NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN - Pdf 64

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN
1.TÍN DỤNG NGÂN HÀNG - NGHIỆP VỤ CHỦ YẾU CỦA NHTM
1.1.Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại:
NHTM là ngân hàng thực hiện nhiều loại nghiệp vụ ngân hàng hơn hết
trong số các ngân hàng trung gian và chiếm vị trí quan trọng nhất cả về quy
mô tài sản và về thành phần nghiệp vụ. NHTM làm chức năng như chiếc cầu
nối giữa người có vốn và người cần vốn. Công nghệ tài chính đã được sử dụng
triệt để nhằm thu hút các nguồn vốn dự trữ với thời hạn và quy mô rất khác
nhau phục vụ cho sản xuất và đời sống.
Ở Việt Nam, NHTM được hiểu như là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng
các dịch vụ thanh toán. Khái niệm này đã chỉ ra những hoạt động cơ bản nhất
của các NHTM Việt Nam nói riêng và nền kinh tế các nước nói chung.Những
hoạt động đó là:
1.1.1. Huy động vốn:
Vốn được coi là yếu tố hàng đầu cho hoạt động kinh doanh của các
NHTM Để tạo nguồn vốn, ngân hàng phải huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong
xã hội bằng cách cung ứng những điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền của
khách hàng và đưa ra những phương thức dễ dàng để thực hiện các mục đích
có tính chất xã hội. Người gửi tiền sẽ nhận được một khoản tiền thưởng dưới
danh nghĩa lãi suất trên tổng số tiền gửi ở các ngân hàng, với mức độ an toàn
và hình thức thanh khoản cao, hoặc có thể chỉ một trong số các yếu tố lợi ích
và tiện ích mà các ngân hàng cung cấp.
Ngoài nguồn tiền gửi của khách hàng, NHTM còn thu hút vốn qua việc
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu. Đó là giấy nợ mà người mua nó sẽ được hưởng
một số tiền lãi nhất định trong một thời gian nhất định theo mức lãi suất và
thời hạn ghi trên những giấy nợ đó, kỳ hạn của kỳ phiếu có thể là 3 tháng; 6
tháng hoặc cũng có thể là 1 hoặc 2 năm.
Ngoài ra ngân hàng còn có thể nhận vốn điều hoà từ cấp trên, hoặc vay
các NHTM và các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng, vay
nước ngoài và các tổ chức tín dụng quốc tế.

+ Dịch vụ môi giới và uỷ thác: việc mua bán hộ chứng khoán cho khách
hàng và làm đại lý phát hành hộ chứng khoán cho các công ty.
+ Thực hiện việc chuyển tiền tạo điều kiện để tài trợ cho các hoạt động
ngoại thương và du lịch, góp phần vào quá trình tự do ngoại thương giữa các
nước với nhau. Hoạt động này thực hiện nhờ các chứng từ như séc, phiếu
chuyển tiền..phát hành thư tín dụng cũng thuộc loại này.Hiện nay, hoạt động
này đang ngày càng được sử dụng rộng rãi.
+ Bảo quản an toàn tài sản, chứng từ có giá cho khách hàng với hệ
thống hầm kho kiên cố, sử dụng két sắt an toàn và đảm bảo bí mật cho khách
hàng.
Ngoài ra Ngân hàng thương mại còn tham gia tư vấn cho các khách
hàng trong các hoạt động kinh doanh.
+ Mua bán kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quí, tạo nguồn ngoại tệ cho
thanh toán quốc tế.
***
Trên đây là các hoạt động cơ bản của NHTM. Các hoạt động này có quan
hệ bổ sung lẫn nhau trong đó nghiệp vụ huy động vốn là cơ sở để thực hiện
nghiệp vụ cho vay và đầu tư, ngược lại nghiệp vụ vay và đầu tư làm tăng khả
năng sinh lời của NHTM. Trên cơ sở nghiệp vụ cho NHTM có thể thực hiện
được các nghiệp vụ trung gian, nghiệp vụ cho vay và đầu tư thực hiện tốt các
nghiệp vụ này sẽ tạo điều kiện tăng nguồn vốn cũng như mở rộng việc sử
dụng vốn.
1.2. Tín dụng ngân hàng - Mục đích kinh doanh chính của Ngân hàng
thương mại :
Tín dụng được hiểu một cách đơn giản nhất là quan hệ vay mượn dựa
trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi giữa người cho vay và người đi vay.Cơ
sở để thiết lập nên quan hệ tín dụng là sự tin tưởng của người vay vào người
đi vay sẽ sử dụng vốn vay có hiệu quả và hoàn trả đúng thời hạn cả vốn lẫn lãi,
thêm vào đó là tâm lý sẵn sàng thanh toán khoản nợ đó của người vay khi đến
hạn. Nếu không có cơ sở lòng tin thì không thể xây dựng quan hệ tín dụng.

tín dụng dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Bên cạnh đó khi căn
cứ vào thời hạn tín dụng để phân loại tín dụng ngân hàng, vì mục đích vay vốn
tín dụng trung dài hạn là gần như nhau nên có thể ghép vào làm một loại.
2.2. Vai trò tín dụng trung dài hạn:
2.2.1. Đối với doanh nghiệp :
Cung cấp cho các doanh nghiệp để đáp ứng các nhu cầu về sửa chữa
thay thế khôi phục tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật công nghệ, xây dựng mới
các công trình với quy mô khác nhau. Việc tăng cường cơ sở vật chất cả về số
lượng và chất lượng sẽ tác động làm mở rộng xản xuất, năng lực sản xuất
kinh doanh tăng lên, sản phẩm hàng hoá không những tăng về số lượng và
còn được nâng cao về chất lượng, đa dạng về chủng loại, mẫu mã, kích thích
nhu cầu tiêu dùng xã hội và xa hơn có thể xuất khẩu ra nước ngoài.Điều này có
nghĩa là tín dụng trung dài hạn phải thực sự xuất phát từ lợi ích đem lại cho
doanh nghiệp từ hoạt động kinh doanh.
- Với việc vay vốn ngân hàng, các doanh nghiệp có thể chủ động trong
việc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, và được trả nợ trước kỳ hạn khi thấy có điều
kiện.
- Với việc vay vốn trung dài hạn doanh nghiệp không phải lo đối phó với
những vấn đề kiểm soát của cổ đông, trả lãi trái phiếu khi phát hành trái
phiếu dài hạn.
- Cung cấp vốn cho doanh nghiệp khi mà họ đang có tiềm năng sản xuất
nhưng lại thiếu vốn.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động đầu tư trung dài hạn là
rất cần thiết đối với các doanh nghiệp, bởi lẽ đa số các doanh nghiệp Việt Nam
có quy mô vừa và nhỏ, cơ sở vật chất kỹ thuật đã cũ kỹ, lạc hậu. Do dó nhu cầu
cải tiến, đổi mới công nghệ là rất lớn để có thể theo kịp với tiến trình CNH,
HĐH ở Việt Nam trong thời gian tới.
2.2.2.Đối với nền kinh tế:
- Góp phần phát triển kinh tế đa thành phần:
Là cơ sở để các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp

và nâng cấp cơ sở vật chất cho nền kinh tế mà với tác dụng kích thích xuất
khẩu hàng hoá có chất lượng cao ra thị trường quấc tế tín dụng trung dài hạn
còn góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên thương trường. Điều này sẽ
tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam hoà nhập với khu vực kinh tế phát triển
đồng thời thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
2.2.3.Đối với ngân hàng
Tín dụng trung dài hạn thường đem lại lợi nhuận cao hơn nhiều so với
các khoản tín dụng ngắn hạn vì nó có thời hạn dài ổn định và lãi suất cao.
Ngoài lãi thu từ vốn cho vay trung dài hạn, ngân hàng còn có thể tăng thu
nhập từ các khoản phí như phí bảo lãnh nhập thiết bị trả chậm, phí bảo lãnh
dự thầu, các khoản phí khác.
- Tín dụng trung dài hạn thường đi liền với các dự án có quy mô lớn của
các doanh nghiệp lớn và có uy tín trên thị trường, do đó khả năng thu hồi vốn
cao và ngân hàng không phải tốn nhiều thời gian để tìm kiếm thị trường về
doanh nghiệp.
-Tín dụng trung dài hạn tạo ra thị trường sử dụng vốn ngắn, do đó cũng
là cơ sở để mở rộng tín dụng ngân hàng.
Như vậy, tín dụng trung dài hạn không chỉ đem lại lợi ích cho ngân
hàng mà còn có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng nền kinh tế nói
chung và sự lớn mạnh của các tổ chức kinh tế trong nước nói riêng, góp phần
nhanh chóng chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, nâng cao uy tín quốc gia trên thương trường quốc tế.
2.3. Phân loại tín dụng trung dài hạn của NHTM
- Cho vay thông thường: cho khách hàng vay vốn có thời hạn 1 năm trở
lên. Khách hàng có thể hoàn trả một lần, hoàn trả theo niên kim, hoặc có thể
lựa chọn các phương thức hoàn trả khác mà ngân hàng cung cấp
- Bảo lãnh: Thực chất bảo lãnh không phải là loại hình tín dụng, đây là
hình thức mà ngân hàng cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường
hợp khách hàng không có khả năng trả nợ. Bảo lãnh chỉ trở thành khoản tín
dụng khi mà ngân hàng đã trả thay cho khách hàng. Bảo lãnh thông thường

NHNN VN quy định.( Trên 20%)
- Vốn vay trung dài hạn của các thể chế tài chính trong và ngoài nước,
vốn nhận uỷ thác, tài trợ.
Để nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn, vấn đề trước tiên là
phải phát triển được nguồn vốn huy động dồi dào và ổn định trong đó đặc biệt
là nguồn vốn trung dài hạn.
2.5. Điều kiện cho vay trung dài hạn của NHTM ở Việt Nam
- Phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hàng vi dân sự và chịu
trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
- Có khả năng tài chính, đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
+ Đối với các dự án cải tiến kỹ thuật, mở rộng hợp lý hoá sản xuất:
khách hàng phải có vốn tự có hoặc vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng 10% tổng
mức vốn đầu tư sau khi loại trừ phần vốn lưu động dự kiến ban đầu cho sản
xuất của dự án.
+ Đối với các dự án đầu tư xây dựng mới: khách hàng phải có vốn tự
có hoặc vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng 30% tổng mức vốn đầu tư sau khi loại
trừ phần vốn lưu động dự kiến ban đầu cho sản xuất của dự án.
+ Đối với dự án phục vụ đời sống: khách hàng phải có vốn tự có hoặc
vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án tối thiểu bằng 30% tổng mức vốn đầu tư
sau khi loại trừ phần vốn lưu động dự kiến ban đầu cho sản xuất của dự án.
- Sản xuất kinh doanh có lãi hoặc không bị lỗ.Nếu bị lỗ thì phải có
phương án khả thi khắc phục, hoặc được cơ quan thẩm quyền xác nhận bù lỗ.
- Có tình hình tài chính lành mạnh, không có nợ khó đòi tại các TCTD,
đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status