Những nội dung cơ bản về quy định hoãn thi hành án dân sự theo Luật thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi bổ sung 2014) Thực tiễn, bất cập và giải pháp. - Pdf 53

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU....................................................................................................2
PHẦN NỘI DUNG................................................................................................2
I.

Khái quát về hoãn thi hành án dân sự:.......................................................2
1. Khái niệm................................................................................................2
2. Ý nghĩa:...................................................................................................4

II.

Nội dung quy định hoãn thi hành án dân sự...............................................4
1. Căn cứ hoãn thi hành án dân sự..............................................................4
2. Thời hạn hoãn thi hành án dân sự...........................................................6
3. Thẩm quyền và thủ tục hoãn thi hành án dân sự.....................................6
4. Hậu quả pháp lí của hoãn thi hành án dân sự:.........................................7

III.

Liên hệ thực tiễn......................................................................................8

1. Tình huống xây dựng..............................................................................8
2. Bất cập tồn tại........................................................................................11
3. Phương hướng khắc phục......................................................................13
PHẦN KẾT THÚC..............................................................................................15
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................16

1


PHẦN MỞ ĐẦU

khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý
do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án
hoặc bản án được niêm yết. Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp
sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia
phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được
bản án.
Do đó, Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày kể từ ngày tuyên án
trong trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị đồng thời không có người
vắng mặt. Trường hợp có người vắng mặt hoặc Kiểm sát viên không tham gia
phiên tòa thì thời gian có hiệu lực nhiều hơn 30 ngày, phụ thuộc vào ngày người
có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án hoặc bản án được
niêm yết.
b) Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;
c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án;
d) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng
tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam;
đ) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh
tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự
nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án;
e) Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;
g) Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
Ngoài ra còn có những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm
được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:
a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp
thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt
3



4


b) Chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do
chính đáng khác mà người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện được
nghĩa vụ theo bản án, quyết định;
c) Đương sự đồng ý hoãn thi hành án; việc đồng ý hoãn phải lập thành văn
bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của đương sự; trong thời gian hoãn thi hành
án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án, trừ
trường hợp đương sự có thỏa thuận khác;
Ở 2 trong 3 trường hợp trên, cơ sở hoãn thi hành án xuất phát từ những
nguyên nhân khách quan khiến cho người phải thi hành án không thể thực hiện
được việc thi hành án một cách bình thường, khiến cho quyền của bên được thi
hành án bị ảnh hưởng. Trong trường hợp còn lại, pháp luật đã thể hiện sự tôn
trọng thỏa thuận của các bên, tôn trọng quyền tự định đoạt của các cá nhân.
d) Tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định
tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này; tài sản được kê biên theo Điều 90 của Luật
này nhưng sau khi giảm giá theo quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí
và nghĩa vụ được bảo đảm;
Điều 74, 75 Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi, bổ sung 2014 quy định
về những trường hợp thi hành án đối với tài sản là tài sản chung và tài sang tranh
chấp. Việc giải quyết loại tài sẩn này khá phức tạp bởi nó có liên quan đến quyền
lợi của người thứ ba trong quan hệ thi hành án. Còn đối với tài sản được kê biên
theo Điều 90, khi được kê biên, những tài sản này đã đủ để đảm bảo cho người
phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của mình, tuy nhiên, do nguyên nhân khách
quan mà những tài sản này mất/ giảm giá trị khiến cho việc thi hành án không
được đảm bảo. Cho nên, hoãn thi hành án trong trường hợp này là điều cần thiết
nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên.

5


Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án có thẩm
quyền ra quyết định hoãn thi hành án.
Khi có căn cứ hoãn thi hành án, chấp hành viên chịu trách nhiệm thi hành án
đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án.
Thời hạn ra quyết định hoãn thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có
căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 48.
Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
đối với bản án, quyết định của Tòa án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần
để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc phục được. Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được
yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít nhất 24 giờ
trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng
chế. Trường hợp cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của
người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã
được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết.
Trường hợp vụ việc đã được thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong
thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo ngay cho người yêu
cầu hoãn thi hành án.
4. Hậu quả pháp lí của hoãn thi hành án dân sự:
Thứ nhất, sau khi có quyết định hoãn thi hành án, các hoạt động thi hành án
dân sự được tạm ngừng lại.
Thứ hai, trường hợp vụ việc đã được thi hành một phần hoặc đã được thi
hành xong thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo ngay cho
người yêu cầu hoãn thi hành án.
Thứ ba, trong thời gian hoãn thi hành án, người phải thi hàn án không phải
chịu lãi suất chậm thi hành án.
7


phía công ty Toàn Thế Giới về việc trả lại số tiền cho mình và không có quyết
8


định tiếp tục thi hành án từ phía cơ quan thi hành án. Do vậy, ông T lại phải gửi
đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan có thẩm quyền.
Đến ngày 4-7-2017, ông T nhận được Công văn số 13/VKSTC-V5 của Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao với nội dung: hoãn thi hành án tiếp 03 tháng nữa để có
thời gian xem xét đơn của Toàn Thế Giới. Việc hoãn thi hành án này khiến cho
ông T vô cùng mệt mỏi vì phải chờ đợi xử lý thi hành án trong một thời gian dài
mà không có kết quả.
Giải quyết tình huống:
Trong tình huống nêu trên, có hai lần Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra công
văn với nội dung hoãn thi hành án để có thời gian xem xét đơn đề nghị từ phía bị
đơn. Do vậy, ta sẽ xét lần lượt từng lần hoãn thi hành án dân sự.
 Lần thứ nhất
Công văn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào ngày 23-11-2016 yêu cầu
Cục trưởng cục thi hành án dân sự tỉnh X ra quyết định hoãn thi hành bản án dân
sự phúc thẩm nêu trên trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được công văn với
lý do: bà Ng. (một cổ đông trong công ty Toàn Thế Giới) đã có đơn khiếu nại
Bản án dân sự phúc thẩm số 50/2016/DS-PT.
Căn cứ theo Khoản 2, Điều 48, Luật thi hành án 2008, sửa đổi, bổ sung 2014:
“Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án khi
nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít
nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết
định cưỡng chế...” thì việc hoãn thi hành án lần thứ nhất là đúng theo quy định
của pháp luật bởi:
Thứ nhất, người có thẩm quyền kháng nghị trong trường hợp này là Viện
kiểm sát nhân dân tối cao. Cụ thể, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã gửi công
văn đến để yêu cầu Cục trưởng cục thi hành án dân sự tỉnh X ra quyết định hoãn

chức, cá nhân có liên quan để tiếp tục thực hiện bản án. Trong tình huống, không
10


có một quyết định nào cho đến khi ông T có đơn yêu cầu đến cơ quan thi hành
án.
 Lần thứ hai:
Công văn số 13/VKSTC-V5 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao với nội
dung: hoãn thi hành án tiếp 03 tháng nữa để có thời gian xem xét đơn của Toàn
Thế Giới được ra vào ngày 4-7-2017. Yêu cầu này của Viện kiểm sát nhân dân
tối cao là không đúng theo quy định của pháp luật.
Bởi lẽ, căn cứ theo quy định tại đoạn 3, khoản 2, Điều 48, Luật thi hành án
2008, sửa đổi, bổ sung 2014: “Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án chỉ được yêu
cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không
thể khắc phục được.” thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ có quyền yêu cầu
hoãn thi hành án duy nhất một lần để tránh hậu quả không thể khắc phục được.
Có thể thấy rằng, việc ra yêu cầu hoãn thi hành án không có căn cứ này
khiến cho người được thi hành án (ông T) gặp nhiều khó khăn trong việc hưởng
lợi ích khi bản án được thi hành. Việc kéo dài thời gian chỉ có lợi cho công ty
Toàn Thế Giới khi cứ lần lữa trốn tránh nghĩa vụ trả tiền của mình. Thêm vào đó,
theo quy định của luật thi hành án hiện hành, khi hoãn thi hành án, người phải thi
hành án - phía phía công ty Toàn Thế Giới không phải chịu lãi suất chậm thi
hành án1. Như vậy, nếu chỉ tính với mức lãi suất rất thấp là 1%/tháng/3 tỷ đồng.
Thì mỗi đợt tạm hoãn như vậy ông T bị “mất” ít nhất 90 triệu đồng, tổng cộng
06 tháng là khoảng 200 triệu đồng. Và ngược lại, Toàn Thế Giới được lợi về số
tiền này.
2. Bất cập tồn tại
Điều 48 Luật Thi hành án dân sự có quy định: “Người có thẩm quyền kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của

hợp này, tức là giá trị của tài sản kê biên đủ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
Điểm chưa hợp lý ở đây là, sẽ xảy trường hợp tài sản kê biên đủ giá trị thực hiện
12


thi hành án song vẫn thấp hơn giá trị tài sản ban đầu. Lúc này, nếu chấm dứt việc
hoãn thi hành án, việc thi hành án được tiến hành, bên chịu thiệt hại sẽ là bên
phải thi hành án, vì họ đã mất đi một khoản chênh lệch tài sản.
3. Phương hướng khắc phục
Để việc hoãn thi hành bản án dân sự phát huy đúng bản chất của quy định
này là nhằm đảm bảo vụ việc được xem xét thận trọng, đảm bảo quyền và lợi ích
của nhà nước, của công dân và nhằm hạn chế hậu quả không thể khắc phục
được khi vụ án đã được thi hành án, do vậy, nhóm có những kiến nghị sau:
Thứ nhất, nên sửa đổi, bổ sung Điều 2 của Luật THADS theo hướng:
“Những bản án, quyết định được thi hành là những Bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật;trường hợp có đơn khiêu nại giám đốc thẩm thì phải có văn
bản thông báo của người có thẩm quyền kháng nghị xác định vụ việc không có
căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm” (văn bản này đồng thời là công văn trả lời
đối với đơn khiếu nại Giám đốc thẩm của đương sự).
Thứ hai, cần có quy định giới hạn về mặt thời gian cụ thể đối với việc nộp
đơn khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm của đương sự. Mặc dù giám đốc thẩm
không phải là một cấp xét xử, tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là hiện nay BLTTDS
đang để ngỏ khoảng thời gian này, vì vậy có thể hiểu là đương sự có thể được
nộp bất cứ thời điểm nào trong vòng 03 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp
luật. Điều này dẫn đến mâu thuẫn với các quy định về hoãn thi hành án tại Điều
48 Luật THADS, trong khi điều kiện, thủ tục về hoãn là tương đối khắt khe, chỉ
hoãn trong thời hạn 3 tháng và được quy định trong Luật THADS. Như vậy, nên
giữ lại thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 327 BLTTDS năm 2015 như sau:
"Trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status