Tóm tắt luận án tiến sĩ luật học hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 54

BẢN TÓM TẮT
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC

PHẠM THỊ KIM ANH

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ
YTNNG Ở VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
THỰC TIỄN

Chuyên ngành: LUẬT QUỐC TẾ Mã số: 9.38.01.08

Người hướng dẫn khoa học:

1. TS Vũ Đức Long
2. TS Bùi Xuân Nhự


Hà Nội, 2017
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Luật Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Đức Long

Phản biện 1: PGS. TS Đoàn Năng
Phản biện 2: TS Nguyễn Công Khanh
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Thị Lan

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường họp tại
Trường Đại học Luật Hà Nội vào hồi ……… ngày ……. tháng …..
năm 2019.


2


nhiệm thực thi Công ước La Hay số 33 và chuẩn bị cho việc sửa đổi, bổ sung
Luật nuôi con nuôi.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực
tiễn hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có YTNNg ở nước ta, nhằm đề
xuất giải pháp hoàn thiện.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận án có nhiệm vụ làm sáng tỏ
cơ sở lý luận chung pháp luật về nuôi con nuôi; thực trạng hoàn thiện pháp
luật và ảnh hưởng tới thực tiễn giải quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài; xác
định nhu cầu hoàn thiện pháp luật để đề xuất các giải pháp cụ thể.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về
nuôi con nuôi và thực trạng hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có YTNNg
trên lãnh thổ Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ trước đến nay, có mở
rộng nghiên cứu quy định pháp luật của một số nước có liên quan.
Luận án nghiên cứu nội dung và làm rõ thực trạng pháp luật và hoàn
thiện pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi có YTNNg ở nước ta, trong
bối cảnh chung trên thế giới và mối quan hệ hợp tác về nuôi con nuôi giữa
Việt Nam với các nước khác.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách và Nghị quyết của Đảng về
hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh sử dụng các phương
pháp phân tích và bình luận, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, rà soát, tổng
hợp và phân tích thực tiễn và khảo cứu báo cáo, tài liệu hội nghị, hội thảo
3


tài liệu tham khảo và phần phụ lục. Nội dung luận án được bố cục thành bốn
chương.
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và
những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án.
- Chương 2: Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có
YTNNg ở Việt Nam và tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật.
- Chương 3: Thực trạng hoàn thiện pháp luật và tác động ảnh hưởng
tới thực tiễn giải quyết việc nuôi con nuôi có YTNNg ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay.
- Chương 4: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con
nuôi có YTNNg ở nước ta trong tình hình mời.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án sẽ góp phần bổ sung tri thức khoa học pháp lý quốc tế về nuôi
con nuôi có YTNNg, tiếp cận vấn đề hoàn thiện pháp luật theo quan điểm hệ
thống pháp luật bao gồm hệ thống nguồn luật, hệ thống thiết chế, thông tin
và nguồn nhân lực. Kết quả nghiên cứu của luận án có tính thực tiễn và ứng
dụng cao để tháo gỡ những vướng mắc khó khăn trong việc giải quyết nuôi
con nuôi có YTNNg khi đề xuất thay đổi cơ chế tài chính.
Luận án xác định được căn cứ khoa học và thực tiễn trong việc hoàn
thiện hệ thống nguồn luật về nuôi con nuôi có YTNNg thông qua đề xuất
tiếp tục nội luật hóa Công ước La Hay số 33; tăng cường chức năng nhiệm
vụ của Cơ quan trung ương về nuôi con nuôi quốc tế, xây dựng chức danh

5


cán bộ công tác xã hội về nuôi con nuôi và bổ sung chế định tổ chức con
nuôi trong nước.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN

Từ những hạn chế, luận án cần tiếp tục đưa ra một số luận điểm và luận
cứ cơ bản nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về nuôi con nuôi có YTNNg
ở Việt Nam: cần tiếp tục nội luật hóa những nguyên tắc jus cogens của Công
ước La Hay số 33; bổ sung một số QPPL còn thiếu như hệ quả của việc nuôi
con nuôi có YTNNg, xác định phạm vi áp dụng Công ước La Hay số 33; tổ
chức được chỉ định, chuyển đổi hình thức nuôi con nuôi; đề xuất chính sách,
cơ chế phù hợp để bảo đảm thi hành pháp luật, đặc biệt về cơ chế tài chính
và cơ chế liên thông giữa nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có
YTNNg; tăng cường chức năng, nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu thực
hiện nhiệm vụ đặt ra.
Kết luận Chương 1
Các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước đã góp phần quan
trọng trong việc đánh giá thực trạng pháp luật về nuôi con nuôi có YTNNg
ở nước ta, đặc biệt trong những giai đoạn trước khi Luật nuôi con nuôi và
Công ước La Hay 1993 có hiệu lực thi hành ở nước ta. Tuy nhiên, kết quả
nghiên cứu còn tản mạn. Công trình nghiên cứu nước ngoài được xây dựng
bằng tiếng nước ngoài (tiếng Anh và tiếng Pháp) nên việc khai thác và tiếp
thu những khuyến nghị hoàn thiện pháp luật chưa đạtcó hiệu quả cao.
CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON

7


NUÔI CÓ YTNNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ
HOÀN THIỆN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1. Cơ sở lý luận chung pháp luật về nuôi con nuôi
2.1.1. Nuôi con nuôi là một sự kiện hộ tịch
Hành vi cho nhận con nuôi trong nước và nước ngoài phải được cơ
quan đăng ký hộ tịch công nhận và ghi vào Sổ hộ tịch mới có giá trị pháp lý.
Quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm

cơ bản, mang tính bắt buộc chung (jus cogens) của Công ước La Hay số 33
và Công ước Quyền trẻ em. Pháp luật của nước ta đều quy định nguyên tắc
lợi ích tốt nhất của trẻ em. Việc đánh giá lợi ích tốt nhất của trẻ em rất khác
nhau, phụ thuộc vào quan điểm và chính sách của các nước. Suy cho cùng,
lợi ích tốt nhất của trẻ em là một công cụ pháp lý để các cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền quyết định việc nuôi con nuôi một cách phù hợp nhất để bảo
đảm lợi ích về tinh thần, vật chất và sức khỏe của trẻ em được nhận làm con
nuôi. Theo Công ước La Hay số 33, ba biện pháp bảo đảm thực hiện nguyên
tắc lợi ích tốt nhất là xác nhận trẻ em đủ điều kiện cho làm con nuôi, lưu giữ
các thông tin về trẻ em và tìm gia đình phù hợp cho trẻ em. Các biện pháp
này cũng đã được nội luật hóa trong quy định của Luật nuôi con nuôi.
Nguyên tắc tự nguyện là một trong những nguyên tắc cơ bản theo đó
việc nuôi con nuôi phải bảo đảm sự tự nguyện giữa người nhận con nuôi,
cha mẹ đẻ và trẻ em được nhận làm con nuôi khi đạt một độ tuổi nhất định
và tuân thủ thủ tục lấy ý kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

9


2.1.4. Đối tượng trẻ em được cho làm con nuôi
Tuân thủ quy định về đối tượng trẻ em trong giải quyết việc nuôi con
nuôi có ý nghĩa quan trọng nhằm ngăn chặn và phòng ngừa các trường hợp
mua bán, bắt cóc và đánh tráo trẻ em để cho làm con nuôi trong nước và
nước ngoài. Người được nhận làm con nuôi dưới 16 tuổi, trừ trường hợp là
con riêng, cháu ruột của người nhận con nuôi thì có thể từ 16 tuổi đến dưới
18 tuổi. Quy định này được ngầm hiểu là người thành niên không phải là đối
tượng được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi
ở nước ta.
Nhà nước khuyến khích nhận trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi hoặc trẻ
em có HCĐB khác làm con nuôi. Quy định này không có tính chất hạn chế

luật hiện hành về hộ tịch, con nuôi không được đăng ký lại khai sinh khi thay
đổi họ, tên và phần khai về cha mẹ đã được đăng ký. Điều này ảnh hưởng
tới yếu tố bí mật trong quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, đồng thời thể
hiện quan hệ huyết thống tồn tại song song với quan hệ nuôi con nuôi. Về
thừa kế, con nuôi có quyền thừa kế như con đẻ. Việc nuôi con nuôi trong
nước có thể bị chấm dứt theo các căn cứ theo quy định của pháp luật. Do
Luật nuôi con nuôi không quy định tiêu chí chấm dứt việc nuôi con nuôi vì
lợi ích của con nuôi nên trong những trường hợp bất khả kháng hoặc vì một
lý do nghiêm trọng có ảnh hưởng tới lợi ích của con nuôi thì việc nuôi con
nuôi không thể được chấm dứt.
Trong bối cảnh di cư quốc tế ngày càng phát triển, việc nuôi con nuôi
trong nước có ảnh hưởng của YTNNg như việc người nhận con nuôi có hai
quốc tịch trong đó có quốc tịch Việt Nam có thể được hưởng chế định nuôi
con nuôi trong nước khi họ sinh sống lâu dài ở Việt Nam, hoặc nhận con
nuôi trước khi xuất cảnh ra nước ngoài sinh sống và làm việc. Trong những
11


trường hợp đó, con nuôi có thể không được nhập cảnh vào nước ngoài cùng
cha mẹ nuôi, hoặc không có tư cách là con nuôi theo quy định của pháp luật
của nước nơi cha mẹ nuôi sẽ sinh sống, con nuôi không được hưởng quyền
cư trú cùng cha mẹ nuôi tại nước đó hoặc không có quốc tịch nước ngoài của
cha mẹ nuôi. Trong xu hướng hiện nay, công nhận xuyên biên giới việc nuôi
con nuôi trong nước là một vấn đề chưa có văn bản quốc tế nào điều chỉnh.
2.2.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về nuôi con nuôi
có YTNNg
Nuôi con nuôi có YTNNg là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở
Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước
ngoài. Khái niệm này được cụ thể thành các trường hợp nuôi con nuôi có

nếu là con riêng của vợ/chồng được cha dượng hoặc mẹ kế là người nước
ngoài nhận làm con nuôi nhằm mục đích đoàn tụ gia đình hoặc là cháu được
cô, cậu, dì, chú, bác ruột ở nước ngoài nhận làm con nuôi. Theo Công ước
La Hay số 33, đối tượng trẻ em sống ở gia đình được người họ hàng, thân
thích nhận làm con nuôi cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước.
Pháp luật của nước ta không có quy định về việc xác định luật áp dụng
về hệ quả của việc nuôi con nuôi có YTNNg, trừ vấn đề quốc tịch của con
nuôi. Do đó, khi trẻ em Việt Nam được giải quyết cho làm con nuôi ở nước
ngoài thì hệ quả được xác định theo pháp luật của Nước nhận. Nước nhận sẽ
căn cứ vào quy định pháp luật của nước mình để công nhận quyết định cho
trẻ em Việt Nam được cho làm con nuôi ở nước ngoài, tùy thuộc vào việc
cắt đứt hay duy trì quan hệ pháp lý đã tồn tại trước đây giữa cha mẹ đẻ và trẻ
em được cho làm con nuôi. Theo Công ước La Hay số 33, trong trường hợp
pháp luật của Nước nhận cho phép thì chuyển đổi từ hình thức con nuôi đơn
giản sang con nuôi trọn vẹn.
13


2.3. Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về nuôi
con nuôi có YTNNg ở nước ta
Mức độ hoàn thiện của pháp luật về nuôi con nuôi có YTNNg dựa trên
ba tiêu chí, bao gồm: tính phù hợp với Công ước La Hay số 33, phòng ngừa
việc mua bán trẻ em để cho làm con nuôi vì mục đích trục lợi và bảo đảm
quyền của các bên có liên quan.
Công ước La Hay số 33 quy định những nguyên tắc mang tính bắt buộc
chung (jus cogens) trong hoạt động cho nhận con nuôi quốc tế, xây dựng thủ
tục nuôi con nuôi quốc tế chung giữa các nước thành viên, để tạo ra những
bảo đảm pháp lý quan trọng trong việc di chuyển trẻ em từ nước này sang
nước khác nhằm mục đích cho làm con nuôi, ngăn ngừa việc mua bán trẻ em
để cho làm con nuôi vì mục đích trục lợi.

thống pháp luật về nuôi con nuôi có YTNNg hoàn thiện phải bảo đảm tính
phù hợp với Công ước La Hay 1993; bảo đảm quyền của các chủ thể có liên
quan bao gồm người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ, người giám hộ và trẻ em
được nhận làm con nuôi; đồng thời ngăn chặn và phòng ngừa việc mua bán,
bắt cóc trẻ em và thu lợi bất chính từ hoạt động cho nhận con nuôi quốc tế.
CHƯƠNG 3- THỰC TRẠNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ TÁC
ĐỘNG ẢNH HƯỞNG TỚI THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC NUÔI
CON NUÔI CÓ YTNNG Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
3.1. Thực trạng nội luật hóa Công ước La Hay số 33 trong hệ
thống pháp luật về nuôi con nuôi có YTNNg ở nước ta
3.1.1. Phạm vi điều chỉnh việc nuôi con nuôi có YTNNg
Xác định phạm vi điều chỉnh việc nuôi con nuôi có YTNNg theo
15


Công ước La Hay số 33 là căn cứ pháp lý để xác định thẩm quyền và thủ tục
giải quyết, bảo đảm Công ước được tuân thủ. Việc đưa trẻ em từ Nước gốc
sang Nước nhận là trách nhiệm của các nước thành viên được quy định tại
Điều 19 Công ước và chỉ được thực hiện sau khi đáp ứng các điều kiện theo
Điều 17c) Công ước. Phạm vi áp dụng Công ước La Hay số 33 chưa được
nội luật hóa vì vào thời điểm ban hành Luật nuôi con nuôi, nước ta chưa là
thành viên của Công ước. Trong thực tiễn, Công ước không được áp dụng
đối với những nước thành viên không thiết lập quan hệ hợp tác về nuôi con
nuôi quốc tế với Việt Nam theo Công ước La Hay số 33. Do đó, việc xác
định phạm vi áp dụng Công ước La Hay số 33 càng trở nên khó khăn và việc
xác định thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài cũng không thống
nhất. Trong một số trường hợp, Công ước La Hay số 33 không được áp dụng
do quy phạm xung đột pháp luật của một số nước, cụ thể như đối tượng người
nước ngoài sinh sống và làm việc ở Việt Nam từ trên 01 năm trở lên nhận

có YTNNg. Cách hiểu thứ nhất, hệ quả của việc nuôi con nuôi có YTNNg
được xác định theo hệ quả của việc nuôi con nuôi trong nước quy định tại
Điều 24 Luật nuôi con nuôi. Theo pháp luật của một số nước như Đức và
Thụy Sỹ thì, trong một số trường hợp hệ quả của việc nuôi con nuôi có
YTNNg chỉ được công nhận theo phạm vi hệ quả theo quy định pháp luật
của nước ra quyết định, khi việc nuôi con nuôi được thực hiện ngoài thủ tục
Công ước La Hay số 33. Cách hiểu thứ hai, hệ quả của việc nuôi con nuôi có
YTNNg được xác định theo pháp luật của nước nơi thường trú của con nuôi.
Song cách hiểu này không được quy định tại Luật nuôi con nuôi.
Theo khuôn khổ Công ước La Hay số 33, quyết định cho nhận trẻ em
Việt Nam làm con nuôi ở nước ngoài sẽ được đương nhiên công nhận theo
hình thức con nuôi trọn vẹn nếu như việc nuôi con nuôi cắt đứt mối quan hệ
pháp lý tồn tại trước đó và không thể hủy ngang; nếu không, quyết định nuôi
17


con nuôi sẽ có hệ quả theo hình thức con nuôi đơn giản, nhưng có thể được
chuyển đổi sang hình thức con nuôi trọn vẹn nếu pháp luật của Nước nhận
cho phép. Ngoài khuôn khổ Công ước La Hay số 33, điều kiện để được công
nhận việc nuôi con nuôi phụ thuộc vào pháp luật của nước nơi người nhận
con nuôi thường trú và điều kiện công nhận hết sức chặt chẽ. Trường hợp
việc nuôi con nuôi có YTNNg không được công nhận ở nước ngoài dẫn đến
hiện tượng nhận con nuôi “khập khiễng” (limping adoption); điều này không
bảo đảm lợi ích của trẻ em được nhận làm con nuôi.
Trường hợp trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi theo hình thức
con nuôi trọn vẹn, con nuôi sẽ có họ, tên mới theo họ và tên của cha mẹ nuôi
nước ngoài, sẽ có quốc tịch nước ngoài, các quyền lợi và nghĩa vụ được xác
định theo quy định của pháp luật nước ngoài; trẻ em có đầy đủ các quyền
như con đẻ của người nhận con nuôi và được pháp luật của Nước nhận bảo
vệ. Trường hợp được xác định theo hình thức nuôi con nuôi đơn giản, trẻ em

tiếp nhận và sử dụng các khoản tặng cho sau khi nhận con nuôi, dẫn đến sự
quan ngại của các nước có quan hệ hợp tác với Việt Nam. Các cơ quan, tổ
chức tham gia giải quyết việc nuôi con nuôi có YTNNg chưa sử dụng được
các khoản kinh phí giải quyết việc nuôi con nuôi có YTNNg. Do đó, còn có
nhiều địa phương không quan tâm tới việc triển khai thi hành Luật nuôi con
nuôi và Công ước La Hay số 33. Các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương
và trung ương còn gặp nhiều khó khăn về đội ngũ cán bộ giải quyết việc nuôi
con nuôi, nhận thức của các CSND chưa theo kịp với những thay đổi của
quy định pháp luật và trình tự thủ tục giải quyết theo Công ước.

19


3.3. Ảnh hưởng của thực trạng hoàn thiện pháp luật tới thực tiễn
giải quyết việc nuôi con nuôi có YTNNg ở Việt Nam
Trong thời gian qua nổi lên vấn đề lẩn tránh áp dụng Công ước La
Hay số 33 đối với việc một số các trường hợp trẻ em Việt Nam là du học
sinh ở nước ngoài được nhận làm con nuôi trong nước theo pháp luật của
nước sở tại, và một số người Việt Nam định cư ở nước ngoài về nước nhận
con nuôi trong nước. Các cơ quan có thẩm quyền còn gặp khó khăn trong
việc ghi chú việc nuôi con nuôi được thực hiện ở nước ngoài cho những
trường hợp đó.
Đa số trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được giải quyết
cho làm con nuôi ở nước ngoài vì thủ tục giải quyết được rút gọn, được miễn
thời gian tìm gia đình thay thế trong nước và miễn chi phí giải quyết việc
nuôi con nuôi nước ngoài. Các nước có quan hệ hợp tác với Việt Nam quan
ngại vấn đề này.
Hiện nay do cơ chế tài chính về lệ phí và chi phí giải quyết việc nuôi
con nuôi có YTNNg bị ách tắc ở địa phương nên các cơ quan có thẩm quyền
ở địa phương không có kinh phí giải quyết việc nuôi con nuôi có YTNNg,

4.1. Quan niệm, ý nghĩa và nhu cầu hoàn thiện pháp luật về nuôi
con nuôi có YTNNg ở nước ta
4.1.1. Quan niệm hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có
YTNNg
Quan niệm hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có YTNNg là việc
sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới các quy định pháp luật trong
nước, bảo đảm phù hợp với Công ước La Hay số 33, loại bỏ những cản trở
trong việc triển khai thi hành Công ước và tạo ra những bảo đảm pháp lý vì
21


quyền và lợi ích của trẻ em. Ngoài ra, điều này còn có ý nghĩa nhằm tăng
cường năng lực thực thi Công ước La Hay số 33 và pháp luật về nuôi con
nuôi có YTNNg ở nước ta.
4.1.2. Ý nghĩa của việc hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có
YTNNg
Việc hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có YTNNg nhằm đề cao
những nguyên tắc mang tính bắt buộc chung của Công ước La Hay số 33
như nguyên tắc lợi ích tốt nhất và ưu tiên nuôi con nuôi trong nước; giải
quyết xung đột về điều kiện nuôi con nuôi, hệ quả của việc nuôi con nuôi có
YTNNg; công nhận quyết định nuôi con nuôi có YTNNg được thực hiện
trước các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong bối cảnh Việt Nam
là thành viên Công ước La Hay số 33.
Việc hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có YTNNg là tăng khả năng
thực thi pháp luật và Công ước La Hay số 33. Sở dĩ như vậy là do, trách
nhiệm của một số cơ quan còn chưa rõ ràng, chưa có sự thông suốt trong
việc chỉ đạo triển khai thi hành Luật. Việc phối hợp liên ngành còn gặp nhiều
khó khăn do có sự “cắt khúc” giữa hệ thống QPPL về nuôi con nuôi và QPPL
về trẻ em.
4.1.3. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có YTNNg

Trong thời gian qua, việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em chỉ được thực hiện
ở những CSND được UBND cấp tỉnh chỉ định nên hạn chế quyền được nhận
làm con nuôi của những trẻ em có HCĐB sống ở các CSND không được chỉ
định. Ở địa phương, còn thiếu đội ngũ cán bộ đa ngành nghề tham gia giải
quyết nuôi con nuôi có YTNNg để đánh giá điều kiện về gia đình, xã hội, y
tế, tâm lý của trẻ em, tư vấn cho trẻ em và cha mẹ đẻ của trẻ em trong quá
trình tiến hành thủ tục.
23


Cơ quan quản lý Nhà nước còn gặp phải khó khăn trong việc xác định
phạm vi quản lý đối với hoạt động của các tổ chức con nuôi nước ngoài được
cấp phép hoạt động và văn phòng con nuôi nước ngoài, còn có hiện tượng
liên hệ trực tiếp với các CSND, tặng cho trực tiếp cho CSND để được giới
thiệu trẻ em cho làm con nuôi nước ngoài. Đối với nhu cầu sử dụng dịch vụ
nuôi con nuôi trong nước, do pháp luật hiện hành chưa có chế định về các tổ
chức được chỉ định ở trong nước nên khi công dân Việt Nam nhận con nuôi
trong nước hoặc nước ngoài sẽ gặp khó khăn.
Về chính sách, Nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ việc nuôi con nuôi
đối với những trẻ em có HCĐB khi được nhận làm con nuôi, chính sách duy
trì gia đình gốc nhằm tránh việc tách trẻ em ra khỏi gia đình huyết thống,
chưa có cơ chế gắn kết việc chăm sóc thay thế và nuôi con nuôi.
Đối với nguyên tắc minh bạch tài chính, một số khái niệm cơ bản như
”không ảnh hưởng tới việc nuôi con nuôi” và ”hỗ trợ phi dự án” không có
hướng dẫn cụ thể. Cơ chế bảo đảm tuân thủ nguyên tắc tách bạch hỗ trợ nhân
đạo và việc nuôi con nuôi thiếu quy định cụ thể, không có sự kiểm tra, giám
sát của cơ quan Nhà nước.
4.2. Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con
nuôi có YTNNg ở nước ta trong tình hình mới
4.2.1. Nội luật hóa Công ước La Hay số 33


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status