0
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
----------***---------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI CỦA
MỸ ĐỐI VỚI NÔNG SẢN VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP
VƯỢT QUA
Họ và tên sinh viên
: Trần Thị Minh Trang
Mã sinh viên
:1111110595
Lớp
: Anh 17 - Khối 5 KT
Khóa
: 50
Người hướng dẫn khoa học : ThS. Đinh Khương Duy
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
2.3.3 Các biện pháp Việt Nam đã áp dụng để vượt qua hàng rào kỹ thuật của Mỹ. 45
2.4 Đánh giá về hàng rào kỹ thuật đối với nông sản Việt Nam của Mỹ và các
biện pháp vượt qua của Việt Nam........................................................................47
2.4.1 Đối với việc Mỹ áp dụng hàng rào kỹ thuật với nông sản Việt Nam...............47
2.4.2 Đối với các biện pháp Việt Nam đã áp dụng để vượt qua hàng rào kỹ thuật..48
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VƯỢT QUA HÀNG RÀO KỸ THUẬT ĐỐI VỚI
NÔNG SẢN XUẤT KHẨU TẠI THỊ TRƯỜNG MỸ.........................................51
3.1 Xu hướng nhập khẩu nông sản và sử dụng hàng rào kỹ thuật của Mỹ.......51
3.1.1 Dự báo nhu cầu nhập khẩu nông sản của Mỹ................................................51
3.1.2 Xu hướng sử dụng hàng rào kỹ thuật trên thế giới.........................................52
3.1.3 Xu hướng sử dụng hàng rào kỹ thuật của Mỹ.................................................54
3.2 Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng vượt qua hàng rào kỹ thuật Mỹ áp dụng
đối với nông sản Việt Nam....................................................................................55
3.3 Giải pháp giúp Việt Nam vượt qua hàng rào kỹ thuật đối với nông sản tại
thị trường Mỹ.........................................................................................................56
3.3.1 Nhóm giải pháp vĩ mô....................................................................................56
3.3.2 Nhóm giải pháp vi mô....................................................................................64
KẾT LUẬN............................................................................................................71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................72
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
dược phẩm và mỹ phẩm
FDA
Food and Drug Administration
Cục quản lý thực phẩm và dược
phẩm (Mỹ)
FSMA
Food Safety Modernization Act
Luật hiện đại hóa an toàn thực
phẩm
HACCP
Hazard Analysis and Critical
Control Point
Hệ thống phân tích mối nguy và
xác định điểm kiểm soát tới hạn
ISO
International Standard
Organization
Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
Tiêu chuẩn Việt Nam
NN&PTNN
Nông nghiệp và phát triển nông
thôn
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng, biểu
đồ
Nội dung bảng, biểu đồ
Sơ đồ 1.1
Quy chuẩn kỹ thuật
7
Bảng 1.1
Nội dung trong các tiêu chuẩn – quy chuẩn kỹ thuật
9
Sơ đồ 1.2
Các mục tiêu hợp pháp
28
29
33
Bảng 3.1
Xu hướng nhập khẩu nông sản
52
Bảng 3.2
Số lượng TCVN và tiêu chuẩn về nông sản
58
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản có vai trò to lớn đối với việc
phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, đặc biệt là với các nước đang phát triển,
những nước nghèo mà phần đông dân số sống nhờ nghề nông. Xã hội ngày càng
phát triển, cùng với đó, nhu cầu về lương thực của con người cũng tăng cao, không
chỉ về mặt số lượng mà còn về chất lượng, chủng loại.
Về mặt hàng nông sản, đây là hàng hóa thiết yếu với đời sống và sản xuất,
cũng là một trong những mặt hàng chiến lược, mang tính dài hạn. Chính phủ các
nước đều trực tiếp hoạch định chính sách nhằm can thiệp vào sản xuất, xuất khẩu
ảnh hưởng nhiều nhất tới tiến trình, phạm vi và kết quả của vòng đàm phán. Việc
tham gia vào TPP sẽ giúp cho hàng hóa Việt Nam tiếp cận với thị trường các nước
đối tác thuận lợi và bình đẳng hơn, hưởng mức thuế suất thấp hơn và tự do cạnh
tranh với hàng hóa của các quốc gia khác. Tuy nhiên, khó khăn thực sự đối với hàng
hóa Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ không nằm ở hàng rào thuế quan mà ở các hàng
rào phi thuế quan (NTB – Non Tarriff Barrier), đặc biệt là ở hàng rào kỹ thuật (TBT
– Technical Barriers to Trade). Mỹ luôn áp dụng các biện pháp hàng rào kỹ thuật
chặt chẽ, thỉnh thoảng có thêm quy định mới khiến cho việc nhập khẩu hàng hóa
vào thị trường này luôn khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, các lợi ích từ
TPP cũng vì thế mà khó được sử dụng hiệu quả. Khó khăn đó lại không ngừng tăng
cao khi các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật trở nên khắt khe hơn không chỉtrở thành
một rào cản thương mại mà còn nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của người tiêu
dùng.
Xu hướng toàn cầu hóa trở thành động lực thúc đẩy các quốc gia, trong đó có
Việt Nam không ngừng mở rộng thị trường. Tận dụng lợi thế là nước phát triển
nông nghiệp, có nền văn minh lúa nước lâu đời, Việt Nam tiếp tục vươn lên trở
thành quốc gia với những thành tích xuất khẩu nông sản đáng nể. Tuy nhiên, trong
thực tế, mặc dù đã có những chuyển biến tích cực trong chính sách khuyến khích
phát triển nông nghiệp của Nhà nước, có sự cải tiến khoa học, công nghệ, tiến bộ
khoa học kỹ thuật, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn do cấp phải những
trở ngại từ hàng rào kỹ thuật. Dự kiến tới năm 2018, hầu hết các nước sẽ áp mức
thuế 0% đối với mặt hàng nông sản sau khi các hiệp định ký kết song phương, đa
phương bắt đầu có hiệu lực. Tới thời điểm đó, hàng rào phi thuế quan trong đó tiêu
biểu nhất là hàng rào kỹ thuật sẽ trở thành công cụ hữu hiệu để các quốc gia khác
bảo vệ nền sản xuất trong nước.
3
Với mong muốn phần nào hiểu hơn về thực tế xuất khẩu của Việt Nam sang
4
môi trường và xã hội,… Điều này không chỉ khiến cho doanh nghiệp xuất khẩu thiệt
hại về vật chất mà còn khó khăn trong những lần xuất khẩu tiếp theo vào thị trường
Mỹ, dẫn tới việc hàng năm, phía Mỹ còn có lịch kiểm tra định kỳ trực tiếp đối với
hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Do đó, trong khóa luận của mình, người viết sẽ
đi sâu vào việc nghiên cứu cụ thể ảnh hưởng của hàng rào kỹ thuật Mỹ áp dụng đối
với nông sản xuất khẩu Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở dựa trên hệ thống lý thuyết và thực tế áp dụng hàng rào kỹ thuật
của Mỹ đối với nông sản Việt Nam, khóa luận nhằm đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao khả năng vượt qua hàng rào kỹ thuật, đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sang
thị trường Mỹ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu cụ thể hàng rào kỹ thuật trong thương mại được
Mỹ áp dụng đối với mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nông sản có chủng loại phong phú, được sản xuất từ các địa phương khác
nhau, khái niệm về nông sản của WTO, Mỹ, Việt Nam cũng không đồng nhất thêm
vào đó, hệ thống hàng rào kỹ thuật trong thương mại cũng hết sức đa dạng nên
trong phạm vi nghiên cứu của mình, người viết sẽ dựa trên khái niệm nông sản của
WTO, coi nông sản bao gồm các sản phẩm của nông nghiệp (mà không bao gồm cá
và các sản phẩm từ cá, không bao gồm thủy sản).
Về mặt thời gian, khóa luận sẽ sử dụng các số liệu tổng hợp giai đoạn 20072014, có cập nhật tình hình cụ thể 4 tháng đầu năm 2015.
Về mặt không gian, khóa luận nghiên cứu hàng rào kỹ thuật áp dụng với nông
sản Việt Nam trên thị trường Mỹ.
5. Phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI
1.1
Khái quát về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Technical Barriers To
Trade – TBT)
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm
1.1.1.1 Khái niệm
Các biện pháp áp dụng trong chính sách thương mại quốc tế hiện nay thường
được chia thành hai loại: rào cản thuế quan (Tariff Barriers – TB) và rào cản phi
thuế quan (Non-tariff barriers – NTB). Do nhiều lý do khác nhau, các quốc gia hiện
nay phải duy trì việc sử dụng các hình thức của rào cản thương mại như một công
cụ hữu hiệu nhằm bảo hộ nền sản xuất nội địa. Bên cạnh biện pháp bảo hộ bằng
thuế quan là các biện pháp phi thuế quan.
Năm 1997, tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD đưa ra khái niệm:
“Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp biên giới nằm ngoài phạm vi
thuế quan có thể được các quốc gia sử dụng, thông thường dựa trên cơ sở lựa chọn,
nhằm hạn chế nhập khẩu”.
Một trong các biện pháp quản lý nhập khẩu phi thuế quan là hàng rào kỹ thuật
(Technical Barrier to Trade - TBT). Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế (2005, NXB
Giáo dục Việt Nam, Hà Nội) có đưa ra định nghĩa:
“Hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế là quy định của nước nhập khẩu
về các yêu cầu, tiêu chuẩn đối với hàng nhập khẩu để được thông quan vào thị
trường nội địa”.
“Hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế là một hình thức bảo hộ mậu
dịch, qua việc nước nhập khẩu đưa ra các yêu cầu về tiêu chuẩn đối với hàng hóa
nhập khẩu hết sức khắt khe: Tiêu chuẩn về quy cách, mẫu mã, về chất lượng, về vệ
sinh, về an toàn, về mức độ gây ô nhiễm môi trường… Nếu hàng hóa không đạt
được một trong những tiêu chuẩn kể trên thì không được nhập khẩu vào lãnh thổ
Việc tuân thủ là bắt buộc
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ hiệp định TBT)
- Tiêu chuẩn kỹ thuật (Technical Standards) : là văn bản do một cơ quan được
thừa nhận ban hành để sử dụng rộng rãi và lâu dài, trong đó quy định các quy tắc,
hướng dẫn hoặc các đặc tính đối với sản phẩm hoặc các quy trình và phương pháp
sản xuất có liên quan, mà việc tuân thủ chúng là không bắt buộc. Văn bản này cũng
có thể bao gồm hoặc gắn liền với thuật ngữ, biểu tượng, cách thức bao gói, dán
nhãn hoặc ghi nhãn áp dụng cho một sản phẩm, quy trình hoặc phương pháp sản
xuất nhất định. Hiện nay, các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế thông dụng thường do các
tổ chức sau ban hành: Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO), ủy ban kỹ thuật
điện tử quốc tế (IEC), liên đoàn viễn thông quốc tế (ITU), ủy ban dinh dưỡng
(CODEX),…
8
- Quy trình đánh giá sự phù hợp (Conformity Assessment Procedure): quy
trình thẩm định đối với một hàng hóa với các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật. Theo
Hiệp định TBT, đây là “bất kỳ một thủ tục nào được áp dụng trực tiếp hoặc gián
tiếp để xác định rằng các yêu cầu liên quan trong các tiêu chuẩn hay quy chuẩn kỹ
thuật có được thực hiện hay không”.
Các thủ tục đánh giá tính phù hợp cần được tiến hành và hoàn thành nhanh
chóng và dành ưu đãi cho các sản phẩm có xuất xứ từ lãnh thổ nước thành viên
khác tương tự như ưu đãi dành cho các sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước
Cụ thể, quy trình đánh giá sự phù hợp được thực hiện bởi một cơ quan thứ ba
với các công việc sau:
Kiểm nghiệm sản phẩm
Theo Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, kiểm nghiệm sản phẩm là “một
thao tác kỹ thuật bao gồm việc xác định một hay nhiều đặc điểm của sản phẩm, một
- Các đặc tính sản phẩm, bao gồm cả các đặc tính về chất lượng;
- Các quy trình và phương pháp sản xuất (PPMs) có ảnh hưởng đến đặc tính của
sản phẩm;
- Các thuật ngữ, ký hiệu;
- Các yêu cầu về đóng gói, ghi nhãn mác áp dụng cho sản phẩm.
(Nguồn: VCCI, Rào cản kỹ thuật đối với thương mại - TBT)
* Định nghĩa của OECD
Theo OECD - tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế:
“Rào cản kỹ thuật trong thương mại là những quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn
tối thiểu và hệ thống chứng nhận cho sức khỏe, an toàn và bảo vệ môi trường, tăng
cường sự sẵn có của thông tin về sản phẩm”
Như vậy, theo OECD, rào cản kỹ thuật là những quy định thể hiện bằng các
mục tiêu về sức khỏe, an toàn, chất lượng. Như vậy, quan điểm của OECD là nhấn
mạnh đến mục tiêu vì con người, vì môi trường thay vì chú trọng rào cản kỹ thuật
như một biện pháp nhằm hạn chế thương mại.
* Quan điểm của người viết
Có thể thấy, mỗi quan điểm của mỗi tổ chức về rào cản kỹ thuật nhấn mạnh
đến tầm quan trọng của từng yếu tố nhưng nhìn chung, đều khẳng định các quy
chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật là hai yếu tố nòng cốt để tạo ra hàng rào bảo vệ
quyền lợi của các nhà sản xuất trong nước, sức khỏe của người tiêu dùng cũng như
ngăn chặn nguy cơ gia tăng ô nhiễm môi trường.
Tóm lại, hàng rào kỹ thuật là một biện pháp quản lý nhập khẩu phi thuế quan,
một biện pháp mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp
lý, khoa học hoặc bình đẳng, được hình thành do những khác biệt trong quy định
10
của các quốc gia về các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc quy trình đánh giá sự
11
vụ chủ nghĩa bảo hộ. Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, đây được coi là
một thách thức lớn. Hàng hóa không phù hợp với những quy định về hàng rào của
nước nhập khẩu có thể bị trả về, những lô hàng tương tự có cùng nguồn gốc xuất xứ
sẽ gặp thêm khó khăn trong quá trình làm thủ tục hải quan. Nếu muốn hàng hóa
nhập khẩu vào thị trường mới, nhà xuất khẩu phải tìm hiểu rõ các quy chuẩn, tiêu
chuẩn kỹ thuật. Việc tuân thủ những quy định đó sẽ yêu cầu một số vốn đầu tư lớn
cho công nghệ, dây chuyền máy móc hiện đại, ứng dụng khoa học tiên tiến nên sẽ
làm gia tăng chi phí đầu tư, kéo theo việc tăng giá hàng hóa và hệ quả sẽ làm các
doanh nghiệp xuất khẩu mất đi cơ hội kinh doanh, thâm nhập thị trường.
1.1.2 Quy định quốc tế về hàng rào kỹ thuật trong thương mại
1.1.2.1 Hiệp định TBT
GATT 1947 có các điều khoản quy định cụ thể về các quy chuẩn, tiêu chuẩn
kỹ thuật có tính chất quốc tế. GATT thành lập một nhóm nghiên cứu nhằm đo lường
mức độ ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đối với hoạt động thương mại quốc tế.
Kết thúc vòng đám phán Tokyo 1979, 32 nước thành viên đã ký và cho ra đời Hiệp
định đa phương về các rào cản kỹ thuật trong thương mại (Hiệp định TBT). Hiệp
định TBT là một phần không thể tách rời của hệ thống Hiệp định WTO.
Các quốc gia xây dựng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật riêng nhằm bảo vệ
quyền lợi của người tiêu dùng và đảm bảo an toàn trong quá trình sử dụng, tiêu thụ
sản phẩm bằng cách trực tiếp quản lý chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, điều này làm
phát sinh ra sự chênh lệch giữa tiêu chuẩn của các quốc gia. Khi một quốc gia muốn
xuất khẩu sản phẩm của nước mình ra nước ngoài, ngoài việc sản phẩm đó đáp ứng
được các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật trong nước còn phải phù hợp với các quy
định và tiêu chuẩn kỹ thuật của các nước nhập khẩu. Sự sai khác, chênh lệch giữa
quy định của nước nhập khẩu và nước xuất khẩu sẽ tạo ra nhiều khó khăn cho
doanh nghiệp. Để có được sự thống nhất hài hòa giữa tiêu chuẩn các nước đòi hỏi
Như vậy, trước hết, hiệp định khuyến khích các quốc gia sử dụng tiêu chuẩn
quốc tế để giảm thiểu tối đa sự sai khác, chênh lệch trong quy định, hình thức của
hàng rào kỹ thuật giữa các quốc gia. Tuy nhiên, hiệp định không bắt buộc việc các
nước phải sử dụng tiêu chuẩn quốc tế. Các quốc gia có thể có những bộ tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật riêng nhưng cần lưu ý, những mục tiêu quản lý phải hợp pháp
và cần thiết.
Các thành viên phải đảm bảo rằng các văn bản pháp luật quy định về kỹ thuật
được soạn thảo, ban hành và áp dụng mà không hạn chế thương mại quá mức cần
thiết để thực hiện một mục tiêu hợp pháp, có tính đến những rủi ro do việc không
thực hiện chúng có thể gây ra. Ngoài những yếu tố khác, các mục tiêu hợp pháp đó
là: các yêu cầu về an ninh quốc gia; ngăn ngừa hành động gian lận; bảo vệ cuộc
13
sống hoặc sức khoẻ của con người, động vật hoặc thực vật, bảo vệ môi trường. Để
đánh giá các rủi ro đó, ngoài những yếu tố khác, yếu tố liên quan cần xem xét là:
những thông tin khoa học và kỹ thuật hiện có, công nghệ xử lý có liên quan hoặc
thời hạn sử dụng sản phẩm dự kiến.
Sơ đồ 1.2: Các mục tiêu hợp pháp
Duy trì an ninh quốc gia
Bảo vệ sức khỏe và an toàn cho người, động thực vật
Đảm bảo chất lượng sản phẩm
Các mục tiêu
hợp pháp
Bảo vệ môi trường
Ngăn ngừa các hành vi gian lận thương mại
Trường hợp khác
Thái Lan. Cả ba nước đều là thành viên của WTO, gạo của ba nước có chất lượng,
hình dáng như nhau (kích thước hạt gạo, màu của vỏ cám, mức độ bạc bụng, chất
lượng cám, nhiệt độ trở hồ, hương vị,…) Theo nguyên tắc này, gạo nhập khẩu từ
Việt Nam và Thái Lan sẽ cùng được áp dụng một mức thuế nhập khẩu cũng như yêu
cầu về đóng gói, nhãn mác, chất lượng như nhau. Đồng thời, Mỹ cũng không được
áp dụng mức thuế ưu đãi hoặc có những biện pháp kỹ thuật ưu đãi hơn đối với gạo
do trong nước sản xuất với gạo từ Việt Nam và Thái Lan.
Nguyên tắc 3: Hài hòa hóa
Để giảm thiểu tuyệt đối sự chênh lệch giữa các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
giữa các quốc gia, hiệp định TBT khuyến khích các nước thành viên sử dụng các
tiêu chuẩn quốc tế trong xuất khẩu, các tiêu chuẩn quốc gia (toàn bộ hoặc một phần)
trừ khi việc sử dụng đó không phù hợp, làm mất tính hiệu quả trong thực hiện một
mục đích nào đó.
Bên cạnh đó WTO cũng khuyến khích các nước thành viên tham gia vào các
Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế như tổ chức thú y thế giới OIE (World Organisation for
Animal Health), tổ chức lương thực và nông nghiệp FAO (World Food and
Agriculture Organization), tổ chức Y tế thế giới WHO (World Health Organization),
công ước quốc tế bảo vệ thực vật IPPC (International Plant Protection
Convention).... - là những tổ chức đã thiết lập những bộ tiêu chuẩn kỹ thuật trong
các lĩnh vực cụ thể.
Trong nguyên tắc hài hòa hóa, hiệp định TBT còn đề cập đến vấn đề đối xử
đặc biệt và khác biệt với các thành viên WTO là các nước đang và chậm phát triển.
Thực tế số các quốc gia thành viên của WTO là nước đang phát triển và đang trong
quá trình chuyển đổi nền kinh tế chiếm tới ¾ số nước thành viên. Do đó, WTO luôn
15
có các chính sách khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế, dành nhiều ưu đãi
hơn cho các nước đang phát triển.
16
Ngoài ra, hiệp định TBT còn quy định khi kết quả của các tổ chức đánh giá sự
hợp chuẩn tương thích với những chỉ dẫn liên quan do các tổ chức tiêu chuẩn hóa
quốc tế ban hành thì kết quả đó được xem là bằng chứng về một trình độ kỹ thuật
hoàn chỉnh.
Nguyên tắc 6: Minh bạch
Theo nguyên tắc này, các quy định về TBT, các văn bản hiện có liên quan đến
TBT phải được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong
công báo, tạp chí chuyên ngành, trên trang điện tử... Bản thảo các quy định kỹ thuật
của các nước thành viên WTO phải được gửi đến Ban thư ký WTO trước khi gửi
bản chính thức 60 ngày. Thời gian 60 ngày là để WTO xin ý kiến các nước thành
viên WTO khác. Ngay khi hiệp định TBT có hiệu lực, các nước tham gia phải thông
báo cho các nước thành viên khác về các biện pháp thực hiện và quản lý các quy
định, tiêu chuẩn kỹ thuật của nước mình, cũng như các thay đổi sau này của các
biện pháp đó.
Khi các nước thành viên WTO tham gia ký kết các hiệp định song phương và
đa phương với các quốc gia khác có liên quan đến các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật
và thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn, nếu các hiệp định này có ảnh hưởng về thương
mại đến các nước thành viên khác thì phải thông qua ban thư ký WTO thông báo về
các sản phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định, kèm theo một bản mô tả vắn
tắt hiệp định. Ngoài ra, các nước thành viên WTO còn phải thành lập điểm trả lời
các câu hỏi liên quan đến các quy định, tiêu chuẩn, thủ tục kiểm tra kỹ thuật –
inquiry points.
Cuối cùng, để tăng thêm sự đảm bảo tính minh bạch trong thực thi hiệp định
TBT, WTO cũng đã thành lập một cơ quan chuyên trách đó là ủy ban. Ủy ban này
sẽ cung cấp cho các thành viên WTO các thông tin liên quan đến hoạt động của hiệp
định và việc xúc tiến thực hiện các mục đích của hiệp định. Ở mỗi nước lại có văn
phòng TBT – là cơ quan chuyên trách quốc gia, phụ trách các vấn đề liên quan đến
vấn đề liên quan đến chất phụ gia trong thực phẩm, dư lượng thuốc thú y, thuốc trừ
sâu, các quy định liên quan đến kiểm dịch động thực vật cũng như cách ghi nhãn
mác liên quan trực tiếp đến an toàn sản phẩm. Nghĩa là, các biện pháp SPS hướng
tới mục tiêu cụ thể là bảo vệ sức khỏe con người, vật nuôi, động thực vật thông qua
việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Các biện pháp TBT lại hướng tới những
mục tiêu khác như an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường,…
1.1.2.3 Hệ thống quản lý chung trên thế giới
* Hệ thống phân tích mối nguy và xác định điểm kiểm soát tới hạn HACCP –
Hazard Analysis and Critical Control Point)
18
Năm 1973, FDA Mỹ áp dụng HACCP trong công nghiệp đóng gói thực phẩm.
Năm 1992, ủy ban tư vấn quốc gia về tiêu dùng vi sinh thực phẩm (NACMCF) đưa
ra 7 nguyên tắc cơ bản của HACCP và từ đó, hệ thống này được công nhận trên
toàn thế giới nhằm kiểm soát an toàn thực phẩm. Từ ngày 18/12/1997, tất cả các
mặt hàng thực phẩm trong nước cũng như muốn nhập khẩu vào thị trường Mỹ đều
phải tuân thủ HACCP.
Theo quan điểm của FAO và WTO, hệ thống HACCP là hệ thống giúp xác
định và kiểm soát mối nguy có thể phát sinh trong quá trình chế tạo, gia công, sản
xuất và sử dụng sản phẩm để đảm bảo an toàn vệ sinh. Nghĩa là, thay vì kiểm tra
chất lượng sản phẩm cuối cùng, hệ thống này sẽ kiểm soát những nguy hại tiềm
tàng trong quá trình sản xuất, lưu thông sản phẩm. Hệ thống phòng ngừa những
nguy hại có thể xảy ra, những rủi ro nhằm đảm bảo tốt hơn chất lượng sản phẩm đối
với người tiêu dùng.
Về bản chất, đây là hệ thống phòng ngừa, tập trung vào điểm kiểm soát tới hạn
(không phải kiểm soát sản phẩm ở mọi công đoạn), dựa trên những cơ sở khoa học,
thực tiễn đúng đắn, tin cậy nhằm giảm thiểu tối đa mức độ rủi ro có thể phát sinh
đối với thực phẩm.