MỞ ĐẦU
Nguồn của Luật quốc tế là những hình thức biểu hiện sự tồn tại của những quy
phạm luật quốc tế do các quốc gia thỏa thuận xây dựng lên. Có hai hình thức cơ
bản biểu hiện sự tồn tại của quy phạm luật quốc tế, đó là điều ước quốc tế và tập
quán quốc tế. Bên cạnh đó còn có các loại nguồn hỗ trợ như: nghị quyết của các tổ
chức quốc tế liên chính phủ, phán quyết của tòa án quốc tế… Khác với những
nguồn chủ yếu, nguồn bổ trợ của Luật quốc tế không phải là hình thức biểu hiện
trực tiếp sự thỏa thuận giữa các quốc gia về các quy phạm pháp lí quốc tế, nhưng
nó là nhân tố quan trọng trong quá trình hình thành hoặc xác định sự tồn tại và hiệu
lực hiện hành của một quy phạm pháp lí nào đó của luật quốc tế. Trong đó nghị
quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ đóng một vai trò rất quan trọng đúng
với nhận định “Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ có vai trò quan
trọng trong việc hình thành và viện dẫn quy phạm điều ước và quy phạm tập
quán”. Bài viết dưới đây xin được chứng minh nhận định trên.
NỘI DUNG
I. Lí luận chung.
1. Nguồn của luật quốc tế.
Theo giáo trình Luật quốc tế mới nhất của Trường đại học Quan hệ Quốc tế
Matxcơva, thuật ngữ “nguồn của luật quốc tế” được hiểu theo nghĩa vật chất và
nghĩa hình thức. Theo nghĩa vật chất, nguồn của luật quốc tế được hiểu là những
điều kiện cuộc sống của cộng đồng quốc tế, tức là các quan hệ quốc tế; theo nghĩa
hình thức, nguồn của luật quốc tế nghĩa là các hình thức biểu hiện, trong đó có các
quy phạm pháp lí.
Như vậy nguồn của luật quốc tế là hình thức biểu hiện của các quy phạm pháp lí
quốc tế, là kết quả của quá trình thỏa thuận ý chí các chủ thể luật quốc tế.
Cơ sở pháp lí về nguồn của luật quốc tế được quy định tại điều 38 Quy chế pháp
lí Tòa án quốc tế Liên Hợp Quốc. “Tòa án có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp
đưa ra trước tòa trên cơ sở Luật quốc tế áp dụng:
1.
Công ước quốc tế chung hoặc riêng, trong đó có các quy tắc được quốc gia
thể hiện dưới hình thức văn bản pháp lý nhằm xác lập, thay đổi ho ặc chấm d ứt
quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể đó với nhau.
Quy phạm điều ước được ghi nhận trong các văn bản điều ước quốc tế như
Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao và năm 1963 v ề quan h ệ lãnh s ự,
Hiệp định thương mại Việt Nam–Hoa Kỳ ký ngày 13/7/2000…Ví dụ như quy định
tại điều 4, hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ Vi ệt Nam và
Chính phủ Trung Quốc: “Hai bên ký kết tiến hành hợp tác nghề cá lâu dài trong
vùng đánh cá chung trên tinh thần cùng có lợi”
2
b. Quy ph ạm t ập quán qu ốc t ế (quy ph ạm b ất thành v ăn): Quy ph ạm t ập quán là
nh ững quy t ắc x ử s ự chung, hình thành trong th ực ti ễn quan h ệ qu ốc t ế và đượ c các
ch ủ th ể qu ốc t ế th ừa nh ận. Các quy ph ạm t ập quán có th ể đượ c hình thành t ừ th ực
ti ễn quan h ệ qu ốc t ế, t ừ th ực ti ễn th ực hi ện các ngh ị quy ết khuy ến ngh ị c ủa t ổ ch ức
qu ốc t ế hay t ừ vi ệc th ực hi ện các phán quy ết c ủa c ơ quan tài phán qu ốc t ế. Ví d ụ:
Đại s ứ đặc m ệnh toàn quy ền l ần hai tr ở l ại th ực hi ện ch ức n ăng s ẽ được B ộ tr ưởng
ho ặc Th ứ tr ưởng B ộ Ngo ại giao n ước nh ận đạ i di ện đón ti ếp. Trong th ực ti ễn quan
h ệ qu ốc t ế, đây ch ỉ là quy t ắc x ử s ự mà ch ưa ph ải là quy ph ạm pháp lý, nh ưng l ại
được các qu ốc gia tuân th ủ và áp d ụng m ột cách t ự nguy ện.
3. Tổ chức quốc tế liên chính phủ và nghị quyết của chúng.
Tổ chức quốc tế liên chính phủ là liên minh của các quốc gia trên cơ sở điều ước
quốc tế, có quyền năng chủ thể luật quốc tế, có hệ thống các cơ quan để duy trì các
hoạt động hợp tác phù hợp với mục tiêu của tổ chức.
Tổ chức liên chính phủ của một tổ chức quốc tế được xác định căn cứ vào những
đặc điểm như: được thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế, thành viên là các quốc
gia độc lập, có chủ quyền, có quyền năng chủ thể của luật quốc tế…Dựa vào các
tiêu chí như thành viên, mục đích hoạt động…tổ chức quốc tế liên chính phủ có thể
phân chia thành các loại: tổ chức quốc tế toàn cầu (Liên Hợp Quốc, Tổ chức
thương mại thế giới WTO…), và tổ chức quốc tế khu vực (ASEAN, Tổ chức thống
quan hệ pháp luật quốc tế cũng như quá trình thực thi pháp luật quốc tế. Nguồn của
luật quốc tế được hiểu là hình thức chứa đựng các quy phạm của luật quốc tế. Một
trong những phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc hình thành cũng như viện dẫn áp dụng các quy phạm điều ước và quy
phạm tập quán đó là nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ.
1.
Với việc hình thành và viện dẫn quy phạm điều ước.
Các văn kiện của các tổ chức quốc tế liên chính phủ có giá trị hiệu lực không
đồng nhất, bao gồm các nghị quyết có hiệu lực và các nghị quyết không có hiệu lực
bắt buộc đối với thành viên. Như đã phân tích ở trên, nghị quyết của các tổ chức
quốc tế liên chính phủ bao gồm nghị quyết có tính quy phạm bắt buộc và nghị
quyết có tính khuyến nghị không có hiệu lực pháp lí bắt buộc. Các nghị quyết này
đều là kết quả của sự thỏa thuận giữa các thành viên. Qúa trình thỏa thuận này diễn
ra trên cơ sở quy chế tương ứng của tổ chức và đưa đến kết quả là hình thành các
nghị quyết có tính chất khuyến nghị (loại trừ những nghị quyết có bắt buộc của tổ
chức đó). Các nghị quyết trên đóng một vai trò quan trọng trong việc kí kết và thực
hiện điều ước quốc tế.
Trong quá trình hình thành Luật nhân đạo quốc tế Liên Hợp Quốc đã chấp nhận
một số nghị quyết có liên quan đến luật nhân đạo quốc tế. Nghị quyết số 43/131 do
Đại Hội Đồng thông qua năm 1988 thừa nhận “quyền của công dân đối với sự
giúp đỡ quốc tế về vai trò của các tổ chức quốc tế phi chính phủ trong các tình
4
trạng nhân đạo khẩn cấp”. Nghị quyết số 45/100 được thông qua năm 1990 ủng
hộ việc giúp đỡ nhân đạo.
Trong thực tiễn quốc tế, khi xác định hoặc giải thích quy phạm luật quốc tế, các
quốc gia thường viện dẫn đến Nghị quyết của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc. Các
được hình thành trong lĩnh vực duy trì hòa bình và an ninh quốc tế cũng như trong
việc bảo vệ chủ quyền quốc gia.
5
Trong thực tiễn có rất nhiều quy phạm tập quán được hình thành từ con đường
nghị quyết của Liên Hợp Quốc.
Ví dụ sau đây là môt minh chứng.
Câu hỏi đặt ra là những hành vi nào của một quốc gia được coi là tấn công vũ
trang kể từ đó quốc gia khác thực hiện quyền tự vệ chính đáng đã được làm sáng tỏ
trong nghị quyết của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc số 3314 (XXIX) ngày
14/12/1974. Nghị quyết đã chỉ rõ hành vi xâm lược là các hành vi của quốc gia này
sử dụng bất hợp pháp lực lưỡng vũ trang tấn công vào lãnh thổ của các quốc gia
khác cũng như bất kì sự bao vây, phong tỏa nào bằng lực lượng vũ trang chống lại
quốc gia ấy.
Như vậy việc các quốc gia đồng tình với Nghị quyết trên đây của Đại Hội Đồng
Liên Hợp Quốc về định nghĩa xâm lược đã thể hiện sự thừa nhận hiệu lực thực tế
của Nghị quyết để từ đó các quốc gia hoạt động theo những chuẩn mực đã được
quy định trong nghị quyết. Chừng nào nghị quyết này chưa phải là điều ước quốc
tế thì việc các quốc gia hoạt động theo những chuẩn mực của nó chính là việc thừa
nhận quy phạm tập quán quốc tế mới hình thành.
Ngoài ra từ thực tiễn xét xử của Tòa án quốc tế Liên Hợp Quốc đôi khi Nghị
quyết của Tòa án cũng được coi là bằng chứng của luật tập quán. Vụ án Nicaragoa
kiện Mĩ là một ví dụ quan trọng. Năm 1984 Mỹ tiến hành hoạt động quân sự chống
lại Nicaragoa, Nicaragoa cho rằng hành vi của Mĩ đã vi phạm điều 2 của Hiến
chương Liên Hợp Quốc nên Nicaragoa đã kiện Mĩ nên ICJ. Trong trường hợp này,
nếu Nicaragoa đơn phương kiện Mỹ thì ICJ sẽ không xử lí nhưng ở đây Nicaragoa
và cả Mỹ đã đưa ra những tuyên bố đơn phương của mình chấp nhận nội dung
thẩm quyền của ICJ. Đây là hai tuyên bố đơn phương. Bản thân Mĩ không muốn
trong sinh hoạt nội bộ của mình.
Ngày nay, nhiều tổ chức quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc hình
thành và viện dẫn các quy phạm điều ước và các quy phạm tập quán. Thực
tế, rất nhiều quy phạm pháp luật quốc tế được hình thành từ Nghị quyết của
các tổ chức quốc tế liên chính phủ
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh quốc tế ngày nay số lượng các quy phạm điều ước và quy phạm
tập quán được ra đời từ Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ ngày
càng chiếm tỉ lệ lớn. Điều này đã chứng minh được vai trò quan trọng của các Nghị
quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ. Qua quá trình tìm hiểu nguồn của
luật quốc tế, những bài viết và những ví dụ thực tiễn, bài viết đã cố gắng đi sâu tìm
hiểu những Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ được cho là nguồn
của quy phạm điều ước và quy phạm tập quán. Tuy nhiên, không thể hiểu một cách
chính xác tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của loại nguồn này nếu không quan sát
trong một thời gian dài cách thức áp dụng nó trên thực tế. Hơn nữa, Luật quốc tế là
một nội dung rất khó tiếp cận cũng như để hiểu rõ về nó cần một trình độ hiểu biết
và khả năng học hỏi rất cao bởi vậy những nội dung mà bài viết đề cập đến chỉ là
những vấn đề rất nhỏ, đặc biệt là phần viện dẫn các Nghị quyết của các tổ chức
7
quốc tế liên chính phủ. Chính vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của quý thầy cô để nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân.
8