TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---------***--------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC TRONG VIỆC
QUẢN LÝ THỊ TRƢỜNG VÀNG TẠI VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện
Mã số sinh viên
Lớp
Khóa
Giáo viên hƣớng dẫn
: Vũ Thị Huyền Chi
: 1111110495
: Anh 15 – Kinh tế đối ngoại
: 50
: PGS.TS Nguyễn Thị Quy
HàNội, tháng 05 năm 2015
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG
TRONG VIỆC QUẢN LÝ THỊ TRƢỜNG VÀNG................................................ 4
1.1. Những vấn đề chung về vàng ..........................................................................4
1.1.1. Khái niệm..................................................................................................4
2.1.3. Đánh giá vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong việc quản thí thị
trường vàng tại Việt Nam trước nghị định 24/2012/NĐ-CP ............................43
2.2. Vai trò của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam trong việc quản lý thị trƣờng
vàng sau Nghị định 24/2012/NĐ-CP ...................................................................48
2.2.1. Biến động thị trường vàng sau Nghị định 24/2012/NĐ-CP ...................48
2.2.2. Thực trạng vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong việc quản lý thị
trường vàng tại Việt Nam sau nghị định 24/2012/NĐ-CP ...............................53
2.2.3. Đánh giá vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong việc quản lý thị trường
vàng tại Việt Nam sau nghị định 24/2012/NĐ .................................................64
CHƢƠNG III: GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG
NHÀ NƢỚC TRONG VIỆC QUẢN LÝ THỊ TRƢỜNG VÀNG TẠI VIỆT
NAM ......................................................................................................................... 69
3.1. Dự báo về giá vàng thế giới và Việt Nam trong hai năm tới (2015-2017) 69
3.1.1. Cơ sở dự báo giá vàng thế giới trong hai năm tới .................................69
3.1.2. Dự báo giá vàng thế giới và Việt Nam trong hai năm tới dưới tác động
của các nhân tố .................................................................................................72
3.2. Định hƣớng vai trò của Ngân hàng Nhà nƣớc trong việc quản lý thị
trƣờng vàng tại Việt Nam ....................................................................................74
3.2.1. Định hướng phát triển thị trường vàng ..................................................74
3.2.2. Định hướng vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong việc quản lý thị
trường vàng tại Việt Nam .................................................................................75
3.3. Giải pháp tăng cƣờng vai trò của Ngân hàng nhà nƣớc trong việc quản lý
trƣờng vàng tại Việt Nam ....................................................................................77
3.3.1. Huy động vàng trong dân .......................................................................77
3.3.2. Tái thiết lập một sàn vàng quốc gia .......................................................78
3.3.3. Giảm mức đặt thầu tối thiểu trong các phiên đấu thầu vàng .................78
3.3.4. Xóa bỏ sự độc quyền của SJC ................................................................79
3.3.5. Hạn chế nhập khẩu lậu vàng ..................................................................80
Doanh nghiệp
NĐ-CP
Nghị định chính phủ
TT
Thông tư
USD
Đô la Mỹ
VNĐ
Việt Nam đồng
EUR
Đồng tiền chung Châu Âu
JPY
Đồng yên Nhật
WGC
Hội đồng vàng thế giới
Hình 2.12: Diễn biến đấu thầu giá vàng của NHNN từ tháng 3-9/2013 ..................57
Hình 2.13: Biến động giá vàng trong nước và thế giới 2009-2013 ......................... 65
Hình 3.1: Dự báo giá dầu thô WTI bình quân tháng................................................ 69
Hình 3.2: Diễn biến giá vàng theo USD, EUR& JPY.............................................. 72
1
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
1.
Trải qua suốt quá trình dài của lịch sử, vàng đóng vai trò rất quan trọng
trong đời sống con người. Từ vai trò là phương tiện thanh toán, đến nay vàng được
sử dụng rộng rãi cho nhiều mục đích khác nhau: làm đồ trang sức, sử dụng trong
lĩnh vực y tế, điện tử, hay giao dịch, đầu cơ và là một kênh dự trữ an toàn truyền
thống của người dân. Chính vì vậy, nhu cầu về vàng là rất lớn và mỗi diễn biến
trên thị trường vàng đều nhận được nhiều sự quan tâm từ Nhà nước và các nhà
đầu tư.
Về cơ bản, các văn bản điều tiết hoạt động kinh doanh vàng của Nhà Nước
được ban hành bước đầu đã tạo lập được hành lang pháp lý cho hoạt động của thị
trường vàng. Tuy nhiên, khuôn khổ này chỉ tỏ ra phù hợp với thị trường “không có
sóng” của những năm 2000 - 2005, khi giá vàng trong nước tuy có tăng nhưng
không có nhiều chênh lệch so với giá vàng thế giới và các hình thức đầu tư kinh
doanh vàng chưa được phép thực hiện. Bước sang năm 2006, xu hướng gia tăng
mạnh liên tiếp của giá vàng thế giới cộng hưởng với việc cho phép được thực hiện
các hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản với các điều kiện tương đối dễ dãi
trong bối cảnh diễn biến kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước bắt đầu bộc lộ nhiều bất
ổn đã làm nhu cầu tích trữ, đầu cơ vàng gia tăng đột biến. Giá vàng trong nước thay
tăng cường vai trò quản lý thị trường vàng của NHNN Việt Nam
3.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là vai trò quản lý thị trường vàng của
Ngân hàng Trung Ương.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở chính sách quản lý của NHNN
Việt Nam với thị trường vàng trong nước trước và sau khi có nghị định
24/2012/NĐ-CP. Khi dự báo về thị trường vàng, khóa luận sẽ tiến hành dự báo
đến năm 2017.
4.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: thu thập, thống kê,
phân tích thông tin, phân tích - tổng hợp, diễn giải - quy nạp, đối chiếu so sánh,
mô tả - khái quát để nghiên cứu toàn diện vấn đề, từ đó đưa ra những dự báo và
giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý vàng của nhà nước, góp phần
ổn định giá vàng trong nước, rút ngắn chênh lệch với giá vàng thế giới.
5.
Bố cục đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của Ngân hàng Trung Ương trong việc quản lý
thị trường vàng
Chương 2: Thực trạng vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong việc quản lý thị
trường vàng tại Việt Nam
trao đổi phải có giá trị cao, tồn tại như một hình thức được nhiều người chấp nhận
và phải có độ bền cao để tồn tại giá trị theo thời gian. Từ đó, vàng, bạc đã chiếm ưu
thế tuyệt đối so với các kim loại khác để trở thành kim loại phổ biến trong thế kỉ
XVIII và XIX. Trong giai đoạn này, có những nước đã thực hiện chế độ song bản
vị. Tuy nhiên, cùng tồn tại bên cạnh vàng, vai trò trao đổi của bạc bị giảm sút,
không chỉ về hình thức mà giá trị quý hiếm của vàng ngày càng cách xa bạc. Cho
đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, khi giá bạc trên thị trường giảm mạnh, hầu hết
các nước phương tây đều áp dụng chế độ bản vị vàng. Do mối quan hệ giao thương
bị phụ thuộc vào các nước châu Âu nên sau đó các nước châu Á cũng chuyển sang
chế độ bản vị vàng
Trong ngành kim hoàn ở Việt Nam, khối lượng của vàng được tính theo
đơn vị là cây (lượng hay lạng) hoặc là chỉ. Một cây vàng nặng 37,5 gram. Một chỉ
bằng 1/10 cây vàng. Cụ thể: 1kg = 26,666 lạng = 266,66 chỉ = 2666,6 phân = 26666
ly (lai) Trên thị trường thế giới, vàng thường được tính theo đơn vị là ounce hay
troy ounce. 1 ounce tương đương 31,103476 gram.
Tuổi vàng (hay hàm lượng vàng) được tính theo thang độ K (karat).
Một Karat tương đương 1/24 vàng nguyên chất. Xét trong mối quan hệ giữa đơn vị
5
trọng lượng thông dụng quốc tế SI thì: 1K = 0,2 g = 2mg (= 5,32 ly). Vàng 9999
tương đương với 24K. Khi người ta nói tuổi vàng là 18K thì nó tương đương với
hàm lượng vàng trong mẫu xấp xỉ 75%. Vàng dùng trong ngành trang sức thông
thường còn gọi là vàng tây có tuổi khoảng 18K.
Bảng 1.1: Quy ƣớc giá vàng (chƣa tính phí và thuế)
Thị trường vàng thế giới
USD/ounce
Đơn vị yết
được xuất hiện trong lịch sử. Vàng có tính bền vững hóa học cao với vẻ đẹp bề
ngoài sáng bóng; vàng nguyên chất có độ dẻo cao, dễ dát thành lá mỏng và kéo sợi
nên vàng rất phù hợp với việc chế tác đồ kim hoàn, các linh kiện và vi mạch điện
tử…Ngoài ra, vàng là vật chất có độ dẫn điện, dẫn nhiệt cao, phản ánh tia hồng
ngoại rất mạnh.
Vàng là một hàng hóa đặc biệt
Với tính chất ưu việt và được công nhận rộng rãi, vàng đã trở thành một vật
chất đặc biệt mang hình thái hàng hóa – tiền tệ. Lịch sử tiền vàng kéo dài hàng mấy
nghìn năm và phổ biến trên khắp các nước với những biến cố, những giai đoạn
thăng trầm khác nhau. Khi đóng vai trò là tiền thì tiền vàng đã có đầy đủ các chức
năng của tiền tệ nói chung và cho đến ngày nay chưa có loại tiền nào có chức năng
6
đầy đủ như thế, bao gồm: chức năng phương tiện thanh toán, thước đo giá trị và
phương tiện tích trữ.
Vàng à dự trữ quốc gia và của các tổ chức tài chính quốc tế trong thanh
toán quốc tế
Các quốc gia, ngân hàng và quỹ đầu tư trên toàn thế giới tăng cường giữ
vàng trong danh mục đầu tư của mình để tránh nguy cơ giảm giá trị tài sản do lạm
phát và phá giá tiền tệ trong điều kiện suy thoái kinh tế toàn cầu như hiện nay. Kể
từ sau chế độ Bretton Woods, vàng và Đô la trở thành hai loại tài sản quan trọng
Ngày nay, vàng ngày một tách rời khỏi chức năng là tiền tệ thế giới, nó đã
và đang trở thành một hàng hóa thông thường và quý hiếm như các hàng hóa khác.
Giá vàng thể hiện bằng USD biến động mạnh trong những năm gần đây, một mặt
thể hiện sự mất giá của USD, nhưng một mặt khác quan trọng hơn là vàng trở
thành hàng hóa mua bán xuất nhập khẩu quan trọng trong thương mại quốc tế.
Ngày nay vàng không những là đối tượng ngoại hối quốc gia mà còn là mặt hàng bị
đầu cơ nghiêm trọng.
Thứ hai, vàng là một kênh trú ẩn an toàn cho lạm phát, biến động tỷ giá và
bất ổn định chính trị, xã hội.
Các nhà đầu tư thường mua vàng với số lượng lớn khi đất nước đối mặt với
lạm phát cao. Nhu cầu vàng tăng cao trong suốt thời kỳ lạm phát vì giá trị vốn có
của nó cũng như nguồn cung hạn chế. Vàng có thể giữ giá trị tốt hơn nhiều so với
các hình thức tiền tệ khác vì nó không bị mất giá. Ví dụ như vào tháng 4 năm 2011,
các nhà đầu tư lo sợ sự giảm giá trị của tiền tệ định danh và giá vàng đã tăng lên
mốc đáng kinh ngạc 1,500 USD/ounce. Điều này cho thấy có rất ít niềm tin vào các
loại tiền tệ trên thị trường thế giới.
Thứ ba, vàng là một kênh trú ẩn an toàn cho thị trường chứng khoán trong
ngắn hạn
Một kênh trú ẩn an toàn trên thị trường tài chính được xác định là một tài
sản có tương quan âm với các tài sản khác hoặc với danh mục bình quân ở những
giai đoạn nhất định - những thời điểm thị trường suy thoái. Để xác định một tài sản
có là kênh trú ẩn an toàn hay không thì điều này phụ thuộc vào sự tương quan âm
của nó với danh mục trong những thời điểm thị trường khó khăn nhất. Tính chất
này hàm ý tài sản đó không nhất thiết phải tương quan âm hoặc dương với thị
trường nếu xét về tổng thể, nhưng độ tương quan của nó chỉ có thể là âm hoặc bằng
không trong những giai đoạn cụ thể. Do vậy, trong điều kiện bình thường, hoặc
trong thị trường tăng giá, sự tương quan có thể là dương hoặc âm. Nếu điều kiện thị
8
thị trường đầy rủi ro, thách thức với mỗi nhà đầu tư, bên cạnh đó thị trường vàng
cũng nằm trong sự kiểm soát của chính phủ, chịu tác động từ phía chính phủ. Bản
9
thân thị trường vàng cũng tạo nên những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế cũng
như đời sống xã hội. Thị trường vàng bao gồm các yếu tố như giá vàng, cung cầu
vàng, các kênh đầu tư, các công ty kinh doanh vàng cũng như khai thác vàng, phân
tích kỹ thuật vàng, chính sách của chính phủ.
1.2.2. Đặc điểm của thị trường vàng
Thị trường không gian
Thị trường vàng không nhất thiết phải tập trung ở một vị trí địa lí xác định
mà là bất cứ nơi đâu diễn ra hoạt động mua bán vàng. Do đó nó còn được gọi là
“thị trường không gian”
Thị trường 24h
Thị trường vàng là thị trường toàn cầu, không ngủ. Do sự chênh lệch về múi
giờ giữa các khu vực mà thị trường này diễn ra suốt ngày đêm. Đây là điều kiện
thuận lợi đối với những người muốn giao dịch trong thời gian rảnh ngoài giờ hành
chính.
Thị trường có tính thanh khoản cao
Các nhóm thành viên thị trường duy trì quan hệ liên tục với nhau thông qua
Vàng được khai thác khắp các mỏ hầu hết các châu lục trừ Đại Tây Dương do
hoạt động khai thác bị cấm. Hàng trăm mỏ vàng hoạt động toàn cầu với quy mô đa
dạng. Nhìn chung khai thác vàng từ các mỏ khá ổn định. Nguồn cung từ các mỏ
trung bình xấp xỉ 2.602,2 tấn vàng mỗi năm tính trong quãng thời gian 5 năm trở lại
đây. Những mỏ mới đang trong quá trình triển khai để đảm bảo sản lượng hiện tại
thay vì mở rộng phạm vi khai thác. Tuy nhiên, từ năm 2011 đến nay, nguồn cung
vàng đôi khi bị gián đoạn do các cuộc đình công ngừng sản xuất ở Nam Phi.
Tái chế vàng
Trong khi sản lượng vàng khai thác từ các mỏ là tương đối ít dao động, vàng
tái chế giúp đảm bảo nguồn cung thương mại dễ dàng hơn khi cần thiết, góp phần ổn
định giá vàng. Giá trị của vàng tái chế còn có ý nghĩa về mặt kinh tế vì có khả năng
phục hồi lại từ những hình thức sử dụng khác bằng việc nung chảy, tinh chế và tái
chế.
Dự trữ tại các ngân hàng trung ương các nước
NHTW và các tổ chức đa quốc gia (như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế) hiện giữ
khoảng 1/5 tổng lượng vàng dự trữ toàn cầu làm tài sản dự trữ (ước tính số lượng
khoảng 29000 tấn được cất trữ ở 110 tổ chức). Tính trung bình, vàng chiếm khoảng
15% tài sản dự trữ của các chính phủ, tuy nhiên tỷ lệ này có khác nhau giữa các
nước. Các nước phát triển Tây Âu và Bắc Mỹ giữ khoảng hơn 40% tổng dự trữ toàn
cầu. Các nước đang phát triển nắm giữ khoảng 5% tổng dự trữ.
Sản xuất vàng
Quy trình sản xuất vàng có thể được phân thành 6 giai đoạn chính: Tìm mỏ có
quặng, xâm nhập mỏ quặng, tách quặng ra bằng khai thác và đào mỏ, vận chuyển các
chất liệu tách được từ bề mặt mỏ đến nhà máy chế biến, chế biến và tinh luyện. Các
11
nhà máy tinh luyện vàng được đặt chủ yếu gần các trung tâm khai thác lớn hoặc ở
các trung tâm chế biến kim loại quý trên khắp thế giới. Tính theo công suất, trung
12
cự sự bất ổn và giúp chống lại các nguy cơ tiềm ẩn của nền kinh tế. Đầu tư vàng có
thể dưới nhiều hình thức, thậm chí nhà đầu tư có thể kết hợp 2 hay nhiều hình thức
để tăng tính linh hoạt. Sự tăng trưởng trong nhu cầu đầu tư đã tạo ra nhiều đổi mới
trong các hình thức đầu tư vàng, hiện có nhiều hình thức đầu tư phù hợp vơi các cá
nhân tổ chức. Các nhà đầu tư có thể giao dịch vàng trên các sàn giao dịch kỳ hạn và
quyền chọn, bảo đảm, đầu tư vào các quỹ đầu tư chỉ số ETF, hay đầu tư vào chứng
khoán các nhà sản xuất…
Nhu cầu sử dụng trong công nghệ, công nghiệp
Việc sử dụng vàng trong các ngành điện tử, công nghiệp, y tế và nha khoa
chiếm khoảng 12% tổng nhu cầu, trung bình hàng năm tiêu thụ khoảng 450 tấn vàng
giai đoạn năm 2007-2011. Vàng có tính dẫn nhiệt và điện cao, ăn mòn ít, sử dụng tốt
trong các ngành công nghiệp điện tử. Trong y tế, vàng được sử dụng lâu đời, từ thời
Ai Cập cổ đại. Ngày nay, vàng được ứng dụng nhiều nhờ thuộc tính tương thích sinh
học, khả năng chống vi khuẩn và chống ăn mòn. Những nghiên cứu gần đầy phát
hiện thêm nhiều ứng dụng thực tế mới cho vàng như làm chất xúc tác trong các tế
bào nhiên liệu, xử lý hóa chất, kiểm soát ô nhiễm môi trường. Khả năng sử dụng các
hạt nanno vàng trong các thiết bị điện tử và phương pháp điều trị ung thư hứa hẹn
nhiều thành công.
1.2.4. Các chủ thể tham gia thị trường vàng
Ngân hàng trung ương
Vàng có vai trò quan trọng trong dự trữ ngoại hối quốc gia. NHTW là một
thành viên lớn nhất của thị trường vàng thực hiện giao dịch nhằm quản lý danh
mục dự trữ ngoại hối, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, đồng thời giám sát
hoạt động của thị trường và thu lợi nhuận.
đã phát triển thêm hình thức giao dịch gián tiếp thông qua các nhà môi giới vàng.
Những nhà môi giới là người trung gian giúp các nhà đầu tư thực hiện các giao
dịch. Nhà môi giới thu thập hầu hết các lệnh đặt mua và lệnh đặt bán từ các nhà
đầu tư khác nhau, trên cơ sở đó cung cấp giá đặt mua và giá đặt bán một cách
nhanh, rộng khắp. Do vậy, giao dịch thông qua nhà môi giới giúp giảm thời gian
và chi phí tìm kiếm, nhưng phải mất đi một khoản tiền trả phí môi giới khiến cho
chênh lệch giá mua và giá bán thu hẹp lại.
1.2.5. Các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản
Nghiệp vụ mua bán giao ngay
Đây là nghiệp vụ mua bán vàng được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là sau
hai ngày kể từ thời điểm thỏa thuận. Các nghiệp vụ này được thực hiện trên cơ sở
giá vàng giao ngay, giá được xác định và có giá trị tại thời điểm giao dịch. Tuy
nhiên, nếu số lượng giao dịch lớn thì cần có thời gian để thực hiện bút toán và
thanh toán tiền vàng
Nghiệp vụ mua bán kỳ hạn
Đây là nghiệp vụ mua bán vàng được thực hiện sau một thời gian nhất định
kể từ khi thỏa thuận tại một mức giá xác định. Hợp đồng mua bán vàng kỳ hạn
được sử dụng để cố định giá mua hoặc bán vàng theo một mức giá cố định đã biết
trước mà không cần tính đến sự biến động của giá vàng trên thị trường. Mục đích
của các hợp đồng kì hạn là nhằm bảo hiểm rủi ro về giá của tài sản khi nhà đầu tư
có tài sản trong tương lai.
1.3.1. Cách thức quản lý của các Ngân hàng Trung Ương
Các NHTW giữ một vai trò quan trọng trong ảnh hưởng đối với giá vàng.
Xu hướng các NHTW ngày càng gia tăng dự trữ bằng vàng thay thế USD. Việc
bán Đôla, mua vàng làm thị trường vào biến động theo và đẩy giá vàng lên cao.
Trong trường hợp ngược lại, nền kinh tế ổn định, dự trữ về vàng có xu hướng
thấp hơn dự trữ về các đồng ngoại tệ, bởi dự trữ về vàng đem lại lãi suất thấp hơn
so với ngoại tệ. Trong khi đó, thị trường ngoại hối phát triển mang lại cơ hội được
nhiều lợi nhuận hơn, và tiền mặt ngoại tệ có thể sử dụng ngay trong giao dịch
thương mại quốc tế. Lúc này, thị trường vàng trở nên kém hấp dẫn và giá vàng
15
sẽ giảm xuống. Ngoài việc mua bán vàng, các NHTW còn tác động đến hoạt động
cho vay, hoán đổi và các công cụ phái sinh khác. Hầu hết các NHTW đều phải báo
cáo lượng vàng dự trữ họ đang nắm giữ cho Quỹ Tiền Tệ Thế Giới IMF vào cuối
mỗi tháng. Tuy nhiên có một số NHTW mà lượng vàng họ nắm giữ không dùng
vào mục đích dự trữ nên sẽ không báo cáo cho IMF.
1.3.2. Lạm phát
Giá vàng thường tỷ lệ thuận với sự gia tăng của lạm phát. Trong thời kỳ lạm
phát cao, tiền giấy mất giá người ta có xu hướng đầu tư vào vàng để giữ giá trị tài
sản, vàng là tài sản hữu hiệu để tích trữ và giá trị không tùy thuộc vào sức khỏe bất
kỳ nền kinh tế nào. Vàng là công cụ tài chính hữu hiệu để phòng ngừa lạm phát.
Thông thường để đối phó với tình trạng lạm phát tăng cao, thị trường có khuynh
hướng mua vàng với kỳ vọng giá trị tài sản sẽ không bị giảm sút .Các quỹ đầu tư,
đầu cơ cũng mua vàng với mục tiêu là sử dụng vàng như một phần tài sản đảm bảo
giá trị quỹ trong trường hợp lạm phát cao hay kinh tế suy thoái, giá chứng khoán
sụt giảm….
1.3.3.
bởi vì giá vàng và USD Index thường có biến động khác nhau và vàng là loại tài
sản biến động lớn hơn. Vì vậy, chúng ta phải chuẩn hóa cả 2 loại để có thể có so
sánh tỷ lệ phần trăm di chuyển trong mỗi khoảng thời gian 6 tháng.
Hình 1.1: Sự thay đổi phần trăm mỗi 6 tháng của giá vàng và chỉ số USD Index
Nguồn: Bloomberg, LP; Tính toán của Treesdale Partner. Diễn biến trong quá khứ
không chỉ ra kết quả trong tương ai.
1.3.4.
iá dầu th
Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng được nhắc đến nhiều nhất
là giá dầu thô. Mối quan hệ này khá phức tạp vì dầu và vàng là hai loại hàng hóa rất
đặc biệt. Dầu là đầu vào quan trọng cho sản xuất, khi giá dầu thay đổi, toàn bộ nền
kinh tế thế giới bị ảnh hưởng, ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn định kinh tế của nhiều
quốc gia.
17
Với vai trò là một nguyên liệu đầu vào, khi giá dầu tăng mạnh trước tiên sẽ
ảnh hưởng đến ngành vận tải, tiếp đến nó sẽ đẩy giá thực phẩm các loại hàng hóa
khác tăng, vàng cũng không ngoại lệ . Giá dầu tăng mạnh có thể là nhân tố chi phí
đẩy, dẫn đến tình trạng lạm phát. Khi tình trạng lạm phát gia tăng sẽ làm cho nền
kinh tế bất ổn, lúc này người dân và giới đầu tư phải tìm đến vàng với vai trò là
công cụ bảo toàn giá trị hay một tài sản đầu tư an toàn. Yếu tố cầu tăng sẽ là mãi
lực đẩy giá vàng lên cao.
Ngược lại, khi giá dầu giảm xuống một mức hợp lý, khi đó chi phí sản xuất
giảm, sẽ thúc đẩy sản xuất trong nước đi lên. Lợi nhuận sẽ xuất hiện từ kênh đầu tư
sản xuất trực tiếp, đầu tư trên thị trường vốn phục vụ sản xuất được cao hơn, làm
Vì thế nguồn cung vàng được coi là nguồn cung ở trên mặt đất. Do đó, với sự phát
hiện một mỏ vàng mới cũng sẽ không ảnh hưởng nhiều đến giá vàng mà chủ yếu
giá vàng chịu tác động từ phía cầu nhiều hơn. Khi cầu tăng làm cho giá vàng tăng
và ngược lại.
1.3.6. Tình hình chính trị
Khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, chiến tranh, khủng bố, thiên
tai…: là các yếu tố tác động mạnh tới giá vàng. Vàng là nơi trú ẩn an toàn khi có
bất ổn xảy ra. Đó là bởi khi tình hình chính trị thế giới trở nên bất ổn thì thị trường
tài chính cũng bắt đầu hỗn loạn. Trong bối cảnh đó, nhà đầu tư sẽ tìm kênh trú ẩn
an toàn cho tài sản của mình. Và lịch sử đã chứng minh, vàng là loại phương
tiện cất trữ rất hiệu quả, đồng thời cũng là phương án đầu tư an toàn trong những
quãng thời gian bất ổn về kinh tế xã hội.
1.3.7. Các mức giá tâm lý và kĩ thuật
Các mức giá tâm lý và kỹ thuật ảnh hưởng lớn tới hành động mua và bán
trên thị trường vàng. Hiện tại, mức giá “1000” đang là mức tâm lý vô cùng quan
trọng.
Các mức cản tâm lý khác đã tác động nhiều đến giá vàng trong quá khứ như:
500, 600, 700, …
Các mức cản kỹ thuật do các chuyên gia khuyến cáo như 950, 992, ..hoặc
các mức giá đã xuất hiện trong quá khứ như 732, 850, …tác động rất lớn đến các
lệnh mua , bán hoặc dừng lỗ, chốt lời.
1.3.8. Các nhân tố khác
Sự can thiệp của chính quyền vào quá trình khai thác khoáng sản cũng ảnh
hưởng lớn tới giá vàng. Chính sách của quản lý tài chính của các chính quyển cũng
là một yếu tố cần xem xét khi đầu tư vàng.
tỷ lệ thuận.
1.4. Vai trò của NHTW trong việc quản lý thị trƣờng vàng
1.4.1. Vai trò quản lý vĩ m của NHTW
1.4.1.1. Ngân hàng Trung Ương à ngân hàng độc quyền phát hành tiền.
Với vai trò phát hành độc quyền tiền trên toàn quốc như phương tiện trao
đổi, ngân hàng trung ương trực tiếp quản lý cung ứng tiền mặt việc quản lý mức độ
cung ứng tiền mặt là công cụ thứ nhất giúp ngân hàng trung ương điều tiết mức
cung ứng tiền tổng hợp. Với việc độc quyền phát hành tiền thì chính phủ có thể
điều chỉnh được lượng tiền lưu thông để có thể kiểm soát lạm phát và từ đó có thể
tăng giảm lãi suất để tăng lượng cầu hay giảm lượng cầu ứng với mỗi thời điểm của
nền kinh tế.
1.4.1.2. Ngân hàng trung ương à chủ ngân hàng của hệ thống các ngân
hàng trung gian.
Ngân hàng trung ương à trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù trừ của
các ngân hàng trung gian.
Vì các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính trong nước đều phải mở
tài khoản và kí quỹ tại ngân hàng trung ương nên hoàn toàn thực hiện được vai trò