chữa bệnh.
Ngoài ra còn có pirít phân bố ở Vĩnh Linh, Hướng Hóa; vàng Đăkrông (ở Tà
Long, A Vao) với trữ lượng khoảng 54 tấn...từng bước được thăm dò khảo sát để
đưa vào khai thác trong giai đoạn tới.
6. Tài nguyên du lịch
Quảng Trị có nhiều tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn khá phong phú,
phân bố rộng khắp trên các địa bàn trong tỉnh và gần các trục giao thông chính nên

, thuộc loại thấp so với các tỉnh,
thành khác trong cả nước. Dân cư phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ trong
tỉnh, tập trung đông ở các thị xã, các huyện đồng bằng và ven biển (thị xã Quảng
Trị 2.734 người/km
2
, thị xã Đông Hà 1.140 người/km
2
), trong khi đó huyện
Đakrông chỉ có 29 người/km
2
, Hướng Hoá 62 người/km
2
. Sự phân bố dân cư
không đồng đều giữa các vùng lãnh thổ gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây
dựng các công trình hạ tầng về giao thông, điện, nước, thủy lợi, trường học, trạm y
tế v.v. phục vụ sản xuất và dân sinh ở những vùng có địa hình núi cao, chia cắt,
thưa dân.
2. Nguồn nhân lực. Theo báo cáo thống kê năm 2007, toàn tỉnh có 349.139
người trong độ tuổi lao động, chiếm khoảng 55,3% dân số, bình quân mỗi năm
tăng thêm khoảng 4.000-5.000 người. Đội ngũ lao động được đào tạo, có chuyên
môn kỹ thuật của tỉnh còn hạn chế. Số người đạt trình độ từ sơ cấp, có chứng chỉ
nghề trở lên chiếm 29,3% (trong đó cao đẳng, đại học trở lên chiếm 6,4%; trung
học chuyên nghiệp 6,2%; công nhân kỹ thuật có bằng 1,3%, công nhân kỹ thuật
không bằng 12,5%, sơ cấp/chứng chỉ nghề 2,9%). Còn lại phần lớn là lao động
không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 70,7%. Trong cơ cấu lao động theo ngành,
phần lớn lao động trên địa bàn tỉnh làm việc trong các ngành nông, lâm, thủy hải
sản, chiếm tỷ lệ tương đối cao, khoảng 60-62%; lao động tham gia trong các lĩnh
vực công nghiệp-xây dựng và dịch vụ có xu hướng chiếm tỉ trọng ngày càng tăng
trong cơ cấu lao động xã hội.
3. Truyền thống văn hóa. Nhân dân Quảng Trị có truyền thống cần cù, chịu

Những năm qua, cùng với xu thế chung đổi mới và mở cửa của cả nước, sự
nghiệp phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Quảng Trị đã đạt được những thành tựu đáng
kể trên mọi lĩnh vực: qui mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng, cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể, các lĩnh
vực văn hóa xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được
nâng cao. Nền kinh tế tỉnh đang từng bước phát huy các thế mạnh về phát triển
thương mại, dịch vụ, du lịch; công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ điện, khai
khoáng; trồng cây công nghiệp dài ngày; trồng rừng nguyên liệu; khai thác và nuôi
trồng thủy sản; mở rộng giao lưu kinh tế với trong nước và nước ngoài v.v. Tiềm
lực kinh tế được củng cố và phát triển, đang tạo những nền tảng cơ bản cho giai
đoạn phát triển tiếp theo.
1. Tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP- giá SS 1994)
- Thời kỳ 1996-2000. Tăng trưởng kinh tế chung toàn nền kinh tế đạt bình
quân 8,6%/năm, trong đó công nghiệp- xây dựng tăng 17,3%/năm, khu vực nông
nghiệp tăng 8,6%/năm, dịch vụ tăng 6,2%. Năm 2000, tổng GDP toàn tỉnh (giá SS
1994) đạt 1.195,7 tỉ đồng, GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) năm 2000 đạt
2,857 triệu đồng.
Qui mô và nhịp độ tăng trưởng kinh tế
1995 2000 2005
2007
Thực
hiện
Mục
tiêu
RSQH
1- Tổng GDP (Tỷ đ- giá
1994)
792,8 1195,7 1813,2 1806
2.250,7
- Công nghiệp+XD 78,9 175,3 467,2 283 708,2

So với mục tiêu xác định trong Rà soát chỉnh quy hoạch thời kỳ 2001-2010
và kế hoạch 2001-2005 thì tỉnh đã đạt và vượt một số mục tiêu đề ra như tốc độ
tăng trưởng công nghiệp nhanh, đạt 21,5%/năm (mục tiêu 12-13%), thu nhập
GDP/người đạt 5,165 triệu đồng (QH 5,097 triệu) v.v. Một số chỉ tiêu phát triển
chưa đạt mục tiêu đề ra như tăng trưởng thời kỳ 2001-2005 đạt 8,7% (QH đề ra
9%), khu vực dịch vụ tăng chậm đạt 9,0% (QH 11,5%). Tuy nhiên đến năm 2007,
một số chỉ tiêu trong một số ngành và lĩnh vực đã đạt và vượt kế hoạch như tổng
sản lượng lương thực có hạt đạt 22 vạn tấn; sản lượng thủy sản 20,7 nghìn tấn; tỉ lệ
tăng dân số đạt 1,05%; tạo việc làm mới hàng năm 8.000 người; giảm tỉ lệ hộ
nghèo xuống còn 19,8% theo chuẩn mới quốc gia; tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh
dưỡng còn 22,5% v.v. Đây là những kết quả đáng khích lệ.
Nhìn chung tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong những năm qua đạt
mức khá cao, duy trì tương đối ổn định qua các thời kỳ. Ngành công nghiệp-xây
dựng tăng trưởng nhanh, đặc biệt những năm gần đây. Kinh tế nông nghiệp vẫn
duy trì được tăng trưởng khá ổn định (4,4-4,5%). Khu vực dịch vụ tăng khá, nhưng
chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh.
* Đánh giá chất lượng tăng trưởng các ngành kinh tế chủ yếu
Thời gian qua, tăng trưởng kinh tế của tỉnh tương đối ổn định qua các thời
kỳ (8,5% - 8,7%), năm 2007 tăng 11,2%. Các ngành kinh tế đã chú trọng phát triển
theo chiều sâu, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh
của sản phẩm.
Trong sản xuất nông nghiệp đã hình thành các vùng sản xuất tập trung,
chuyên canh hàng hóa như vùng lúa chất lượng cao, vùng cà phê, cao su, chăn nuôi
trang trại; trồng rừng nguyên liệu đạt được những kết quả đáng kể, góp phần tăng
tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh lên 43,6% (2007). Các giống cây trồng, vật nuôi mới,
kỹ thuật tiên tiến được khuyến khích áp dụng; năng suất, sản lượng nhiều loại cây
trồng, vật nuôi không ngừng đạt đỉnh cao mới; đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất
hiệu quả và được khuyến khích nhân rộng... Các chương trình, dự án phát triển hạ
tầng nông nghiệp, nông thôn đã góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và thay đổi bộ mặt nông thôn.

từ 43,6% năm 1995 xuống còn 38,4% năm 2005 và năm 2007 giảm xuống còn
37,0%.
So với mục tiêu Rà soát quy hoạch và kế hoạch 2001-2005 thì quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế về cơ bản đạt được mục tiêu đề ra, đặc biệt tỷ trọng
ngành công nghiệp -xây dựng tăng nhanh, chiếm 25,6% năm 2005 (QH 18,7%); tỷ
trọng khu vực nông nghiệp giảm mạnh (thấp hơn so QH đề ra); khu vực dịch vụ
mới đạt chưa đạt mục tiêu 38,4% (QH 43%). Nhìn chung cơ cấu kinh tế Quảng Trị
có bước chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp,
khu vực nông nghiệp giảm dần.
- Cơ cấu nội bộ từng ngành: Trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tỷ
trọng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giảm từ 83,1% năm 2000 xuống còn
79,5% năm 2007, trong khi đó ngành thủy sản có xu hướng tăng từ 10,9% lên
15,7%; Trong sản xuất ngành công nghiệp, mặc dù giá trị sản xuất công nghiệp chế
biến nông, lâm sản vẫn chiếm tỉ trọng lớn, nhưng các ngành công nghiệp năng
lượng, khai khoáng mỏ có chiều hướng tăng tỉ trọng trong những năm gần đây.
Khối dịch vụ nói chung tăng chậm, tỉ trọng có xu hướng giảm, riêng doanh thu du
lịch có tốc độ nhanh, đóng góp đáng kể cho GDP khối các ngành dịch vụ.
- Cơ cấu thành phần kinh tế. Có sự chuyển đổi theo hướng đa dạng hóa các
thành phần; kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỉ trọng ngày càng lớn (73%), kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài có chiều hướng ngày càng tăng, tuy nhiên qui mô đầu tư
nước ngoài còn nhỏ bé (1,2%). Đây là hạn chế lớn của tỉnh trong việc thu hút
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
(Theo GDP, giá hiện hành, đơn vị tính: %
Chỉ tiêu 1995 2000
2005 2007
Thực
hiện
Mục tiêu
RSQH

đồng, trong đó chủ yếu là chi thường xuyên, chiếm 42,4%, chi cho đầu tư phát
triển còn thấp, chiếm 17,1%, song có xu hướng tăng lên. Chi cho sự nghiệp giáo
dục được quan tâm. Tỉnh đã tích cực thực hiện tốt Luật Ngân sách; bố trí hợp lý
các khoản chi, cơ cấu chi cơ bản đảm bảo đáp ứng các nhu cầu chi thường xuyên
và góp phần tích cực cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo, thực hiện các
chương trình, dự án, chính sách của tỉnh.
- Hoạt động tài chính: Có những chuyển biến tích cực theo hướng đổi mới
công tác xây dựng dự toán ngân sách. Đẩy mạnh phân cấp ngân sách cho huyện,
thị xã và cấp xã, tạo sự chủ động cho cấp cơ sở khai thác nguồn thu từ nội lực nền
kinh tế thông qua các chính sách thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển.
Tuy nhiên tình hình thu chi ngân sách và hoạt động tài chính vẫn còn nhiều
khó khăn, thu-chi ngân sách mất cân đối ảnh hưởng rất lớn đến tích luỹ nội bộ nền
kinh tế và đầu tư phát triển. Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP còn thấp, năm 2007
đạt 11,5%.
4. Đầu tư phát triển
Tổng đầu tư xã hội thời kỳ 2001-2005 đạt 5.600 tỷ đồng, tăng gấp 2,9 lần so
với thời kỳ 1996-2000, trong đó vốn đầu tư trong nước chiếm 83%, vốn nước
ngoài chiếm 17%. Năm 2007, tổng vốn đầu tư xã hội đạt 2.938 tỷ đồng, trong đó
vốn khu vực kinh tế Nhà nước đầu tư 1.751 tỷ đồng, chiếm 59,6% (vốn ngân sách
nhà nước chiếm 33,5%, vốn tự có của các doanh nghiệp nhà nước 5,0%, vốn vay
9,8%, v.v.). Vốn khu vực kinh tế ngoài Nhà nước chiếm 31,7% (vốn doanh nghiệp
13%, vốn dân cư 18,7%). Vốn khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 8,7%.
Tỉnh đã tích cực xúc tiến, quảng bá đầu tư kêu gọi các nhà đầu tư từ các
nước Thái Lan, Trung Quốc, Lào, từ các thành phố lớn, các doanh nghiệp trong
nước vào các khu công nghiệp tập trung Nam Đông Hà và Khu KTTMĐB Lao
Bảo. Đến nay đã thu hút trên 60 dự án của các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh đăng
ký đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 3.000 tỉ đồng, trong đó đã thu hút được một
số dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài với số vốn 37,5 triệu USD. Tổng nguồn vốn
ODA đã được cam kết đầu tư từ 2001-2005 là 65 triệu USD. Tỉnh đã tranh thủ thu
hút nguồn vốn NGO, đã có trên 30 tổ chức phi chính phủ và tổ chức quốc tế hỗ trợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status