Các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường (2) - Pdf 53

LỜI NÓI ĐẦU

I – Một số khái niệm liên quan đến bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm môi trường:
1. Khái niệm ô nhiềm môi trường:
a. Ô nhiễm môi trường:
Luật bảo vệ môi trường được quốc hội thông qua ngày 27/12/1993 định
nghĩa “Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi
phạm tiêu chuẩn môi trường”. Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật
học của trường đại học luật”. Ô nhiễm môi trường được định nghĩa là tình trạng
“môi trường bị thay đổi tính chất vượt quá các tiêu chuẩn môi trường đã được
quy định”. Như vậy, không phải bất cứ hành vi nào tác động và làm thay đổi môi
trường đều được coi là hành vi gây ô nhiễm. Một hành vi làm ô nhiễm môi
trường phải đạt 2 tiêu chí:


Thứ nhất: Hành vi đó phải làm thay đổi tính chất của môi trường – sự
thay đổi tính chất lý, hóa, sinh học của môi trường.
Thứ hai: Hành vi đó phải vi phạm tiêu chuẩn môi trường. Tiêu chuẩn môi
trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép nhằm đánh giá những hành vi và
trạng thái môi trường. Những chuẩn mực, những giới hạn cho phép được hiểu là
mức độ hoặc phạm vi chất ô nhiễm nhất định trong các thành phần môi trường
mà nhà nước thấy có thể chấp nhận được vì chưa đến mức gây nguy hiểm cho
con người. Đây là căn cứ quan trọng để xác định một hành vi gây ô nhiễm môi
trường ở mức độ nào đồng thời cũng là một trong những cơ sở để đánh giá, xác
định việc bồi thường thiệt hại.
b. Bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường:
Bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường là một hình thức
trách nhiêm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải bù đắp, đền
bù những tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường phát sinh khi có chủ thể có hành vi tác

Những sự cố môi trường có thể xảy ra là:
- Sự cố kĩ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sản xuất, kinh
doanh, công trình kinh tế, khoa học, kĩ thuật, văn hóa, xã hội..
- Sự cố trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác và vận chuyển khoáng sản,
dầu khí, sập lò, vỡ ống dẫn dầu…
- Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử..
Trong các sự cố trên, sự cố tràn dầu là một sự cố xảy ra phổ biến hiện nay
và gây nhiều thiệt hại lớn.
II - Các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh
vực môi trường:


Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 27-12-1993, có
hiệu từ ngày 10/1/1994 là văn bản pháp luật chủ yếu trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường. Các điều 7, 30, 52 Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 quy định các tổ
chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác mà
làm suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, gây sự cố môi trường thì phải
thực hiện các biện pháp khắc phục theo quy định của Uỷ ban nhân dân địa
phương và cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường; có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Đây là văn bản đầu tiên quy định
về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, là cơ sở pháp
lý quan trọng, cụ thể để phát sinh quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm môi trường.
Khoản 2 điều 18 Nghị định 175-CP ngày 18-10-1994 của Chính phủ Về
hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường quy định: “Các tổ chức sản xuất,
kinh doanh có trách nhiệm nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật
về đóng góp tài chính về bảo vệ môi trường, bồi thường thiệt hại do có hành vi
gây tổn hại môi trường theo quy định của pháp luật”.
Theo điều 1 (khoản 3) Nghị định số 26-CP ngày 26-4-1996 của Chính phủ
Quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường, mọi tổ chức, cá

thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
ô nhiễm môi trường.
Đến khi Bộ luật dân sự 2005 được ban hành với một số điểm mới về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Về bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm môi trường, Điều 624 quy định: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể
khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi”. Điều
luật này muốn khẳng định một điều: người làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại


luôn phải chịu trách nhiệm bồi thường trừ trường hợp người bị thiệt hại có lỗi
hoặc nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường là do thiên tai.
Luật Bảo vệ môi trường 2005 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng và phù
hợp với lý luận về thiệt hại do ô nhiễm môi trường. Luật Bảo vệ môi trường
2005 quy định chi tiết về bồi thường thiệt hại, giám định thiệt hại, cách thức giải
quyết bồi thường tại mục 2 chương XIV. Các quy định này định hướng rõ ràng
cho quá trình thực hiện bồi thường thiệt hại trên thực tế. Sự hoàn thiện từng bước
của các quy định pháp luật đã phần nào thích ứng được với thực tiễn bồi thường
thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
III - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường:
1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra là trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường là cơ sở để xác định trách nhiệm bồi
thường, người phải bồi thường, người được bồi thường và mức độ bồi thường.
Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi
trường bao gồm: có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp
luật, có lỗi của người gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và
hành vi trái pháp luật.

- Thiệt hại về kinh tế hay thiệt hại về các lợi ích thương mại như doanh
thu, lợi nhuận của doanh nghiệp sụt giảm khi nằm trong vùng ô nhiễm.
Thiệt hại xảy ra là điều kiện bắt buộc đầu tiên để xem xét việc có phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không. Điều này khác với việc xác


định trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hành chính có thể không căn cứ vào
thiệt hại xảy ra.
b. Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật được hiểu là các hành vi không tuân theo các quy
định của pháp luật bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, sự cố
môi trường, xâm phạm các quyền của công dân được pháp luật bảo vệ.
Những hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường rất đa dạng, phong
phú như sau:
- Những hành vi vi phạm điều cấm của Luật Bảo vệ môi trường 2005.
Điều 7 Luật bảo vệ môi trường 2005 có quy định 15 hành vi bị nghiêm cấm.
- Vi phạm các quy định về đánh giá tác động môi trường hoặc các yêu cầu
ghi tại phiếu thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.
- Vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ
nguồn đất, bảo vệ đất; vi phạm các quy định về đa dạng sinh học và bảo tồn thiên
nhiên.
- Vi phạm các quy định về vệ sinh công cộng như quy định về vận chuyển
và xử lý chất thải; quy định về tiếng ồn, độ rung…
- Vi phạm các quy định về bảo quản và sử dụng các chất dễ gây ô nhiễm;
vi phạm các quy định về phòng, chống sự cố môi trường trong tìm kiếm thăm dò,
khai thác vận chuyển.
Điều này cho thấy, không phải mọi hành vi gây thiệt hại cho môi trường
đều là hành vi vi phạm pháp luật môi trường. Không phải bất cứ hành vi vi phạm
pháp luật môi trường nào cũng phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Chỉ
khi hậu quả của hành vi xảy ra thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới phát



môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả
trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi”.
Thiệt hại do ô nhiễm môi trường chủ yếu liên quan tới tàu chở dầu, kho
chứa dầu… Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ cần xác định thiệt hại
xảy ra là hậu quả của vi phạm pháp luật mà không cần xét đến các yếu tố khác.
d. Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi thiệt hại xảy ra là kết
quả trực tiếp của hành vi trái pháp luật. Mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật
với hậu quả mà hành vi đó gây nên là điều không thể thiếu trong xác định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây nên. Việc xác định mối
quan hệ này thường rất khó vì nhiều yếu tố.
- Một thiệt hại xảy ra có thể do nhiều yếu tố.
- Hành vi gây thiệt hại đã xảy ra từ lâu, khó xác định nguyên nhân.
- Một hành vi gây nhiều thiệt hại khác nhau ở các mức độ khác nhau.
2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do môi trường gây ra:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường là một loại trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Thiệt hại này có thể do hành vi gây ô
nhiễm môi trường hoặc do sự cố môi trường. Thiệt hại do ô nhiễm môi trường
theo quy định của pháp luật Việt Nam chỉ được xem xét dưới góc độ thiệt hại về
vật chất. Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường cũng
chỉ là trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất. Theo điều 307 BLDS thì
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật
chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài
sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế
bị mất hoặc bị giảm sút”.


Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường được chia làm

phát sinh trách nhiệm pháp lý dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do ô nhiễm môi trường nói riêng.
- Đặc trưng của bồi thường thiệt hại do sự cố môi trường:
+ Cơ sở phát sinh: tai biến hoặc rủi ro xảy ra do hoạt động của con người.
+ Đại diện bên bị hại: Cơ quan quản lý môi trường ở địa phương, vừa là
đại diện cho Nhà nước vừa là đại diện cho người bị thiệt hại.
+ Đại diện bên gây hại: Nếu là thiệt hại do hành vi vi phạm thì đại diên là
các tổ chức, cá nhân đã gây ô nhiễm. Nếu là do sự cố môi trường thì do tổ chức
bảo hiểm.
+ Các khoản bồi thường thiệt hại: bồi thường về thiệt hại tới tính mạng,
sức khỏe; bồi thường về tài sản của nhà nước và nhân dân; chịu trách nhiệm chi
trả để tu bổ, khắc phục hậu quả do môi trường nguyên sinh bị hủy hoại…
IV – Thực trạng bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường:
1. Vụ việc công ty Vedan làm ô nhiễm nghiêm trọng sông Thị Vải:
Đây là vụ việc gây ô nhiễm môi trường nổi tiếng và mang tính thời sự hiện
nay.
Trong thời gian qua, dư luận cả nước xôn xao về vụ công ty Vedan Việt
Nam đã có những tác động mang tính tiêu cực xâm hại nghiêm trọng đến môi
sinh môi trường mà cụ thể đó là việc Công ty này đã cố ý xả nước thải sản xuất
công nghiệp chưa qua xử lý ra dòng sông Thị Vải, tỉnh Đồng Nai. Dưới góc độ
những người làm công tác trợ giúp pháp lý, thiết nghĩ cần có những chế tài hình
sự nghiêm khắc đủ sức răn đe những hành vi vi phạm pháp luật môi trường để từ
đó bảo đảm quyền, và lợi ích hợp pháp cho người dân.


Công ty Vedan được biết đến là một thương hiệu sản xuất bột ngọt của
Nhật Bản, được Việt Nam cấp giấy phép đầu tư và sản xuất kinh doanh từ năm
1997 với nhà máy sản xuất được xây dựng tại tỉnh Đồng Nai.
Thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, vừa qua, Cục Cảnh sát bảo vệ
Môi trường đã kiểm tra và phát hiện hành vi vi phạm các quy định tiêu chuẩn về

thống kê thiệt hại về kinh tế và môi trường tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã tính toán.
Trong những ngày tới, các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương sẽ phối
hợp hướng dẫn các hộ dân làm giấy ủy quyền cho luật sư thay họ khởi kiện.
Ngày 27/7luật sư sẽ chuyển toàn bộ hồ sơ sang Tòa án Nhân dân huyện Tân
Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, chính thức khởi kiện Vedan.Trước đó, Viện Tài
nguyên và Môi trường đã thẩm định, đánh giá mức thiệt hại của người dân huyện
Tân Thành do Vedan gây ra là gần 55 tỷ đồng. Ngày 9/4, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
đã có công văn yêu cầu Vedan bồi thường số tiền trên, nhưng sau đó, Vedan đã
đề nghị mức hỗ trợ cho nông dân huyện Tân Thành chỉ là 10 tỷ đồng.
Kết luận cuối cùng: Chiều ngày 9/8/2010, tại trụ sở UBND TP.HCM do
Bộ TN&MT chủ trì, Công ty Cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam (Vedan) đã chấp
nhận bồi thường 100% thiệt hại cho nông dân TP.HCM và tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu theo con số thống kê của Viện TN&MT thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM.
Cụ thể: bồi thường cho Bà Rịa – Vũng Tàu 53,619 tỷ đồng; TP.HCM là 45,74 tỷ
đồng. Riêng con số thiệt hại của tỉnh Đồng Nai mà Viện TN&MT xác định là
119,581 tỷ đồng, sẽ được các cơ quan chức năng tỉnh Đồng Nai và Vedan cùng
xem xét, tính toán lại.
Từ thực tế của những sự việc nêu trên, chúng ta có thể đánh giá Vedan là
một doanh nghiệp làm ăn thiếu nghiêm túc và không minh bạch, họ đã không chỉ
vi phạm đạo đức nghề nghiệp trong sản xuất kinh doanh, mà đáng nói là họ dã có
những hành vi vi phạm pháp luật, vì lợi nhuận có được, công ty này đã bất chấp


tất cả mọi thủ đoạn, kể cả việc vi phạm pháp luật, xâm phạm về tiêu chuẩn an
toàn môi trường, vi phạm đạo đức…đó là những việc làm không thể tha thứ
được. Do đó, việc công ty Vedan phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho
những người dân bị hại là hoàn toàn đúng.
2. Các vụ việc gây ô nhiễm môi trường khác:
Trong phạm vi cả nước, các hành vi vi phạm pháp luật làm ô nhiễm môi
trường đang ngày càng nhiều và gây thiệt hại mức độ ngày càng lớn.

lưu giữ tạm thời các chất thải nguy hại; không đóng gói, bảo quản chất thải nguy
hại theo từng chủng loại trong các bồn, thùng chứa, bao bì chuyên dụng đáp ứng
các yêu cầu về an toàn kỹ thuật, bảo đảm không rò rỉ, rơi vãi, phát tán ra môi
trường, không dán nhãn theo quy định; xả nước thải vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật về chất thải; thực hiện không đúng, không đầy đủ các nội dung trong
báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt và các yêu cầu trong quyết
định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường…
Lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường Công an thành phố
phối hợp với đoàn kiểm tra liên ngành phát hiện, điều tra, xác minh 363 vụ vi
phạm pháp luật về môi trường, hoàn thành xử lý 311 vụ; phạt vi phạm hành
chính hơn 855 triệu đồng. Trong đó, riêng lực lượng phòng, chống tội phạm môi
trường phát hiện 132 vụ, phạt vi phạm hành chính 759.650.000 đồng; phối hợp
với đoàn kiểm tra liên ngành xử lý 146 cơ sở vi phạm, phạt cảnh cáo 10 cơ sở,
phạt hành chính 113,4 triệu đồng.
Tại Phú Thọ: Vụ việc của công ty Miwon tháng 4 - 2008 cũng với hành vi
cố ý gây ô nhiễm nguồn nước nhưng mức độ được cho là không nghiêm trọng
như của Vedan, thế nhưng Miwon đã phải chấp nhận một hình thức xử lý rất
nghiêm khắc và đúng pháp luật của UBND tỉnh Phú Thọ lúc đó là đóng cửa vĩnh
viễn.


V – Bình luận những vướng mắc và giải pháp:
1- Về xác định thiệt hại:
a – Chưa xác định thiệt hại từng thành phần của môi trường:
Hiện nay, điều 131 Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định chi tiết về xác
định thiệt hại như sau:
- Có 3 mức độ thiệt hại: có suy giảm; suy giảm nghiêm trọng và suy giảm
đặc biệt nghiêm trọng.
- Xác định giới hạn, diện tích khu vực, vùng bị thiệt hại.
- Xác định thành phần môi trường bị suy giảm.

thức sở hữu nhà nước; Yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà
nước; Các trường hợp khác do pháp luật quy định”.
Điều 607 BLDS 2005 lại quy định: “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi
thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,
pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm”.
Điều 17 Hiến pháp 1992 quy định về chế độ sở hữu toàn dân đối với các
thành phần môi trường quan trọng: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài
nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng thềm lục địa, vùng trời…đều thuộc sở
hữu toàn dân”.
Theo các quy định trên thì thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu đòi bồi
thường thiệt hại do ô nhiềm môi trường:
- Không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu đòi bồi thường thiệt
hại với các thành phần môi trường, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe.
- Nếu yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về tài sản thì thời hiệu khởi kiện là2
năm kể từ khi quyền, lợi ích hợp pháp đối với tài sản bị xâm hại.
Từ đó có thể thấy:


Thứ nhất, các quy định trên không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với
thiệt hại về môi trường tính mạng có những ưu điểm và khuyết điểm. Một mặt,
quy định này rất có lợi cho người bị hại, có giá trị thực tiễn do hậu quả thiệt hại
về môi trường là tiềm ẩn và lâu dài. Mặt khác, quy định này cũng gây khó khăn
trong quá trình giải quyết tranh chấp vì các chất gây ô nhiễm biến đổi theo thời
gian, môi trường cũng thay đổi dẫn đến các số liệu, chứng cứ không khách quan
và chính xác.
Thứ hai, quy định về thời hiệu khởi kiện là 2 năm là quá ngắn. Trong khi
đó, việc chứng minh thiệt hại do ô nhiễm môi trường rất khó khăn và tốn nhiều
thời gian. Thực tế là người dân đến nộp đơn khởi kiện thì đã hết thời hiệu.
4- Về quyền khởi kiện đòi bồi thường:
Đối với bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường, pháp luật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status