1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, khoa học và công nghệ (KH-CN) đã và đang trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp và là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của từng quốc gia,
từng tổ chức, từng doanh nghiệp.
Có thể nói rằng, KH-CN là yếu tố tác động mạnh mẽ đến quy mô, tốc độ
cũng như sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH)
đất nước. Bởi vì CNH - HĐH là một quá trình mà trong đó sử dụng năng lực, kinh
nghiệm, trí tuệ, bản lĩnh của con người để tạo ra và sử dụng các thành tựu khoa học
kỹ thuật, công nghệ hiện đại kết hợp với giá trị truyền thống của dân tộc để đổi mới
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại.
Quá trình CNH, HĐH đòi hỏi phải có một lực lượng lao động có chất lượng cao. Vì
vậy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) trong các
trường đại học là một xu thế tất yếu và mang tính bắt buộc.
Điều 12 của Luật khoa học và công nghệ quy định nhiệm vụ KH&CN của
trường đại học là: “(1) Trường đại học có nhiệm vụ tiến hành NCKH và phát triển
công nghệ, kết hợp đào tạo với NCKH và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ
theo quy định của Luật này, Luật giáo dục và các quy định khác của pháp luật; (2)
Trường đại học thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nhiệm vụ khoa học và công
nghệ ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước và NCKH về giáo dục”.
Giảng dạy không tách rời nghiên cứu. Đại học của các nước là đại học
nghiên cứu. Xu thế đại học Việt Nam phải là đại học nghiên cứu. Các trường đại
học ở Việt Nam có đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên và học viên sau đại học
lớn. Vì vậy, nếu không đảm bảo thực hiện tốt chức năng NCKH thì sẽ gây lãng phí
rất lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực KH&CN và sẽ có nguy cơ “tụt hậu” rất
xa trong NCKH (chỉ so sánh với các trường đại học ở Đông Nam Á). Muốn có được
kết quả NCKH tốt thì đòi hỏi hoạt động NCKH của trường phải tốt. Tuy nhiên, việc
tổ chức NCKH ở các trường đại học nước ta hiện nay còn rất nhiều hạn chế. Trường
Đại học Hoa Sen cũng không ngoại lệ. Vì vậy, nghiên cứu những nguyên nhân
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Tổng hợp, phân tích một cách hệ thống
các tác động ảnh hưởng của các văn bản luật, các chính sách của Nhà nước
và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của các tổ chức hoạt động
KH&CN liên quan đến việc tổ chức hoạt động NCKH; nghiên cứu, phân tích
các chính sách, chiến lược, các báo cáo, tài liệu liên quan đến việc tổ chức
hoạt động NCKH của Trường Đại học Hoa Sen.
-
Phương pháp thống kê: thống kê, phân tích những dữ liệu thu được.
-
Phương pháp điều tra xã hội học (gửi bảng hỏi điều tra, khảo sát thực tế,
phỏng vấn sâu) để nghiên cứu những thành quả và hạn chế của việc tổ chức
hoạt động NCKH tại Trường Đại học Hoa Sen.
Cụ thể là:
Gửi phiếu điều tra các giảng viên ở các khoa có liên quan đến hoạt động
NCKH của Trường Đại học Hoa Sen.
3
Phỏng vấn sâu một số lãnh đạo, nhà quản lý chuyên trách về mảng NCKH,
các chuyên gia tham gia xây dựng và triển khai các đề án phát triển hoạt
động NCKH của Trường Đại học Hoa Sen.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích luỹ một cách ngẫu nhiên
trong đời sống hàng ngày, nhờ đó con người hình dung được sự vật, biết
cách phản ứng trước tự nhiên, biết ứng xử trong quan hệ xã hội. Tuy chưa đi
sâu vào bản chất sự vật, song những tri thức kinh nghiệm làm cơ sở cho sự
hình thành các tri thức khoa học.
5
-
Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích luỹ một cách hệ thống và
được khái quát hoá nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học. Nó không phải là
sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm mà là sự khái quát hoá thực tiễn
sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc thành hệ thống các tri thức bản chất về sự vật
hiện tượng. Các tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các bộ
môn khoa học.
Như vậy, khoa học ra đời từ thực tiễn và vận động, phát triển cùng sự vận
động, phát triển của thực tiễn. Ngày nay, khoa học trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp, thậm chí nó vượt lên trước hiện thực hiện có. Vai trò của khoa học ngày
càng gia tăng và đang trở thành động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế - xã
hội.
Khoa học là một quá trình nhận thức: tìm tòi, phát hiện các quy luật của sự
vật hiện tượng và vận dụng các quy luật đó để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp
tác động và các sự vật hoặc hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng. Khoa
học chỉ tìm thấy chân lý khi áp dụng được các lý thuyết của mình vào thực tiễn một
cách hiệu quả.
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội - một bộ phận hợp thành của ý thức
Khám phá các thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng của thế giới hiện
thực.
-
Phát hiện các quy luật của sự vật trong hiện thực.
-
Vận dụng những quy luật để vận dụng sáng tạo giải pháp tác động vào sự
vật.
Nghiên cứu khoa học là một dạng lao động phức tạp nhất trong các dạng
hoạt động của xã hội loài người ngày nay. Nghiên cứu khoa học là một trong những
hoạt động có tốc độ nhanh nhất thời đại.
1.1.1.3 Tổ chức Khoa học và công nghệ
Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên
cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ
khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của
pháp luật.
7
Theo điều 9 - Luật Khoa học và công nghệ năm 2013, hình thức của tổ chức
khoa học và công nghệ được quy định như sau:
Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện, trung tâm,
phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và
hình thức khác do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định;
Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động trí tuệ giúp sinh viên vận
dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong học tập
và trong thực tiễn, trong đó sinh viên bước đầu vận dụng một cách tổng hợp
những tri thức đã học để tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất nghiên
cứu, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề khoa học do thực tiễn
cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra để từ đó có thể đào sâu, mở rộng và hoàn
thiện vốn hiểu biết của mình.
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN NHẤT VỀ NCKH VÀ CÔNG NGHỆ
1.2.1 Các loại hình NCKH
- Nghiên cứu cơ bản: Là nghiên cứu nhằm để phát hiện bản chất và quy luật
của sự vật trong hiện thực: có thể dựa trên các tiên đề, dựa trên quan sát hoặc
thực nghiệm. Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản là các phát hiện, sáng kiến, công
thức, phát minh. Có rất nhiều hướng nghiên cứu cụ thể.
- Nghiên cứu ứng dụng: Là vận dụng kết quả nghiên cứu cơ bản vào môi
trường mới của sự vật để xây dựng các giải pháp, nguyên lí cụ thể trong tổ chức,
quản lý hoạt động thực tiễn của con người.
- Nghiên cứu triển khai: Là vận dụng các quy luật (từ nghiên cứu cơ bản), các
nguyên lý (thu được từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra hình mẫu cụ thể với các
tham số đủ mang tính khả thi về kỹ thuật... Sản phẩm của nghiên cứu này là các
hình mẫu, mẫu vật… cụ thể đáp ứng vào yêu cầu của đời sống hiện thực.
- Nghiên cứu thăm dò: là loại hình nghiên cứu cơ sở cho các loại nghiên cứu
khác, có tính định hướng cho các quá trình nghiên cứu khoa học cụ thể của các lĩnh
vực khác.
- Nghiên cứu dự báo: cũng là loại hình cơ sở cho các nghiên cứu khác, nhưng
là phạm vi nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai.
9
nhà nghiên cứu, cũng như người quản lý và cơ quan quản lý nghiên cứu cần quan
tâm xử lý những vấn đề về mặt phương pháp luận và việc tổ chức nghiên cứu.
Những đặc điểm của NCKH là:
-
Tính mới: Quá trình nghiên cứu hướng vào phát hiện, sáng tạo ra những
điều mà người khác chưa biết hoặc những sản phẩm cùng loại nhưng có tác
dụng mới (đa chức năng). Đây là thuộc tính quan trọng số một của lao động
khoa học vì nghiên cứu khoa học là quá trình thâm nhập vào thế giới của các
sự vật mà con người chưa biết.
-
Tính tin cậy: Đặc điểm phản ánh kết quả nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu chỉ
được thừa nhận nhờ các phương pháp nghiên cứu nào đó mà người ta có
thể kiểm chứng được nhiều lần do nhiều người thực hiện trong nhiều hoàn
cảnh khác nhau nhưng kết quả thu được phải giống nhau về mặt định tính.
-
Tính thông tin: Nghiên cứu khoa học là quá trình vận dụng và xử lý thông
tin, sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin. Các thông tin trong
nghiên cứu khoa học được chứa đựng dưới dạng ngôn ngữ hoặc ký tự đã
được mã hóa để con người có thể trao đổi với nhau.
10
-
Luật Khoa học công nghệ 2013 xác định “Tổ chức nghiên cứu và phát triển
cấp cơ sở chủ yếu thực hiện các hoạt động KH-CN theo mục tiêu, nhiệm vụ do tổ
chức, cá nhân thành lập xác định”.
Định hướng NCKH và công nghệ được xây dựng theo kế hoạch ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn, phù hợp với mục tiêu phát triển của tổ chức.
1.2.4 Tuyển chọn đề tài NCKH
1.2.4.1 Đề tài NCKH
11
Là một nhiệm vụ nghiên cứu do một người hoặc một nhóm người thực
hiện. Nhiệm vụ nghiên cứu là cơ sở để hoạch định kế hoạch. Có các nguồn nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
-
Chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia:
Khoa học công nghệ ngày nay phát triển rất nhanh chóng, cạnh tranh thị
trường rất quyết liệt. Có rất nhiều đề tài nghiên cứu triển khai chịu sự ràng buộc
của thời gian đạt được hiệu quả kinh tế, nhưng có một số đề tài đang trong quá
trình nghiên cứu chế tạo, công việc chưa kết thúc mà sản phẩm đã lạc hậu. Để
tránh tình trạng này, căn cứ vào xu hướng phát triển của khoa học công nghệ, vào
nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, nhà nước đề ra quy hoạch dài hạn
và xác định tổng mục tiêu. Trên cơ sở đó và căn cứ vào tình hình phát triển khác
nhau, nhà nước, ngành, địa phương định kỳ để ra hướng ưu tiên. Những cơ quan
có điều kiện có thể căn cứ vào những hướng nằm trong quy hoạch, hướng dẫn để
chọn ra một số hướng, tiến hành nghiên cứu trước, làm công tác chuẩn bị về mặt
kĩ thuật để trình duyệt kế hoạch hằng năm. Nguồn kinh phí cho các đề tài loại này
được. Nghiên cứu thị trường cung cấp những tư liệu mang tính chỉ đạo cho tiêu
thụ, sản xuất của các công ty, doanh nghiệp, cung cấp những số liệu tin cậy cho việc
xác định mục tiêu và đề tài nghiên cứu triển khai. Nguồn tài chính ở đây do người
sản xuất cung cấp.
13
-
Đề tài xuất phát từ ủy thác theo chiều ngang
Lấy hợp đồng nghiên cứu khoa học làm căn cứ, ủy thác theo chiều ngang là
nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu khoa học giữa các viện nghiên cứu với viện nghiên
cứu, giữa viện nghiên cứu với các doanh nghiệp. Những đề tài nghiên cứu ủy thác
vượt ra ngoài bộ môn khoa học, ngành chủ quản này có mục đích ứng dụng rõ
ràng, chu kỳ tương đối ngắn. Nguồn tài chính do cơ quan có nhu cầu cấp.
-
Đề tài xuất phát từ hợp tác quốc tế
Nội dung của hợp tác quốc tế bao gồm giao lưu chuyên gia, cùng nhau
nghiên cứu, trao đổi thông tin… Phương thức hợp tác khoa học công nghệ quốc tế
có hợp tác song phương giữa các đơn vị cơ sở và kế hoạch hợp tác giữa các chính
phủ.
-
Nhiệm vụ do người nghiên cứu tự đặt cho mình
Trong trường hợp này người nghiên cứu phải tự túc kinh phí.
1.2.4.2 Tên đề tài NCKH
Một kết quả nghiên cứu khoa học có thể có các hiệu quả sau:
-
Hiệu quả kinh tế
-
Hiệu quả xã hội
-
Hiệu quả khoa học
Hiệu quả kinh tế là hiệu quả chóng nhận thấy và dễ đánh giá nhất. Còn hiệu
quả xã hội và hiệu quả khoa học rất khó đánh giá do tác động của nó không dễ thấy
và có tác dụng khá lâu dài. Vì vậy khó có thể đánh giá một cách toàn diện một kết
quả nghiên cứu khoa học.
Hiện nay để đánh giá một đề tài, người ta quy định sử dụng một hệ thống
chỉ tiêu gồm một số mức: giỏi, khá, đạt yêu cầu và không đạt yêu cầu. Tuy nhiên
trước khi hệ thống đánh giá chính thức này được đưa ra, nhiều nơi đã xây dựng
những thang đánh giá tương đối phù hợp với hoạt động nghiên cứu khoa học (và
hiện nay vẫn được sử dụng như một phương pháp đánh giá sơ bộ đối với những
đề tài chưa được nghiệm thu). Bản chất thang đó có một số điểm quan trọng sau:
-
Tiến độ phù hợp kế hoạch đã đăng ký với cơ quan chủ quản
-
Phương pháp nghiên cứu đúng đắn
1.4.1 Khái niệm “chính sách”
Trong phạm vi luận văn này, các văn bản quy định về hoạt động KH&CN mà
Trường Đại học Hoa Sen ban hành như chế độ làm việc của giảng viên, quy chế về
hoạt động NCKH cho giảng viên và sinh viên, quy chế chi tiêu nội bộ... tuân thủ
theo quy định hiện hành của Nhà nước là những chính sách được hiểu và vận dụng
theo cách tiếp cận tổng hợp và định nghĩa tổng quát nêu trên.
1.4.2 Các chính sách tác động đến hoạt động KH-CN ở các trường Đại học
Giáo dục, KH-CN luôn được Đảng và Nhà nước xem là quốc sách hàng đầu.
Điều đó được thể hiện thông qua luật, một số các chủ trương, chính sách, văn bản
dưới luật. Cụ thể:
-
Luật giáo dục đại học 2013: quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ sở giáo dục đại học, hoạt động đào tạo, hoạt động khoa học và công
nghệ, hoạt động hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng và kiểm định chất
16
lượng giáo dục đại học, giảng viên, người học, tài chính, tài sản của cơ sở
giáo dục đại học và quản lý nhà nước về giáo dục đại học.
-
Luật khoa học và công nghệ 2013: quy định về tổ chức, cá nhân hoạt động
khoa học và công nghệ; việc tổ chức thực hiện hoạt động khoa học và công
nghệ; biện pháp bảo đảm phát triển khoa học và công nghệ; quản lý nhà
nước về khoa học và công nghệ.
-
mới chỉ là một phần rất nhỏ trong bể kiến thức vô cùng rộng lớn. Do đó, để giảng
dạy tốt, giảng viên phải tự bồi dưỡng kiến thức cho mình thông qua họat động
NCKH. Với hoạt động này, buộc giảng viên phải đọc, phải suy ngẫm, phải tìm tòi cái
mới, phải giải thích, phân tích, chứng minh vấn đề đặt ra. Những hoạt động tư duy
17
đó làm cho trình độ nhận thức của giảng viên ngày càng được nâng cao, đáp ứng
tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của người học.
Với sự phát triển tốc độ chóng mặt của khoa học hiện nay, kiến thức cũ đã
rất nhanh bị lạc hậu. Nếu giảng viên không tham gia NCKH thì sẽ khó có thể cập
nhật những kiến thức mới, bài giảng sẽ thiếu tính thực tiễn. Chỉ thông qua thực
hiện đề tài NCKH buộc giảng viên phải tìm tòi tài liệu, phải đọc rất nhiều để tìm ra
những tri thức mới.
Giảng viên phải tích cực tham gia NCKH để củng cố kiến thức chuyên môn
thì khi đứng trước sinh viên sẽ tự tin, chững chạc thực hiện tốt bài giảng và như
vậy họ sẽ có uy tín đối với sinh viên, được sinh viên quý trọng. Không có trường
hợp giảng viên giảng không tốt nhưng lại có uy tín đối với sinh viên vì uy tín của
giảng viên phụ thuộc vào chất lượng giảng dạy và nhân cách của thầy, cô giáo. Nếu
giảng viên lên lớp giảng tốt, được sinh viên quý trọng thì họ sẽ yêu nghề hơn, tâm
huyết hơn và càng ra sức nâng cao trình độ chuyên môn để không phụ lòng tin yêu
của sinh viên. Giảng viên có lương tâm nghề nghiệp sẽ rất chán nản khi mình giảng
cho sinh viên không hiệu quả và sẽ tự chán mình trước khi sinh viên chán mình.
1.5.1.2. Đối với sinh viên
Hoạt động nghiên cứu khoa học mang lại những ý nghĩa thiết thực đối với
sinh viên. Bằng nhiều hình thức khác nhau như viết tiểu luận, báo cáo thực tập,
làm khóa luận, nghiên cứu khoa học sẽ rèn luyện cho sinh viên khả năng tư duy
sáng tạo, khả năng phê phán, bác bỏ hay chứng minh một cách khoa học những
quan điểm, rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp kiến thức, tư duy lôgic, xây dựng
phần vào sự nghiệp chung của dân tộc, đưa đất nước sánh vai với bè bạn năm
châu. Phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học chính là chìa khóa thành công
của sinh viên trên đường học tập và nghiên cứu ở nhà trường đại học, cao đẳng.
1.5.2 Đối với bản thân Trường Đại học
Trong thời đại ngày nay, KH-CN đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Các quá trình sản sinh, tích luỹ và sử dụng kiến thức ngày càng xâm nhập vào nhau
một cách hữu cơ. Sự tích luỹ các quá trình đó thúc đẩy nhanh chóng quá trình hình
19
thành hệ thống Giảng dạy- Khoa học - Sản xuất. Đây là biện pháp quan trọng thực
hiện nguyên lý học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn.
Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, uy tín của một trường Đại
học được đánh giá tuỳ thuộc vào chất lượng đào tạo của trường đó. Chất lượng
đào tạo là sản phẩm cuối cùng của một quy trình đào tạo bao gồm nhiều khâu, từ
mục tiêu, chương trình đào tạo, kiểm tra đánh giá và các điều kiện thực hiện quy
trình. Vì vậy, chất lượng đào tạo là một khái niệm động và phụ thuộc nhiều yếu tố
khác nhau, trong đó có vai trò của hoạt động NCKH. Nói một cách khác, NCKH là
một chức năng không thể thiếu và có một mối quan hệ mật thiết với chức năng
đào tạo của trường Đại học.
Nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ vừa là điều kiện, vừa là
phương pháp trong giáo dục đại học (learning by doing - học qua việc làm). Nói
cách khác, phải đào tạo nghiên cứu và cho nghiên cứu. Do có các hoạt động NCKH,
trình độ khoa học của đội ngũ cán bộ giảng dạy được nâng lên, liên tục cập nhật
kiến thức của thời đại. Ngoài ra, thông qua việc thực hiện đề tài NCKH các cấp, các
tập thể nghiên cứu khoa học và công nghệ của các trường Đại học được hình
thành, củng cố và có điều kiện phát huy tác dụng. Hoạt động NCKH còn gắn liền với
công tác đào tạo cán bộ có trình độ cao, nhiều kết quả của các đề tài NCKH là nội
dung chủ yếu của các luận án tiến sĩ, thạc sĩ của cán bộ giảng dạy. Người thầy là yếu
dạy
Chất
lượng
giảng dạy
Khả
năng
kiếm việc của
sinh viên tốt
nghiệp
Quốc tế hóa
30
15
Số lần trích dẫn bình quân bài báo
15
Tỷ lệ sinh viên so với giảng viên
20
Đánh giá của chủ sử dụng lao động châu Á
(các chủ sử dụng lao động có kinh nghiệm
10
phát triển các ngành khoa học cơ bản của nước ta là rất cần thiết vì chúng là nền
tảng cho các nghiên cứu ứng dụng và là nền tảng cho việc tiếp thu các công nghệ
mới của nhân loại. Sự phát triển của các khoa học cơ bản gắn chặt với triển vọng và
khuynh hướng phát triển của sự phát triển giáo dục đại học, bởi vì các trường đại
học phải cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản làm cơ sở cho họ trong 3040 năm công tác sau này, đồng thời dạy họ cách tự học và cung cấp cho họ những
hiểu biết thực tiễn của 5-10 năm đầu công tác. Muốn làm được việc đó phải có
một đội ngũ thầy cô giáo có trình độ cao về khoa học cơ bản, các trường Đại học
phải trở thành trung tâm khoa học cơ bản mạnh.
Kết quả của các nghiên cứu cơ bản có thể chưa tác động trực tiếp và tức
thời đến sản xuất và đời sống, nhưng hiệu quả gián tiếp của nghiên cứu cơ bản là
rất quan trọng, vì đây là cơ sở cho việc chiếm lĩnh và sáng tạo các đỉnh cao của KHCN, là cơ sở cho việc hoạch định các đường lối chính sách đảm bảo cho việc phát
triển bền vững quốc gia.
Ngoài ra, các trường Đại học còn đóng vai trò chủ yếu trong đào tạo nguồn
nhân lực KH-CN cho quốc gia, trong đó có việc đào tạo nhân lực có chất lượng cao
như đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ.
1.5.3.2. Về kinh tế
Nhiều đề tài sau khi kết thúc giai đoạn nghiên cứu triển khai được ứng dụng
vào sản xuất đã đem lại hiệu quả kinh tế cao. Hoạt động triển khai ứng dụng kết
quả NCKH vào sản xuất của các trường Đại học đã phát triển mạnh.
Các dự án sản xuất thử nghiệm đã có tác dụng tốt là nhanh chóng đưa các kết quả
NCKH vào thực tiễn giúp khẳng định tính đúng đắn của đề tài nghiên cứu. Việc
22
thực hiện các dự án sản xuất thử - thử nghiệm và các hợp đồng NCKH đã gắn nhà
trường với xã hội. Các trường Đại học đã thực sự góp phần vào sự phát triển, tăng
trưởng kinh tế của đất nước. Ngoài ra, bằng những loại hình hoạt động NCKH trên,
các trường Đại học có thêm nguồn vốn tự có (dù còn rất ít ỏi) để tăng cường cơ sở
vật chất, cải thiện đời sống cán bộ, giảng viên trong nhà trường.
tán, chưa liên kết được với nhau để hình thành những nhóm nghiên cứu mạnh.
Mặt khác các chính sách tạo động lực cho NCKH chưa đủ mạnh và hấp dẫn đối với
đội ngũ giảng viên. Kinh phí dành cho khoa học tăng đều hàng năm, tuy nhiên
nhiều giảng viên vẫn nghĩ thu nhập từ NCKH khó khăn hơn nhiều so với thu nhập
từ hoạt động giảng dạy. Lãnh đạo nhiều trường đại học còn cho rằng: Sự phối hợp
giữa các trường Đại học với các Doanh nghiệp ở trong nước còn rất hạn chế. Nhiều
đề tài NCKH được dày công nghiên cứu nhưng không gắn với sản xuất và đời
sống... Chính vì vậy, trong cơ chế mới và sự phát triển chung của nền kinh tế, các
Doanh nghiệp lớn được ra đời, bên cạnh việc NCKH phục vụ công tác đào tạo, các
trường Đại học cần có chiến lược thực hiện các đơn đặt hàng lớn từ các Doanh
nghiệp này.
Một vấn đề quan trọng đã tồn tại nhiều năm nhưng vẫn chưa được khắc
phục là cơ sở vật chất phục vụ NCKH chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là những
24
nghiên cứu có sử dụng các thiết bị hiện đại theo chuẩn quốc tế. Theo số liệu thống
kê của 99 trường ĐH, chỉ có 48,5% số trường có phòng KH&CN riêng; 32,3% có
phòng khoa học và hợp tác quốc tế; ... [13]
Để hoạt động NCKH trong các trường thực sự hiệu quả, ngoài những định
hướng chung như đẩy mạnh nội lực trong NCKH, thắp ngọn lửa đam mê sáng tạo, ý
thức nghề nghiệp và trách nhiệm của đội ngũ giảng viên, thì hoạt động NCKH của
các cơ sở giáo dục ĐH cũng nên hướng theo đặc thù và năng lực của từng trường
để có chính sách đầu tư phù hợp, đồng thời có cơ chế đấu thầu đối với các đề tài
NCKH và giao nhiệm vụ theo hợp đồng khoán sản phẩm.
25