ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN DUY GIANG
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHÈ SHAN TUYẾT
TẠI HUYỆN SÌN HỒ - TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN DUY GIANG
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHÈ SHAN TUYẾT
TẠI HUYỆN SÌN HỒ - TỈNH LAI CHÂU
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số ngành: 8 62 01 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN NGỌC NGOẠN
THÁI NGUYÊN - 2018
i
quan tâm, dìu
dắ t và tậ n tình giúp đ ỡ củ a GS.TS. Trầ n Ngọ c Ngoạ n.
Tôi xin trân tr ọ ng cả m ơ n các thầ y, cô giáo trong
khoa Phát tri ể n Nông thôn, tr ư ờ ng Đ ạ i họ c Nông lâm
Thái Nguyên đ ã trự c tiế p giả ng dạ y, trang b ị
kiế n thứ c bổ
nhữ ng
ích, nhữ ng góp ý chân thành giúp tôi trong
suố t quá trình họ c.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân và bạn bè đã
tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày
tháng năm 2018
HỌC VIÊN
Nguyễn Duy Giang
iii
iv
v
2.2.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp ................................................. 27
2.2.3. Phương pháp thống kê mô tả................................................................. 29
2.2.4. Phương pháp thống kê so sánh............................................................. 29
2.2.5. Phương pháp ma trận SWTO ................................................................ 29
2.2.6. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ................................................ 29
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu ................................................................... 30
2.3.1. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh mức độ sản xuất ........................................ 30
2.3.2. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh ..................... 30
2.3.3. Những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất chè Shan tuyết.................. 31
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................ 33
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu ..... 33
3.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 33
3.1.2. Điều kiện Kinh tế - Văn hóa - Xã hội ................................................... 38
3.1.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật............................................... 39
3.2. Tình hình phát triển sản xuất chè ............................................................. 44
3.2.1. Tình hình phát triển sản xuất chè của huyện Sìn Hồ ............................ 44
3.2.2. Kênh tiêu thụ chè ở huyện Sìn Hồ ........................................................ 47
3.2.3. Thực trạng về chế biến chè ................................................................... 49
3.3. Thực trạng sản xuất chè ở những hộ điều tra ........................................... 52
3.3.1. Đặc điểm chung của các hộ điều tra ..................................................... 52
3.3.2. Tình hình sản xuất của các hộ trồng chè ............................................... 54
3.3.3. Phân tích hiệu quả sản xuất chè tại các hộ điều tra ............................... 57
3.3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cây chè trên địa bàn huyện
Sìn Hồ .............................................................................................................. 57
3.4. Tác động của việc phát triển cây chè đến các vấn đề xã hội, an ninhchính trị ........................................................................................................... 59
3.5. Những thuận lợi và khó khăn trong sự phát triển chè ở huyện Sìn Hồ ... 60
3.5.1. Thuận lợi ............................................................................................... 61
DT
Diện tích
DTNT
Dân tộc nội trú
ĐVT
Đơn vị tính
GDTX
Giáo dục thường xuyên
HĐND
Hội đồng nhân dân
HQKT
Hiệu quả kinh tế
KD
Kinh doanh
KHKT
THPT
Trung học phổ thông
UBND
Ủy ban nhân dân
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Cơ cấu giống chè ở huyện Sìn Hồ qua 3 năm 2015 - 2017 ......... 45
Bảng 3.2. Số hộ trồng chè của huyện qua 3 năm 2015 - 2017 ..................... 46
Bảng 3.3.
Diện tích trồng chè của huyện Sìn Hồ qua 3 năm 2015 - 2017 ....... 46
Bảng 3.4. Đặc điểm của các hộ điều tra ....................................................... 52
Bảng 3.5. Diện tích đất sản xuất của các hộ điều tra ................................... 53
Bảng 3.6. Chi phí cho sản xuất 1ha chè của các hộ năm 2018 ................... 55
Bảng 3.7. Kết quả sản xuất chè trên 1ha của các hộ điều tra năm 2018 ...... 56
Bảng 3.8. Hiệu quả sản xuất chè của các hộ điều tra ................................... 57
Bảng 3.9.
Chỉ tiêu đánh giá khó khăn trong sản xuất chè của người dân
huyện Sìn Hồ................................................................................. 61
chưa được chú trọng, cây trồng sinh trưởng phát triển kém, không cho thu
hoạch. Trình độ tiếp nhận công nghệ của người dân còn thấp và chưa đồng đều.
Công tác thu mua, chế biến và tiêu thụ chè còn bấp bênh, thiếu sự ổn định.
2
Xuất phát từ thực tiễn nói trên tôi lựa chọn đề tài “Giải pháp phát
triển chè Shan tuyết tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu” để nghiên cứu với
hy vọng góp phần vào việc thực hiện thành công đề án Tái cơ cấu nông
nghiệp của huyện.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá được thực trạng phát triển sản xuất chè ở huyện
Sìn Hồ, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè Shan tuyết
trên địa bàn nghiên cứu.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển sản xuất
chè Shan tuyết.
- Phân tích, đánh giá được thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng
đến phát triển chè Shan tuyết tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè shan tuyết tại
huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là: nghiên cứu phát triển cây chè Shan tại huyện
Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
Đối tượng điều tra: Hộ nông dân sản xuất chè tại huyện Sìn Hồ, tỉnh
Lai Châu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
1.1.1. Cây chè với giá trị kinh tế
a) Chè là một thức uống lý tưởng và có nhiều giá trị về dược liệu,
phòng và chữa được nhiều loại bệnh
Trung Quốc là nước đầu tiên chế biến chè để uống sau đó nhờ những
đặc tính tốt của nó, chè trở thành thức uống phổ biến trên thế giới. Ngày nay
chè được phổ biến rộng rãi hơn cả cà phê, rượu vang và ca-cao. Tác dụng
chữa bệnh và các chất dinh dưỡng của nước chè đã được các nhà khoa học
xác định như sau:
Cafein và một số hợp chất ancaloit khác có trong chè là những chất có khả
năng kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não làm cho tinh thần
minh mẫn, tăng cường sự hoạt động của các cơ trong cơ thể, nâng cao năng lực
làm việc, giảm bớt mệt mỏi sau những lúc làm việc căng thẳng [3].
Hỗn hợp tanin chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh đường ruột
như tả, lỵ, thương hàn. Nhiều thầy thuốc còn dùng nước chè, đặc biệt là chè
xanh để chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày. Theo xác
nhận của M.N. Zaprometop thì hiện nay chưa tìm ra được chất nào lại có tác
dụng làm vững chắc các mao mạch tốt như catechin của cây chè. Dựa vào số
liệu của Viện nghiên cứu y học Leningrat, khi điều trị các bệnh cao huyết áp
và neprit mạch thì hiệu quả thu được có triển vọng rất tốt, nếu như người bệnh
được dùng catechin chè theo liều lượng 150mg trong một ngày. E.K.
Mgaloblisvili và các cộng tác viên đã xác định ảnh hưởng tích cực của nước
chè xanh tới tình trạng chức năng của hệ thống tim mạch, sự cản các mao
5
mạch, trao đổi muối - nước, tình trạng của chức năng hô hấp ngoại vi, sự trao
đổi vitamin C, trạng thái chức năng của hệ thống điều tiết máu.v.v...
Chè còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin A, B1, B2, B6, vitamin
PP và nhiều nhất là vitamin C.
mới đạt năng suất khoảng 12 tấn búp tươi/ha tương đương với 2,5 tấn khô/ha
và giá xuất khẩu đạt mức 3.000 USD/tấn thì cây chè hoàn toàn có thể trở
thành cây xoá đói giảm nghèo.
c) Ở nước ta, chè là một trong những cây có giá trị xuất khẩu cao
Căn cứ vào năng suất bình quân đã đạt được năm 1969 của khu vực
nông trường quốc doanh (42,39 tạ búp/ha), nếu chỉ đứng về mặt xuất khẩu mà
xét thì một ha chè của khu vực nông trường quốc doanh so với một số cây
công nghiệp dài ngày của cùng khu vực này bằng hơn 5 lần một ha cà phê,
gần 10 lần một ha sả. Nếu năng suất chè đạt 100 tạ búp/ha thì xuất khẩu có
thể thu được đủ để nhập 46 tạ phân hóa học, hoặc 3,1 tạ bông, hoặc 25 - 30 tạ
bột mì. Như vậy một ha chè có năng suất 100 tạ búp có giá trị xuất khẩu
ngang với 200 tấn than. Chè là sản phẩm có thị trường quốc tế ổn định, rộng
lớn và ngày càng được mở rộng. Năm 2017, sản lượng chè xuất khẩu của
nước ta là 130,9 nghìn tấn, trị giá 212,7 triệu đô .
d) Phát triển sản xuất chè giúp sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên và
tạo công ăn việc làm cho lao động nông thôn
Để sử dụng nguồn tài nguyên phong phú và nguồn lao động dồi dào,
thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp với điều kiện không tranh chấp với diện
tích trồng cây lương thực, chè là một trong những cây có ưu thế nhất.
Hiện nay nước ta mới sử dụng khoảng 50% đất nông nghiệp. Nguồn lao
động của nước ta dồi dào nhưng phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng đồng
bằng, chè là một loại cây yêu cầu một lượng lao động sống rất lớn. Do đó việc phát
triển mạnh cây chè ở vùng trung du và miền núi là một biện pháp có hiệu lực, vừa
để sử dụng hợp lý vừa để phân bố đồng đều nguồn lao động dồi dào trong phạm vi
cả nước. Việc phát triển mạnh cây chè ở vùng trung du và miền núi dẫn tới việc
phân bổ các xí nghiệp công nghiệp chế biến chè hiện đại ngay ở những vùng đó, do
đó làm cho việc phân bố công nghiệp được đồng đều và làm cho vùng trung du và
miền núi mau chóng đuổi kịp miền xuôi về kinh tế và văn hóa.
8
của đất nước, cải thiện nâng cao mức sống của người dân. Xét ở tầm vĩ mô thì
xuất khẩu chè cũng như xuất khẩu các mặt hàng khác nó là cơ sở để đẩy mạnh
lưu thông buôn bán giữa các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần
tạo sự cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong tổng thể nền kinh tế, đồng
thời nó tạo nên mối quan hệ bình đẳng, thân thiện, cùng có lợi giữa các nước
xuất khẩu, nhập khẩu trên thế giới [16].
Trực tiếp đối với các hộ sản xuất kinh doanh sản phẩm chè thì cây chè
mang lại thu nhập ổn định, cao hơn nhiều so với nhiều loại cây trồng khác,
bởi cây chè có tuổi thọ cao có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm có
giá trị cao và đều đặn trong khoảng 30 - 40 năm, do vậy nó sẽ tạo ra một
nguồn thu đều đặn lâu dài và có giá trị kinh tế cao, giúp các hộ cải thiện đời
sống, nâng cao mức sống của người dân. Mặt khác, cây chè là loại cây trồng
thích hợp với các vùng đất miền núi và trung du, những vùng đất cao, khô
thoáng. Hơn thế nữa nó còn gắn bó keo sơn ngay cả với những vùng đất đồi
dốc khô cằn sỏi đá. Chính vì vậy trồng chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế
cao, mà nó còn góp phần bảo vệ môi trường, phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo
ra cảnh quan đẹp. Kết hợp trồng chè với trồng rừng sẽ tạo nên những vành
đai chống xói mòn, rửa trôi, giữ lại lớp màu mỡ cho đất, cải tạo đất tăng độ
phì cho đất bạc màu, góp phần bảo vệ môi trường phát triển một nền nông
nghiệp bền vững.
Ngoài ra trồng chè và sản xuất chè còn cần một lực lượng lao động lớn,
cho nên nó sẽ tạo ta công ăn việc làm cho nhiều lao động nhàn rỗi ở nông
thôn, tạo điều kiện cho việc thu hút và sử dụng lao động, điều hoà lao động
được hợp lý hơn. Đồng thời nó còn tạo ra một lượng của cải vật chất lớn cho xã
hội, tăng thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống của khu vực nông thôn,
tạo sự thay đổi lớn cho bộ mặt các vùng nông thôn, nhất là trong giai đoạn đổi
+ Thời tiết khí hậu
Độ ẩm, nhiệt độ và lượng mưa là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến cây
chè. Để cây chè phát triển tốt thì nhiệt độ bình quân là 22 - 280C, lượng mưa
trung bình là 1500 - 2000mm/năm nhưng phải phân đều cho các tháng, ẩm độ
10
không khí từ 80 - 85%, ẩm độ đất từ 70 - 80%, cây chè là cây ưa sáng tán xạ,
thời gian chiếu sáng trung bình 9 giờ/ngày [3].
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và
phát triển của cây chè. Cây chè ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ không khí
dưới 100C hay trên 400C. Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa
xuân bắt đầu phát triển trở lại. Thời vụ thu hoạch chè dài, ngắn, sớm, muộn
tuỳ thuộc chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ. Tuy nhiên các giống chè khác nhau
có mức độ chống chịu khác nhau.
Cây chè vốn là cây thích nghi sinh thái vùng cận nhiệt đới bóng râm,
ẩm ướt. Lúc nhỏ cây cần ít ánh sáng, một đặc điểm cũng cần lưu ý là các
giống chè lá nhỏ ưu sáng hơn các giống chè lá to.
+ Ánh sáng
Các điều kiện ánh sáng khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến cấu tạo lá
và thành phần hóa học trong lá chè. Do cường độ ánh sáng có ảnh hưởng tới sinh
trưởng và chất lượng cho nên việc điều tiết cường độ ánh sáng có thể làm tăng
nắng suất, chất lượng chè rõ rệt. Nếu giảm cường độ ánh sáng 30% thì năng suất
chè đạt 34% và giảm cường độ ánh sáng 50% thì năng suất chè đạt cao nhất. Tuy
nhiên khi giảm cường độ ánh sáng trên 50% thì năng suất chè bắt đầu giảm.
+ Không khí
Không khí rất cần cho sự sống của thực vật. Hàm lượng CO 2 trong
không khí khoảng 0,03%, song chỉ cần có một biến động nhỏ cũng ảnh hưởng
rất lớn đến quang hợp. Chè là một cây ưa bóng râm, cường độ quang hợp
bị giảm xuống. Nếu bón đạm với hàm lượng quá cao hoặc bón các loại phân
theo tỷ lệ không hợp lý sẽ làm giảm chất Tanin hoà tan của chè, làm tăng hợp
chất Nitơ dẫn tới giảm chất lượng chè [13]. Vì vậy bón phân cần phải bón
đúng cách, đúng lúc, đúng đối tượng và cần cân đối các yếu tố dinh dưỡng
chủ yếu như: Đạm, lân, kali sao cho phù hợp.
- Che nắng: Theo các chuyên gia về chè, nếu thời tiết khô hạn kéo dài
thì cây bóng mát được trồng 100 - 130 cây/ha che phủ được 20 - 30% diện
tích thì độ ẩm sẽ cao [13]. Qua nghiên cứu về sự tác động của ánh sáng tới
12
cây chè và quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ. Vì vậy mà các
nước như Ấn Độ, Nhật Bản thường áp dụng trồng cây che bóng mát cho cây
chè, nên năng suất và sản lượng chè thường cao.
- Mật độ gieo trồng: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng
chè, mật độ trồng chè phụ thuộc vào các giống, độ dốc, điều kiện cơ giới hoá.
Nhìn chung tuỳ điều kiện giống, đất đai, cơ giới hoá, khả năng đầu tư mà có
khoảng cách mật độ khác nhau. Nhưng xu thế hiện nay là khai thác sản lượng
theo không gian do đó có thể tăng cường mật độ một cách hợp lý cho sản
lượng sớm, cao, nhanh khép tán, chống xói mòn và cỏ dại trong nương chè,
qua thực tế cho thấy nếu mật độ vườn đảm bảo từ 13000 đến 17000 cây/ha thì
sẽ cho năng suất và chất lượng tốt, chi phí phải đầu tư tính cho một sản phẩm
là đạt mức thấp nhất.
- Đốn chè: Đốn chè cũng ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng và chất
lượng chè, đốn chè là cắt đi đỉnh ngọn của các cành chè, ức chế ưu thế sinh
trưởng đỉnh và kích thích các trồi ngủ, trồi nách mọc thành lá, cành non mới
tạo ra một bộ khung tán khoẻ mạnh, làm cho cây luôn ở trạng thái sinh trưởng
dinh dưỡng hạn chế sự ra hoa, kết quả có lợi cho việc ra lá, kích thích sinh
trưởng búp non, tăng mật độ búp và trọng lượng búp, tạo bộ khung tán to có
khoảng 1 tháng [3].
- Vận chuyển và bảo quản nguyên liệu
Nguyên liệu chè sau khi thu hái có thể được đưa thẳng vào chế biến, có
thể để một thời gian mới đưa vào chế biến, khi thu hoạch không để dập nát
búp chè, dụng cụ đựng phải thông thoáng và kích thước vừa phải, sau khi hái
không để quá 10 tiếng.
- Công nghệ chế biến
Tuỳ thuộc vào mục đích của phương án sản phẩm mà ta có các quy
trình công nghệ chế biến phù hợp với từng nguyên liệu đầu vào, nhìn chung
quá trình chế biến gồm hai giai đoạn: sơ chế và tinh chế nguyên thành phẩm.
14
Hiện nay trong điều kiện công nghệ sinh học điện khí hoá và tự động hoá
một yêu cầu được đặt ra cho công nghệ chế biến chè là ngày càng giảm tỷ trọng
chi phí chế biến trong sản phẩm và nâng cao chất lượng chế biến. Như vậy sản
phẩm chè của ta mới đủ điều kiện để đầu tư trở lại phát triển ngành chè.
* Điều kiện xã hội
Sản xuất chè chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện kinh tế xã hội, cụ thể là
cơ sở hạ tầng, hệ thống đường giao thông đi lại, hệ thống điện, hệ thống tưới
tiêu, khâu tiêu thụ sản phẩm và đặc biệt là xây dựng các nhà máy, các cơ sở
hiện đại chế biến chè.
Các vấn đề nhân công lao động, các chính sách đầu tư khuyến khích
phát triển, các chính sách vĩ mô của Nhà nước cho cây chè đều có tác động
đến sự phát triển của cây chè. Ngoài ra kinh nghiệm và truyền thống sản xuất
còn ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của sản phẩm chè. Nếu các vấn đề trên
được giải quyết triệt để sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất chè phát triển.
+ Thị trường
Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến sự tồn tại của cơ
+ Yếu tố lao động
Nhân tố lao động luôn là yếu tố quyết định trong việc sản xuất, trong sản
xuất chè cũng vậy, yếu tố con người mang lại năng suất, sản lượng, chất lượng
cho chè. Để sản phẩm chè sản xuất ra có năng suất cao, chất lượng tốt ngoài việc
ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật ra, cần phải có lao động có trình độ
kỹ thuật, tay nghề cao. Trong hai khâu: sản xuất - chế biến, nhân tố con người
đều quyết định đến sản lượng và chất lượng của chè. Trong khâu sản xuất, từ
việc chọn giống, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch tất cả đều phụ thuộc vào
nhân tố lao động. Lao động có tay nghề sẽ tạo ra năng suất và chất lượng cao.
+ Hệ thống cơ sở chế biến chè
Sau khi hái được chè nguyên liệu (chè búp tươi) người dân sẽ tiến hành
chế biến, từ chè búp tươi tạo ra chè thành phẩm, sau đó mới đem đi tiêu thụ
trên thị trường.
Ngoài yêu cầu về chất lượng chè nguyên liệu, thì công tác tổ chức, chế
biến, quy trình chế biến cũng ảnh hưởng tới chất lượng chè thành phẩm. Hạch
toán được giá thành từ đó quyết định được mức giá bán trên thị trường sao