Bài tập lớn học kỳ
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................................................2
NỘI DUNG..........................................................................................................................................3
I. Khái quát chung về NKT, pháp luật NKT..................................................................................3
1. Định nghĩa người khuyết tật.....................................................................................................3
2. Đặc điểm người khuyết tật.......................................................................................................3
3. Khái quát chung về pháp luật người khuyết tật........................................................................4
II. Quy định của pháp luật về việc làm đối với NKT.......................................................................5
1. Khái niệm, nguyên tắc và ý nghĩa của việc làm đối với NKT.................................................5
2. Chế độ làm việc của NKT........................................................................................................7
III. Thực tiễn giải quyết việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay...........................................10
1. Kết quả đạt được....................................................................................................................10
2, Một số hạn chế.......................................................................................................................12
IV. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm đối với NKT............15
KẾT LUẬN........................................................................................................................................17
1
Bài tập lớn học kỳ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Người khuyết tật ( NKT) là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, chính
vì thế, việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và tạo việc làm cho người khuyết tật, giúp họ
vượt qua những khó khăn, hòa nhập vào đời sống cộng đồng, xã hội là những hoạt
động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc. Trong thông điệp nhân
Ngày Quốc tế người khuyết tật 3-12, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc (LHQ) Ban Ki
Mun (Ban Ki-moon) khẳng định người khuyết tật cần được tiếp cận bình đẳng các
dịch vụ và cơ hội trên toàn thế giới, đồng thời kêu gọi quốc tế nỗ lực hơn nữa nhằm
Một là, đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội:
Từ góc độ kinh tế, khuyết tật là nguyên nhân làm giảm cơ hội việc làm, phát
triển kinh tế; khả năng sống độc lập khó hơn đối tượng khác (phụ thuộc vào gia đình,
người thân,..), không chỉ bản thân người khuyết tật gặp khóc khăn về kinh tế mà còn
gặp khó khăn cho gia đình, cộng đồng.
Từ góc độ xã hội, người khuyết tật gặp khó khăn trong sinh hoạt, học tập, gặp
rào cản trong hòa nhập (gia đình, cộng đồng, học tập,…), có xu hướng thu hẹp, tách
biệt cộng đồng. Những khó khăn càng trở lên trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của
cộng đồng đối với người khuyết tật.
Hai là, đặc điểm người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức khuyết tật:
Các dạng tật và mức độ khuyết tật cũng như việc xác định mức độ khuyết tật
được quy định chi tiết trong Luật người khuyết tật Việt Nam và Nghị định
28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 04 năm 2012 của Chính phủ về việc quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật năm 2010.. Các dạng
khuyết tật bao gồm: khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói, khuyết tật nhìn; khuyết
tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác. Mỗi dạng lại có những đặc
điểm riêng, chung về tâm, sinh lý, về khả năng qua đó tác động đến nhu cầu của bản
thân và ảnh hưởng đáng kể đến quá trình hội nhập cộng đồng.
3. Khái quát chung về pháp luật người khuyết tật.
Khái niệm Luật người khuyết tật
Một trong những công cụ quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người khuyết
tật là pháp luật người khuyết tật. Người khuyết tật mặc dù chỉ là nhóm thiểu số trong
xã hội nhưng họ là bộ phận dân cư cấu thành nên cộng đồng xã hội và họ cần sự quan
tâm đặc biệt trên phương diện pháp luật. Về cơ bản có thể hiểu, pháp luật người
khuyết tật là tổng thể các quy phạm do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều
1 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr 21
3
2 Điều 13, Bộ Luật Lao động năm 1994 ( Sửa đổi năm 2007).
3 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr 204
4
Bài tập lớn học kỳ
nghiệp và cả điều kiện sử dụng lao động cũng như đảm bảo việc làm. Như vậy, theo
quy định pháp luật thì NKT được tạo cơ hội việc làm bình đẳng như những người lao
động khác.
Nguyên tắc cơ bản của việc làm đối với NKT.
● Nguyên tắc không phân biệt đối xử đối với NKT trong lĩnh vực việc làm:
Nguyên tắc này xuất phát từ vấn đề quyền con người. NKT bị khiếm khuyết một hay
nhiều bộ phận nên có được việc làm đối với họ rất khó khăn. Thực tế hiện nay những
người sử dụng lao động không muốn nhận những NKT mặc dù trong luật có quy định
bởi vì năng suất lao động của NKT thấp hơn so với người không khuyết tật, hơn nữa
trong một số trường hợp sử dụng lao động khuyết tật thì người sử dụng lao động còn
phải đầu tư cơ sở vật chất để tạo môi trường làm việc thuận lợi cho NKT. Chính điều
này tạo nên sự phân biệt đối xử việc làm giữa NKT và người không khuyết tật. Phân
biệt đối xử bao gồm phân biệt đối xử trực tiếp và phân biệt đối xử gián tiếp.
Nguyên tắc này được hiểu là việc NKT và người không khuyết tật được đối xử
bình đẳng như nhau về việc làm, cơ hội tìm việc làm cũng như quá trình sử dụng lao
động và bảo đảm việc làm.
● Nguyên tắc hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý đối với NKT trong lĩnh vực việc làm.
NKT là một trong những đối tượng lao động đặc thù. Do những đặc điểm về thể
chất nên họ gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm cũng như duy trì việc làm,
hơn thế họ cần được làm việc trong một môi trường đặc thù, riêng biệt phù hợp với
sức khỏe. Để NKT bình đẳng như người khác về cơ hội việc làm cũng như duy trì nó
thì cần phải có sự hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý cho NKT để họ có thể tìm kiếm được việc
làm và có được việc làm bền vững, được thực hiện quyền việc làm của mình. Để việc
người, được đóng góp sức của mình, cảm thấy mình có ích. Bên cạnh đó thì việc làm
cũng xây dựng lòng tin và tạo ra các kênh tương tác xã hội, từ đó mang lại lòng tự
hào và nhân phẩm cho người khuyết tật. Có thể nói : “ Việc làm là công cự quan
trọng nhất để có thể tái hòa đồng những người thường có xu hướng bị bỏ bên rìa xã
hội”.
Thứ ba,việc làm cho NKT góp phần phát huy nguồn lực cho xã hội:
NKT là một bộ phận cấu thành của xã hội không thể tách rời và họ cũng có trách
nhiệm trong việc tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, đóng góp sức mình vào
sự phát triển chung của cả xã hội và cũng được hưởng những thành quả khoa họccông nghệ. Nhưng do những khiếm khuyết về thể chất và tinh thần mà họ gặp rất
nhiều khó khăn và cản trở khi tham gia vào các hoạt động cộng đồng. Việc có việc
6
Bài tập lớn học kỳ
làm sẽ giúp họ đóng góp được sức mình. Tuy nhiên, nếu được tạo điều kiện thuận lợi
và tự mình vươn lên thì người khuyết tật có thể sống, hoạt động và phát huy được
năng lực và nguồn lực, đóng góp vào sự phát triển nền kinh tế đất nước.
2. Chế độ làm việc của NKT.
Quyền và nghĩa vụ của NKT trong lĩnh vực việc làm.
NKT khi tham gia vào các quan hệ lao động thì trở thành chủ thể của quan hệ
lao động, chính vì vậy, NKT cũng có những quyền và nghĩa vụ giống như những
người lao động không bị khuyết tật ở trong các lĩnh vực như tuyển dụng lao động,
giao kết hợp đồng, sử dụng lao động, bảo đảm việc làm. Tuy nhiên do những khiếm
khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà pháp luật có một số quy định riêng đối với NKT
nhằm tạo những cơ hội, điều kiện phù hợp. Cụ thể là khi tham gia vào quan hệ lao
động thì NKT được giảm giờ làm, “Thời giờ làm việc của người tàn tật không được
quá bảy giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần” 4. Đặc biệt, để bảo vệ sức khỏe cho NKT
thì pháp luật còn quy định : “Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động
là người tàn tật làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các
sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của
người lao động và quy mô doanh nghiệp”7.
Bên cạnh đó thì pháp luật còn quy định các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
lập quỹ việc làm cho người khuyết tật để giúp NKT phục hồi chức năng lao động và
tạo việc làm. Quỹ này được sử dụng với mục đích là : cấp hỗ trợ cho các cơ sở sản
xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
ban đầu, duy trì việc dạy nghề và phát triển sản xuất, để từ đó các doanh nghiệp sẽ
nhận nhiều người khuyết tật vào làm việc. Bên cạnh đó thì còn chính sách cho vay
với lãi suất thấp đối với các đối tượng : Cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh
dành riêng cho người tàn tật; Cá nhân và nhóm lao động là người tàn tật; Cơ sở dạy
nghề có nhận người tàn tật vào học nghề; Doanh nghiệp nhận số lao động là người
tàn tật vào làm việc cao hơn tỷ lệ quy định trong luật; Các hoạt động phục hồi chức
năng lao động cho người tàn tật.
Cơ sở dạy nghề và những cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho NKT “có
trên 51% số lao động là người khuyết tật, có quy chế hoặc điều lệ phù hợp với đối
tượng là động là người tàn tật”8 được giúp cơ sở vật chất ban đầu về nhà xưởng,
trường, lớp, trang thiết bị, được miễn thuế, được vay vốn với lãi suất thấp.
7 Điều 34 Luật Người khuyết tật năm 2010
8 Điều 3, Nghi định số 81/1995/NĐ-CP ngày 23/11/1995 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều Bộ Luật Lao động về lao động là người tàn tật.
8
Bài tập lớn học kỳ
Trách nhiệm của một số chủ thể trong lĩnh vực việc làm đối với NKT.
Trách nhiệm của Nhà nước: NKT cũng là một công dân, là lực lượng lao động
của xã hội nên với vai trò là chủ thể quyền lực, nhà nước có trách nhiệm: “Giải quyết
việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”.
Bên cạnh đó thì nhà nước còn có trách nhiệm tạo điều kiện để NKT phục hồi chức
khuyết tật có tới 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% do hậu quả chiến tranh và 6%
do tai nạn lao động10. Dự báo trong nhiều năm tới số lượng NKT ở Việt Nam chưa
giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hoá học do Mỹ sử
dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả
thiên tai…Số lượng NKT rất nhiều tuy nhiên vấn đề giải quyết việc làm cho đối
tượng này hiện nay tuy gặp nhiều khó khăn. Để thực hiện tốt vấn đề giải quyết việc
làm cho NKT thì Đảng và nhà nước đã ban hành những quy định pháp luật tạo cơ sở
pháp lý vững chắc cho việc thực hiện trên thực tế, nhìn chung thì đã tương đối đủ,
đặc biệt là đã có những quy định về việc làm đối với NKTnhư đã ban hành các chính
sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lao động là NKT; đối với hoạt động tạo
việc làm cho NKT phải đảm bảo bình đẳng trong tuyển dụng, sử dụng, bố trí công
việc, cải tạo cơ sở vật chất bảo đảm môi trường tiếp cận để NKT làm công việc như
những người bình thường khác ….Việc ban hành các văn bản điều chỉnh vấn đề việc
làm cho người khuyết tật đã góp phần không nhỏ vào những thành quả trong công tác
giải quyết việc làm cho NKT. Cụ thể:
Hiện nay, trên cả nước đã có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh có NKT. Qua
thống kê, cả nước hiện có hơn 400 cơ sở sản xuất kinh doanh của NKT, thu hút trên
15.000 lao động khuyết tật tham gia, trong đó Hội Người mù có 146 cơ sở với
khoảng 4.000 lao động. Các cơ sở này thường nhận lao động khuyết tật ở mọi hình
thức sau đó phân loại, hướng nghiệp dạy nghề, giải quyết việc làm cho họ. Ví dụ như
HTX thủ công mỹ nghệ An Dương ở thị trấn Rế (huyện An Dương), ngày càng có
thêm nhiều lao động khuyết tật gắn bó. HTX mở hướng phát triển thêm ngành nghề
trồng hoa, cây cảnh. NKT được động viên, khuyến khích, đào tạo nghề, không ít
NKT có khả năng phát huy tinh thần lao động, sáng tạo của mình. Vì vậy, những
công việc như trồng cây cảnh, trồng nấm tưởng như khó với họ, nhưng nhiều người
sau khi được đào tạo nghề đã làm tốt nghề, thu nhập đáng kể.
Nhiều địa phương đã có quỹ việc làm dành cho NKT. Theo thống kê thì Có 8
tỉnh đã thành lập và bố trí kinh phí Quỹ việc làm cho NKT. Rất nhiều mô hình, cách
làm hay, hiệu quả như Chương trình tín dụng chính sách NKT đang hưởng lợi của
10 http://suckhoedoisong.vn/2012041705274634p61c67/nhieu-rao-can-thieu-chinh-sach.htm
để tuyển dụng người lao động là NKT. Về phía NKT cũng chủ động hơn trong việc
trau dồi kiến thức, kỹ năng chuyên môn để đủ tự tin tham gia tuyển dụng vào làm
việc tại các doanh nghiệp có nhu cầu. Tại đây thì nhiều doanh nghiệp đã tuyển chọn
được lao động là NKT cho doanh nghiệp mình như Công ty Cổ phần Hoa Lan là
11 http://www.nguoikhuyettat.org
11
Bài tập lớn học kỳ
doanh nghiệp chuyên sản xuất kinh doanh hóa mỹ phẩm, chất diệt trùng, xà phòng
thơm, bao bì carton... đã tuyển dụng được 3 người khuyết tật vào làm việc tại xưởng
đóng gói. Theo Chủ tịch Công đoàn công ty Hoàng Đình Duy thì những người lao
động khuyết tật được tuyển vào làm việc rất có trách nhiệm và đạt hiệu quả lao động
cao như những người lao động bình thường. Đây là bước khởi đầu khả quan, mở ra
một hướng mới cho các doanh nghiệp về kênh thông tin trong tuyển dụng lao động,
mặt khác, giúp người khuyết tật có được công việc ổn định để nuôi sống bản thân và
gia đình, xóa bỏ mặc cảm, tự ti, tạo thêm niềm tin vào cuộc sống.
2. Một số hạn chế.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà hiện nay vấn đề
việc làm đối với người khuyết tật vẫn là một bài toán nan giải đối với các cấp, các
ngành và cộng đồng.
Thứ nhất, quy định của pháp luật: Pháp luật lao động quy định các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải nhận từ 2-3% lao động là người tàn tật vào
làm việc tùy theo loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp không nhận đủ tỷ lệ lao động
là người tàn tật theo quy định phải đóng một khoản tiền vào Quỹ việc làm cho NKT.
Nếu thực hiện đúng như quy định này thì với hàng triệu doanh nghiệp trên cả nước,
con số lao động khuyết tật được tạo việc làm là rất đáng kể. Và trong trường hợp số
doanh nghiệp nhận người khuyết tật ít ỏi như hiện nay thì theo quy định trên, Quỹ
việc làm cho NKT sẽ thu được số tiền không nhỏ. Quy định, chính sách về cơ bản đã
để tạo môi trường làm việc cho NKT. Chính vì điều này mà các cơ sở sản xuất kinh
doanh rất ít khi nhận lao động là NKT. Trên thực tế việc làm dành cho NKT vẫn chủ
yếu được tạo ra từ các cơ sở kinh doanh dành riêng cho họ, tức là những cơ sở có trên
51% lao động là NKT hoặc trong các tổ chức, cơ sở mang tính nhân đạo, từ thiện, rất
ít người tìm được việc làm và làm việc ổn định trong các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp. Thống kê năm 2008, đã có 15.000 lao động là NKT làm việc ổn định trong
400 cơ sở sản xuất, kinh doanh của thương binh và NKT. Phần đông NKT là lao động
tự do. Đặc biệt ở các vùng nông thôn, NKT chủ yếu tham gia vào công việc nhà nông
là chính. Một số ít tham gia buôn bán nhỏ..
Thứ ba, về phía người khuyết tật:. Bản thân NKT chưa đáp ứng được yêu cầu
tuyển dụng của các doanh nghiệp, đồng thời do tính chất sản xuất, kinh doanh các
doanh nghiệp cũng khó khăn trong việc bố trí việc làm phù hợp với sức khoẻ, đặc
điểm của người khuyết tật, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề
đặc thù như luyện kim, hoá chất, địa chất, đo đạc bản đồ, dầu khí, khai thác mỏ, khai
thác khoáng sản, xây dựng cơ bản, vận tải...Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động -
13
Bài tập lớn học kỳ
Thương binh và Xã hội (LĐ-TB & XH) năm 2001, có 97.64% NKT ở Việt Nam
không được đào tạo qua trường lớp chính thức, trong đó 1,22% đã có trình độ kỹ
thuật đủ để đáp ứng nhu cầu công việc, 0,53% mới tốt nghiệp từ những trường dạy
nghề và chỉ có 0,61% tốt nghiệp từ các trường cao đẳng và đại học. Thực trạng này
dẫn đến tỷ lệ NKT không tìm được việc làm khá cao: 41,86% ở Đồng bằng sông
Hồng và 35,77% ở phía Đông Nam đồng bằng sông Cửu Long. Có khoảng 58%
người tàn tật tham gia làm việc; 30% chưa có việc làm và mong muốn có việc làm ổn
định. Trong số người tàn tật từ 15 tuổi trở lên chỉ có 29% người tàn tật trả lời là có
khả năng lao động, trong số này có gần 75% tham gia hoạt động kinh tế, tuy nhiên
cũng chỉ có 47,5% đủ việc làm, 37,2% thiếu việc làm và 15,3% chưa có việc làm.
vụ du lịch, dịch vụ tư vấn, ...
Cần bổ sung chế tài xử lý đối với những cơ sở sản xuất, doanh nghiệp vi phạm
các quy định có liên quan đến NKT trong lĩnh vực việc làm. Đồng thời cũng phải có
quy định cụ thể hướng dẫn việc sử dụng quỹ việc làm cho NKT, đảm bảo sử dụng có
hiệu quả quỹ này.
Nên quy định thời giờ làm việc của NKT không quá 7 giờ/ngày để tạo điều
kiện cho những NKT có nhu cầu được làm việc như những người bình thường và
người sử dụng lao động không còn dè dặt trong tuyển chọn lao động là NKT . Bên
cạnh đó, Nhà nước tạo điều kiện cho NKT đạt được đầy đủ các trách nhiệm của họ
như các thành viên khác trong xã hội chẳng hạn tạo các cơ hội tiếp cận giáo dục và
đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn của người tàn tật, cung cấp cho họ các
phương tiện chuyên dùng, sáng chế và cải tiến công cụ làm việc phù hợp với từng
dạng tật, cải thiện điều kiện và môi trường làm việc.
Nâng cao chất lượng lao động là NKT: Để giải quyết việc làm cho
người khuyết tật không chỉ trông chờ vào các chính sách xã hội hay tình thương. Về
phía người khuyết tật cũng phải tự trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng
chuyên môn, sẵn sàng đảm đương được công việc của nhà tuyển dụng để khẳng định
được mình là những người “tàn mà không phế”. Xuất phát từ nguyên nhân khiến các
doanh nghiệp không mặn mà nhận người lao động khuyết tật bởi trình độ, hiểu biết
của họ với công việc còn hạn chế, một số doanh nghiệp nhận người lao động khuyết
tật đã qua đào tạo ở các trường dạy nghề, nhưng vẫn phải đào tạo lại tay nghề mới
đáp ứng được công việc. Chính vì thế để người khuyết tật có được công việc ổn định
thì cần nâng cao trình độ nghề cho họ. Như vậy, việc đào tạo nghề tại chỗ ngay tại
doanh nghiệp, đồng thời giải quyết việc làm cho người khuyết tật ngay tại doanh
nghiệp là giải pháp tích cực, tiết kiệm chi phí phải đào tạo đi, đào tạo lại, khuyến
khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp gắn bó với người lao động. Người lao động
khuyết tật cũng phát huy cao hiệu quả lao động của mình phục vụ doanh nghiệp. Bên
15
không thể hòa nhập được với xã hội, với người xung quanh, trở thành gánh nặng cho
cả gia đình và xã hội. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa được quan tâm
đúng mức, thường mới chỉ dừng lại ở việc đưa tin hội nghị hoặc một số hoạt động
tặng quà nhân ngày lễ, tết; công tác tuyên truyền chưa đi vào chiều sâu. Chính vì thế,
để NKT có thể hòa nhập với xã hội, có thể lao động, làm việc cho những người bình
thường, đóng góp sức mình cho xã hội thì phải tuyên truyền cho mọi người hiểu để
họ đồng cảm, chia sẻ với NKT, giúp đỡ NKT hòa nhập được với môi trường xung
quanh. Các cơ sở sản xuất cũng có cách nhìn khác đối với NKT, để họ được tạo điều
16
Bài tập lớn học kỳ
kiện, cơ hội làm việc. Bản thân NKT cũng phải có ý chí vươn lên để khẳng định được
vai trò của mình trong xã hội.
Tăng cường hợp tác quốc tế: Tăng cường tham gia và ký kết các điều
ước có liên quan đến người khuyết tật, Tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp
nước ngoài để tạo công việc cho người khuyết tật, tranh thủ các nguồn hỗ trợ của
nước ngoài…..
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ và Việt Nam vừa gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), yêu cầu về nguồn nhân lực có trình độ cao là
rất lớn, vấn đề tạo việc làm cho người lao động đang là mối quan tâm bức thiết của
người dân nói chung và người tàn tật nói riêng. Tạo việc làm cho người tàn tật, tạo
điều kiện cho họ vượt qua những khó khăn, hòa nhập vào đời sống cộng đồng, xã hội
là những hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc. Có như
vậy mới giải quyết được việc làm cho NKT một cách có hiệu quả và đảm bảo tính ổn
định, bền vững.