TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
======
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI
HỌC Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 2015
Họ và tên sinh viên
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
1.1. Một số vấn đề cơ bản về giáo dục đại học .................................................5
1.1.1. Khái niệm về giáo dục đại học ...............................................................5
1.1.2. Vai trò của giáo dục đại học ...................................................................6
1.1.3. Đặc điểm của giáo dục đại học .............................................................10
1.1.4.
Các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học ...............................13
1.2. Nội dung hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 và tác động của nó
đến giáo dục đại học ............................................................................................14
1.2.1. Giới thiệu về cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 ...................................14
1.2.2. Hành động của Việt Nam & ASEAN để thực hiện hội nhập cộng đồng
kinh tế ASEAN 2015 .........................................................................................16
1.2.3. Tác động của việc hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 đến giáo
dục đại học .........................................................................................................17
1.3. Kinh nghiệm giáo dục đại học của một số nước ASEAN .......................18
1.3.1. Singapore ..............................................................................................18
1.3.2. Thái Lan ................................................................................................20
1.3.3. Malaysia ................................................................................................21
CHƯƠNG 2. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở
VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP AEC 2015 ......................................23
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
2.3.4. Khó khăn về đảm bảm công bằng trong xã hội ....................................40
2.3.5. Khả năng giá trị văn hóa, giáo dục của dân tộc bị hòa tan ...................40
2.4. Đánh giá chung về GDĐH Việt Nam .......................................................41
2.4.1. Thành tựu ..............................................................................................41
2.4.2. Hạn chế .................................................................................................43
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
2015
...........................................................................................................48
3.1. Quan điểm, mục tiêu phát triển giáo dục đại học Việt Nam .................48
3.1.1. Quan điểm phát triển giáo dục đại học Việt Nam ................................48
3.1.2. Mục tiêu phát triển giáo dục đại học Việt Nam ....................................51
3.2. Một số giải pháp phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam trong thời kì
hội nhập AEC 2015 ..............................................................................................54
3.2.1. Nhóm giải pháp đối với Chính phủ, các tổ chức Nhà nước .................54
3.2.2. Nhóm giải pháp đối với cơ sở giáo dục đào tạo đại học .......................59
3.2.3. Nhóm giải pháp đối với sinh viên .........................................................63
KẾT LUẬN ..............................................................................................................66
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................68
Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CĐ
Cao đẳng
ĐH
Đại học
GATS
General Agreement on Trade in Services
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
NCKH
Nghiên cứu khoa học
SV
Sinh viên
WTO
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
cung cấp dịch vụ của GATS/WTO ...........................................................................50
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xu hướng hội nhập đang diễn ra với tốc độ không ngừng và trở thành một xu
thế tất yếu khách quan trên thế giới. Hòa mình xu thế chung đó, Việt Nam đã tham
gia rất nhiều tổ chức kinh tế thế giới và khu vực như ASEAN, WTO, AFTA…và
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
2
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu:
Quá trình hội nhập AEC 2015 đang ở thời kì đầu và mọi thứ dường như khá
mới mẻ. Vì thế, việc gia nhập AEC 2015 không những mang lại những cơ hội mà
còn đặt ra nhiều khó khăn cho giáo dục đại học Việt Nam. Sinh viên sau khi tốt
nghiệp có thể làm việc ở bất kì quốc gia nào tham gia AEC mà không có rào cản
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
nào cả. Nghĩa là, sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp có thể sang các nước
-
Để xuất một số giải pháp để đẩy nhanh quá trình hội nhập của giáo dục đại
học Việt Nam thời gian tới
2
3
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu sự tác động của việc hội nhập cộng đồng
kinh tế chung ASEAN 2015 đến giáo dục đại học. Từ đó phân tích những cơ hội và
thách thức của giáo dục đại học Việt Nam trong thời kì hội nhập.
Giới hạn về không gian: Các nước ASEAN, các tổ chức giáo dục hàng đầu
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
Chương 2. Cơ hội và thách thức đối với giáo dục đại học ở Việt Nam
trong thời kì hội nhập cộng đồng kinh tế chung ASEAN 2015
Chương 3. Một số giải pháp phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong
thời kì hội nhập cộng đồng kinh tế chung ASEAN 2015
Qua đề tài, dưới góc độ của một sinh viên, tác giả hi vọng sẽ đóng góp một
phần nhỏ vào sự nghiệp phát triển giáo dục đại học nước nhà để sánh vai với nền
giáo dục đại học tiên tiến trên khu vực và thế giới. Mặc dù đã cố gắng hết sức
nhưng do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn cũng như giới hạn về thời
gian, khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Nội dung của khóa
luận có thể tồn tại những hạn chế trong cách nhìn nhận một số khía cạnh của vấn đề
và có thể chưa sâu sắc. Do đó, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các
thầy cô để có cơ hội hoàn thiện hơn.
3
4
Nhân đây, tác giả xin cảm ơn khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế trường
Đại học Ngoại Thương đã tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp. Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS. Đào Thị Thu
Giang – Giảng viên hướng dẫn – đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tác giả
trong quá trình hình thành ý tưởng cũng như triển khai thực hiện đề tài này.
UU
FFTT
1.1. Một số vấn đề cơ bản về giáo dục đại học
1.1.1. Khái niệm về giáo dục đại học
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
Có thể nói cụm từ “giáo dục đại học” (higher education) hiện nay vẫn đang
còn được hiểu theo nhiều ý kiến trái chiều khác nhau với nhiều sự giải thích cũng
như hệ thống tư tưởng không giống nhau. Trong khuôn khổ một khóa luận, tác giả
xin được giới hạn ở việc tìm hiểu những khái niệm mang tính tổng quát nhất dưới
góc độ xã hội, các văn bản pháp luật và các tổ chức quốc tế hàng đầu.
Quan niệm về GDĐH được tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên
Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 (sửa đổi năm 2009) quy định GDĐH là
một cấp học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo các trình độ cao đẳng,
đại học, thạc sỹ và tiến sỹ (điều 38) với mục tiêu “đào tạo người học có phẩm chất
chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân đân, có kiến thức và năng lực thực hành
nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.” (khoản 1, điều 39)
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
Dưới góc độ kinh tế học thì WTO coi giáo dục trong đó có GDĐH là một
trong mười hai ngành dịch vụ mang tính thương mại thuộc phạm vi điều chỉnh của
hiệp định GATS. Theo đó, từng bước tự do hóa thương mại dịch vụ này trên cơ sở
7
cập nhật các kiến thức và kỹ năng theo nhu cầu xã hội. Ủy ban Kothari (1996) nêu
ra những vai trò sau đây của GDĐH:
Thứ nhất: GDĐH giúp tìm kiếm và trau dồi tri thức mới
Có thể nói đây là một quá trình tìm kiếm và trau dồi không ngừng nghỉ và
không chùn bước. Trong quá trình tìm kiếm chân lý, thường xuyên xem xét lại
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
những ý nghĩa của những kiến thức và niềm tin cũ dưới sự ảnh hưởng của những
nhu cầu mới và khám phá mới. Thêm vào đó, GDĐH còn nắm giữ vai trò lãnh đạo
-
Các khóa đào tạo kĩ năng và chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế xã
hội.
7
8
-
Mở rộng cơ hội giáo dục cho tất cả các cá nhân.
-
Thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua việc quốc tế hóa các hoạt động nghiên
cứu, công nghệ, tạo mạng lưới liên kết, và tạo điều kiện cho sự luân chuyển tự do
của những ý tưởng khoa học cũng như của chính các nhà nghiên cứu (UNESCO,
1966).
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
nâng cao.
Thứ hai, GDĐH góp phần vào quá trình chuyển giao và đổi mới khoa học
công nghệ nâng cao năng suất lao động, tạo tiền đề cho tăng trưởng kinh tế. Trường
đại học là nơi tập trung toàn bộ các ngành khoa học, thực hiện chức năng là trung
tâm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ mới cũng như
công nghệ mũi nhọn. Nói khác đi, nó chính là cái nôi của những phát minh trong
lĩnh vực kỹ thuật – công nghệ thông qua quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc
và lâu dài của đội ngũ giảng viên và sinh viên ưu tú. Điều này có ý nghĩa quyết định
trong sự tăng trưởng kinh tế dài hạn, nâng cao năng suất và chất lượng lao động.
8
9
Những nghiên cứu mũi nhọn đã và đang đóng góp một phần không thể thiếu trong
công cuộc cách mạng phát triển nhân loại.
Thứ ba, GDĐH góp phần cải thiện thu nhập, mức sống của người dân, giúp
xóa đói giảm nghèo, làm giảm khoảng cách giàu nghèo và thực hiện tốt công bằng
xã hội. Thông qua việc trang bị cho người học những kiến thức và kĩ năng cần thiết
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
Higher Education (2000, tr. 7). Lớn hơn tổng sản phẩm trong nước của tất cả 25
quốc gia trên thế giới. Hãy tưởng tượng tác dụng đòn bẩy kinh tế nếu trường đại học
là mô hình bền vững bằng cách mua các sản phẩm và dịch vụ bền vững và lợi ích sẽ
lớn hơn rất nhiều nếu họ hợp tác chặt chẽ với cộng đồng địa phương.
Bằng cách sử dụng các giảng viên và sinh viên thực hiện các nghiên cứu như
một phần không thể thiếu của các kinh nghiệm học tập sẽ tăng cường giáo dục của
chính họ và thúc đẩy mối quan hệ với các cộng đồng địa phương và đến các hệ sinh
thái mà họ là một phần trong đó. Hơn nữa, có một phong trào mạnh mẽ giữa các
trường cao đẳng và đại học, chủ tịch, phó trưởng khoa, giảng viên và các khoa thúc
9
10
đẩy sự tham gia của mang tính công dân và dân chủ lý tưởng thông qua hoạt động
mà khoa và sinh viên tham gia (Compact Campus, 1999).
Xã hội luôn cần những bộ óc sáng tạo, những con người ưu tú để tạo ra
những phát minh có giá trị và những người lao động giỏi có trình độ để ứng dụng
những tiến bộ đó vào sản xuất và đời sống. Ở tầm vĩ mô, GDĐH tạo ra những nhà
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
và thực hiện cam kết của các thành viên. Các phân ngành được sắp xếp theo thứ tự
như sau:
10
11
Bảng 1.1 Giáo dục đại học trong Hệ thống phân loại dịch vụ của WTO
Ngành
Tên gọi
Phân ngành
Dịch vụ giáo dục
5
Giáo dục tiểu học
A
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
cấp học thấp hơn như giáo dục tiểu học, giáo dục trung học. Nó bao gồm đào tạo
trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sỹ và trình độ tiến sỹ (theo điều 1
trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục 2009).
Là một loại hình dịch vụ, GDĐH cũng mang những đặc điểm chung giống
tất cả các dịch vụ tiêu dùng khác, bao gồm: tính vô hình, tính không đồng nhất và
khó xác định chất lượng, tính không thể tách rời và tính không được lưu trữ. Ngoài
ra, những đặc điểm khác biệt mà các dịch vụ khác không có như sau (Hoàng Văn
Châu, 2011, tr.19-24):
Thứ nhất: Chất lượng dịch vụ không đồng nhất
Chất lượng dịch vụ GDĐH phụ thuộc nhiều yếu tố khác như trình độ năng
lực của người dạy và người học, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy,
môi trường giảng dạy...Ngay khi cùng một cơ sở giáo dục thì cũng có sự khác nhau
giữa dịch vụ do những người trực tiếp cung cấp khác nhau bởi lẽ các giảng viên có
trình độ học vấn và kinh nghiệm giảng dạy không như nhau. Tùy thuộc vào cách
truyền đạt hoặc tâm lý giảng dạy mà cũng một chương trình đào tạo nhưng được
11
12
cung cấp trong một khoảng thời gian khác nhau thì chất lượng cũng khác nhau. Do
đó có thể nói rằng GDĐH có tính không đồng nhất.
Thứ hai: Tính xã hội
muốn và khả năng thanh toán
Khác với các hàng hóa và dịch vụ thông thường, nếu cảm thấy cần và đủ khả
năng chi trả, người tiêu dùng có thể chọn sản phẩm mà mình muốn. Tuy nhiên, đối
với dịch vụ GDĐH, việc tiêu thụ sản phẩm còn tùy thuộc vào khả năng và trình độ
của người học. Hầu hết các trường đại học đều có tiêu chuẩn và yêu cầu đối với học
viên được nhận vào trường, chẳng hạn như những cuộc thi tuyển sinh được tổ chức
hàng năm, để đảm bảo chất lượng đồng đều và việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng
đạt được kết quả như mong muốn.
Thứ tư: Ngoại ứng tích cực
Đối với hàng hóa hay dịch vụ thông thường khác, việc tiêu dùng chúng chỉ
mang lại lợi ích, sự thỏa mãn cho người sử dụng. Tuy nhiên, dịch vụ GDĐH không
chỉ đem lại lợi ích cho chính cá nhân sử dụng dịch vụ mà còn cho cả những người
xung quanh và cả xã hội. Lợi ích cho cá nhân là lợi ích của bản thân học viên sau
khi hoàn thành khóa học có thể có được kiến thức và kỹ năng làm việc, có thể tìm
được việc làm tốt, thu nhập cao. Bên cạnh đó, sau khi hoàn thành GDĐH các cá
nhân có trình độ và tay nghề tốt sẽ có những phát minh, cải tiến nâng cao năng suất
lao động cho xã hội. Hơn nữa, một nước có nền kinh tế phát triển, nền tảng tri thức
12
13
của người dân cao thì các tệ nạn xã hội cũng được giảm bớt; việc thực hiện các
Thứ sau: Tính hướng nghiệp
Điểm khác biệt rõ nét giữa GDĐH và các phân ngành dịch vụ giáo dục cấp
dưới GDĐH bắt đầu mục đích hướng nghiệp cho học viên. Nếu như ở giáo dục phổ
thông (giáo dục tiểu học và giáo dục trung học) việc giảng dạy nhằm mục tiêu cung
cấp cho học sinh những kiến thức nền tảng và hướng đến giáo dục toàn diện thì cấp
GDĐH, việc đào tạo đã đi chuyên sâu nhằm cung cấp cho học viên những hiểu biết
về các mảng ngành nghề chuyên biệt hoặc nhằm nâng cao tay nghề ở một lĩnh vực
nhất định, chuẩn bị tốt nhất cho công việc sau này khi học viên tham gia thị trường
lao động. GDĐH là nơi đào tạo lao động có trình độ chuyên môn mà sau khi ra
trường có thể có bằng cấp và làm việc như một kiến trúc sư, một bác sĩ, một giáo
viên... thực thụ.
1.1.4. Các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học
Sự quản lý chất lượng bên trong cơ sở GDĐH là sự khởi đầu cho quá trình
đảm bảo chất lượng. Theo GS.TS.Phạm Thành Nghị, Học viện Khoa học xã hội và
Viện Tâm lý học thuộc Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam , hệ thống đảm bảo
chất lượng bao gồm ba yếu tố đó là sự quản lý chất lượng bên trong, tự đánh giá và
đánh giá ngoài. Cụ thể là sự quản lý chất lượng bên trong liên quan đến SV và
giảng viên, phương pháp quản lý giáo dục của nhà trường. Từ đó mỗi cá nhân trong
tập thể nhà trường tự đánh giá để đảm bảo chất lượng giáo dục. Cả đánh giá trong
13
14
và đánh giá ngoài đều quan tâm đến chương trình đào tạo, phương pháp đào t ạo,
Tiêu chuẩn 5 : Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên
Tiêu chuẩn 6: Người học
Tiêu chuẩn 7: Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công
nghệ.
Tiêu chuẩn 8: Hoạt động hợp tác quốc tế
Tiêu chuẩn 9: Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác
Tiêu chuẩn 10: Tài chính và quản lý tài chính
1.2. Nội dung hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 và tác động của nó đến
giáo dục đại học
1.2.1. Giới thiệu về cộng đồng kinh tế ASEAN 2015
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập từ năm 1967, hiện
tại bao gồm 10 nước: Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar,
Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
Hiệp hội ASEAN dựa trên 03 trụ cột chính: an ninh chính trị; kinh tế; văn
hóa xã hội. Kinh nghiệm thực tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm
1997/1998, cộng thêm sự nổi lên của các nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đã
khiến các nước ASEAN quyết tâm tạo ra một cộng đồng hợp tác kinh tế mạnh mẽ,
gắn kết hơn.
14
vào cuối năm 2015.
Năm 2007 thông qua Kế hoạch AEC 2007 đặt ra các thời hạn rõ ràng cụ thể
cho các nước thành viên ASEAN thực hiện để hình thành AEC, với mục đích hợp
nhất các quốc gia thành viên thành một cộng đồng kinh tế chung vào ngày
31/12/2015.
Không giống như EU, ASEAN không tạo lập các tổ chức quản lý trung ương
như Ủy ban Liên minh châu Âu EU hay Ngân hàng Trung ương châu Âu mà sẽ tập
trung vào việc xóa bỏ các rào cản kinh doanh, thương mại.
Kế hoạch AEC bao gồm 04 trụ cột (04 nội dung then chốt):
Tạo lập một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất
Tạo lập một khu vực kinh tế cạnh tranh cao
Thúc đẩy sự phát triển kinh tế công bằng
Xây dựng một khu vực hội nhập hoàn toàn với nền kinh tế toàn cầu
Tóm lại, AEC sẽ biến ASEAN thành một khu vực với sự tự do dịch chuyển
hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có kỹ năng và tự do dịch chuyển dòng vốn.
Liên quan đến việc tạo lập một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, các
quốc gia thành viên ASEAN đang tập trung thực hiện giảm và tiến tới xóa bỏ các
rào cản để đảm bảo dòng chảy hàng hóa, dịch vụ và vốn trở nên tự do giữa các nước
ASEAN. Đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính, các quốc gia thành viên đã cam kết tự
do hóa mạnh mẽ, xóa bỏ các hạn chế trong các ngành ngân hàng, bảo hiểm và các
thị trường vốn vào năm 2015. Điều này bao hàm tự do hóa 4 phương thức cung cấp
kinh tế ASEAN 2015
Hiện nay, trong khối ASEAN, Việt Nam được đánh giá là một trong bốn
thành viên có tỷ lệ hoàn thành tốt nhất các cam kết trong Lộ trình tổng thể thực hiện
AEC.
Việt Nam đã tham gia hợp tác một cách toàn diện với các nước ASEAN từ các lĩnh
vực truyền thống như: thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, nông nghiệp, giao
thông vận tải, viễn thông, cho đến các lĩnh vực mới như: bảo hộ sở hữu trí tuệ,
chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng… Cho tới nay, Việt Nam đã giảm
thuế nhập khẩu cho hơn 10 nghìn dòng thuế xuống mức 0 - 5% theo ATIGA, chiếm
khoảng 98% số dòng thuế trong biểu thuế.
Về thương mại hàng hoá, ASEAN đã sửa đổi, bổ bổ sung các hiệp định kinh
tế ASEAN, trong đó Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) được ký kết
ngày 26/02/2009 tại Thái Lan. Nghị định thư về sửa đổi một số Hiệp định kinh tế
ASEAN liên quan đến thương mại hàng hóa đã được ký ngày 08/3/2013 trong dịp
Hội nghị AEM Retreat lần thứ 19 tại Hà Nội. Các nước cũng đang trong quá trình
thảo luận về các vấn đề hàng rào phi thuế quan trong ASEAN và 7 nước thành viên
(gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam)
đã thử nghiệm thành công kết nối cổng ASW trong cơ chế hải quan một cửa
ASEAN.
Về thương mại dịch vụ, ASEAN đã có những thỏa thuận giúp các bên sớm
hoàn tất các thủ tục cần thiết để Hiệp định ASEAN về di chuyển thể nhân có hiệu
lực, trên cơ sở đó tạo thuận lợi cho việc di chuyển của các cá nhân tham gia vào các
i iCC
HHoo
nhằm thúc đẩy ASEAN thành một khu vực thu hút đầu tư thống nhất.
Về quyền sở hữu trí tuệ, việc thực thi kế hoạch làm việc với 28 sáng kiến và
5 mục tiêu chiến lược trong Kế hoạch hành động IPR ASEAN 2012 - 2015 đã giúp
nâng cao tính pháp lý và chính sách trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến
sở hữu trí tuệ.
1.2.3. Tác động của việc hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 đến giáo dục
đại học
Hội nhập AEC dẫn đến việc đầu tư cho GDĐH tăng lên. Điều này được lý
giải bởi hai nguyên nhân cơ bản. Thứ nhất là việc gia nhập AEC dẫn đến việc cạnh
tranh giáo dục nói chung là GDĐH nói riêng của các nước trong khu vực ASEAN
tăng lên. Do đó, để có chỗ đứng về giáo dục trong khu vực thì việc đầu tư cho
GDĐH là việc phải ưu tiên hàng đầu. Thứ hai là việc mở cửa nền kinh tế khiến nhu
cầu lao động có trình độ kỹ năng của các doanh nghiệp, tổ chức, công ty tăng theo
mà một trong những vai trò to lớn của GDĐH là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao đảm bảo nhu cầu xã hội.
Thêm vào đó, gia nhập AEC 2015 còn tác động đến cơ cấu đào tạo đội ngũ
lao động của nền kinh tế. Sẽ có sự thay đổi mạnh trong chương trình đào tạo để đáp
ứng kịp thời quá trình hội nhập. Một sự thay đổi có thể dễ dàng dự đoán được đó là
nhu cầu sử dụng ngôn ngữ của các nước trong khu vực như tiếng Thái, tiếng Lào...
sẽ tăng lên do đó sẽ xuất hiện nhiều hơn các chuyên ngành đào tạo ngôn ngữ khu
vực. Dự báo, việc làm sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong các lĩnh vực xây dựng, giao
SSuu
aann
i iCC
HHoo
thật là sau khi hội nhập, tất cả các trung tâm GDĐH có thể được đánh giá trên một
cơ sở chung; hy vọng là điều này sẽ cung cấp cho các trường đại học ở các nước mà
giáo dục là không đạt tiêu chuẩn động lực hơn để cải thiện, để đáp ứng nhu cầu giáo
dục toàn cộng đồng và ít nhất đạt tiêu chuẩn trung bình trong khu vực. Chúng ta hãy
cùng hi vọng rằng một tự do hoá Đông Nam Á sẽ có khả năng thu hút một số lượng
lớn các SV có năng lực cao từ các châu lục khác như châu Âu và châu Mỹ.
1.3. Kinh nghiệm giáo dục đại học của một số nước ASEAN
1.3.1. Singapore
Singapore có hệ thống giáo dục rất phát triển bậc nhất Đông Nam Á. Nó
được hình thành trên cơ sở “đặc biệt và riêng biệt” về sở thích và năng khiếu của
mỗi SV. Hệ thống giáo dục ở đây đã áp dụng cách tiếp cận linh hoạt để giúp SV
phát triển hết tài năng của bản thân. Để có được nền GDĐH tiên tiến như hiện nay,
Singapore đã có những chính sách GDĐH đúng đắn và đáng học tập.
Xác định đổi mới GDĐH là tất yếu
Trong những thập kỉ gần đây, GDĐH tại Quốc đảo đã có những chuyển biến,
đổi mới quan trọng. Chế độ “bảo lãnh” bao gồm các chính sách khuyến khích, thúc
đẩy và bảo vệ đối với GDĐH đã giúp hỗ trợ đắc lực trong quá trình đổi mới. Chế độ
này cho phép các trường ĐH được nhận một khoản phí nghiên cứu để thực hiện
những dự án và đề tài mới trong lĩnh vực mà họ có khả năng đảm nhận.
Thêm vào đó, việc thành công trong quá trình đổi mới GDĐH còn thể hiện ở
việc lựa chọn nhà lãnh đạo giáo dục. Họ được bầu cử theo khóa và chỉ được tái bổ
i iCC
HHoo
hai là chuyển giao toàn bộ quá trình quản lý cho người tiền nhiệm, ba là đào tạo ra
người có đủ năng lực để tiếp quản công việc này. Nghĩa là có thể thuê hẳn phó hiệu
trưởng hay chủ nhiệm khoa nhưng phải thỏa thuận rằng sau bao nhiêu năm thì sẽ có
phó hiệu trưởng hay chủ nhiệm khoa nội địa đạt chuẩn quốc tế. Điều này có thể lý
giải là công nghệ giáo dục là công nghệ khó chuyển tải nhất nó không rõ ràng như
những công nghệ khác vì thế cần có sự tương tác trực tiếp giữa người với người,
không thể chuyển giao theo cách thông thường.
Một điểm đáng chú ý nữa là ở để làm giảng viên đại học ở Singapore thì phải
đạt được hai chuẩn đó là chuẩn nghề nghiệp và chuẩn đào tạo. Nghĩa là giảng viên
không những là người có kiến thức chuyên sâu mà còn là những người có khả năng
làm việc thực tiến xuất sắc. Họ cần phải luôn cập nhật tình hình để giúp SV nắm
được những thứ mới nhất tránh lãng phí thời gian đào tạo lại.
Đầu tư GDĐH một cách tập trung
Có thể thấy rằng nhu cầu đầu tư thì rất lớn nhưng ngân sách lại có hạn. Vì
thế, các nhà quản lý GDĐH Singapore quyết định đầu tư một cách tập trung, phải
chọn từng điểm để đổi mới triệt để thành điểm đột phá lan tỏa ra cả hệ thống. Hằng
năm, chính phủ Singapore dành ra 20% NSNN để đầu tư vào giáo dục – chiếm tỷ
trọng đầu tư lớn nhất trong tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, họ không đầu tư một cách
dàn trải mà chỉ tập trung vào vài trường. Chính phủ đã tập trung đầu tư vào những
trường trọng điểm để lên đạt chuẩn quốc tế với mục tiêu cho từng giai đoạn ví dụ
như năm 1965 để đáp ứng nhu cầu nhân lực đa ngành chất lượng cao thì Chính phủ
đã tập trung đầu tư vào trường ĐH Quốc gia Singapore, năm 1985 để đào tạo nhân
lực khoa học kỹ thuật giúp chiếm ưu thế trong công nghệ mới thì Chính phủ đã đầu
HHoo
SV định hướng nghề nghiệp mỗi cách rõ ràng đồng thời còn hỗ trợ SV trong quá
trình thực tập cũng như giúp đỡ SV tìm kiếm việc làm. Hơn nữa, bản thân các
trường ĐH luôn thiết lập những mối quan hệ với các doanh nghiệp, đào tạo SV theo
nhu cầu của các doanh nghiệp nên giảm được đáng kể tình trạng SV ra trường
không có việc làm.
1.3.2. Thái Lan
Mặc dù gần đây, giáo dục của Thái Lan không được đánh gia cao nhưng họ
đã và đang chuẩn bị khá bài bản cho hệ thống giáo dục để sẵn sàng gia nhập AEC
2015 với mục tiêu trở thành trung tâm giáo dục hàng đầu cộng đồng ASEAN.
Khuyến khích phát triển hệ thống trường tư
Thái Lan là nước duy nhất trong các nước Đông Nam Á có các cơ sở GDĐH
được đặt ở gần như khắp mọi nơi trên đất nước, không những góp phần mở cửa giáo
dục đưa SV quốc tế đến đây học mà còn mang lại nguồn thu cho NSNN. Chỉ có hai
tỉnh là không có cơ sở đào tạo GDĐH. Điều này làm tăng vai trò của khu vực tư
nhân trong GDĐH. Hệ thống trường tư ở Thái Lan có điểm đặc biệt là họ không cấp
bằng trực tiếp cho SV mà thông qua một chương trình liên kết với các trường đại
học nước ngoài - những trường có xếp hạng cao. Điều này cho phép SV được học
chương trình tiên tiến của các quốc gia phát triển với mức chi phí thấp.
Đẩy mạnh liên kết giữa các cơ sở đào tạo và xã hội
Ở Thái Lan có hơn 600 cơ sở GDĐH và 130 cơ sở cấp bằng khắp đất nước.
Việc liên kết giữa các trường cho phép những trường bình thường có thể học hỏi
những kinh nghiệm của những trường đi đầu trong nước. Từ đó tạo ra những