LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 54

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƢƠNG THỊ HÒA

RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS
TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ HUYỆN HÓC MÔN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƢƠNG THỊ HÒA

RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS
TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ HUYỆN HÓC MÔN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Tâm lý học
Mã số: 8310401

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN HỮU LONG

HÀ NỘI - 2018




MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƢỜI
NHIỄM HIV/AIDS.................................................................................................. 10
1.1. Những vấn đề lý luận về rối loạn trầm cảm ....................................................... 10
1.2. Cơ sở lý luận về rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS ......................... 22
1.3. Nghiên cứu RLTC của người nhiễm HIV/AIDS dựa trên thang đo Beck ......... 29
1.4. Yếu tố ảnh hưởng đến rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS................ 34
1.5. Biện pháp hạn chế các rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS ............... 37
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................ 40
2.1. Vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu ...................................................... 40
2.2. Tổ chức nghiên cứu ............................................................................................ 41
2.3. Các phương pháp nghiên cứu............................................................................. 42
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƢỜI NHIỄM
HIV/AIDS TẠI PHÕNG KHÁM NGOẠI TRÖ HUYỆN HÓC MÔN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .............................................................................. 49
3.1. Kết quả nghiên cứu thực trạng rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại
phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh .............................. 49
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................................... 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 72
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Viết tắt

Bảng 3.2. Kết quả lựa chọn phương án trả lời mặt tâm lý theo thang đo Beck ........ 51
Bảng 3.3. Kết quả lựa chọn phương án trả lời mặt cơ thể theo thang đo Beck ........ 56
Bảng 3.4. Yếu tố mối quan hệ trong gia đình ........................................................... 58
Bảng 3.5. Yếu tố dịch vụ hỗ trợ ................................................................................ 59
Bảng 3.6. Mối quan hệ với môi trường xung quanh ................................................. 60
Bảng 3.7. Nhận thức bản thân ................................................................................... 62
Bảng 3.8. Thái độ sống của bản thân ........................................................................ 63
Bảng 3.9. Biện pháp tác động làm giảm rối loạn trầm cảm ...................................... 64


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thực tế cuộc sống hiện đại, con người phải đối mặt với nhiều nguy cơ
về rối loạn tâm lý trong đó có trầm cảm. Là nhóm người dễ bị tổn thương nên người
nhiễm HIV/AIDS càng dễ bị rơi vào rối loạn trầm cảm.
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, dân số hơn 90
triệu người. Theo số liệu thống kê năm 2011, có khoảng 197.335 người sống chung
với HIV/AIDS. Con số này tiếp tục tăng lên 263.317 người trong năm 2015 [21].
Giống như những người sống chung với HIV/AIDS trên thế giới, người nhiễm
HIV/AIDS tại Việt Nam cũng các gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần, đặc biệt là
trầm cảm. Do những đặc trưng về căn bệnh này, nguồn lây bệnh, đối tượng mang
bệnh nên sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người có HIV còn khá nặng nề và kéo
theo những hỗ trợ về dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người nhiễm
HIV/AIDS chưa đáp ứng như mong đợi.
Bao nhiêu thế kỷ qua, nhân loại vẫn đang cố gắng dùng mọi nguồn lực để khắc
phục hậu quả của HIV/AIDS. Cả thế giới đang chung tay cùng nhau đẩy lùi tác hại của
HIV/AIDS. Có thể nói HIV/AIDS mang đến hậu quả là bệnh tật, đói nghèo và đau khổ
cho con người. Ngoài sự tàn phá về sức khỏe thể chất, căn bệnh thế kỷ này còn tàn phá
sức khỏe tâm trí của con người một cách khủng khiếp.
Chính điều đó ngày càng làm gia tăng tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS bị trầm

trình công tác khiến tôi nhận ra được tầm quan trọng của việc nâng đỡ, hỗ trợ tâm lý
mang lại cho người nhiễm HIV/AIDS trong việc xoa dịu đau buồn, lo lắng, sợ hãi và
trấn an tinh thần cho họ, tạo ra những tác động tích cực đối với quá trình điều trị của
người nhiễm HIV/AIDS.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Rối loạn trầm cảm trên ngƣời nhiễm
HIV/AIDS ở phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn tại Thành phố Hồ Chí
Minh” làm luận văn tốt nghiệp. Tôi hy vọng nghiên cứu này có đóng góp nhỏ vào
việc nhận diện chứng RLTC của bệnh nhân HIV, góp phần làm tăng hiệu quả điều
trị từ đó cải thiện tình trạng sức khỏe tâm thần nói riêng và sức khỏe của bệnh nhân
HIV nói chung. Xác định mục đích tìm hiểu thực trạng các rối loạn trầm cảm của
người nhiễm HIV/AIDS, các yếu tố ảnh hưởng đến rối loạn trầm cảm của người
nhiểm HIV/AIDS, đưa ra một số biện pháp nhằm hạn chế các rối loạn trầm cảm ở
người nhiễm HIV/AIDS.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Một số nghiên cứu trên thế giới
Theo một nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
trong năm 2010 có 298 triệu người mắc trầm cảm (chiếm tỷ lệ 4,3% dân số toàn
cầu). Có sự khác nhau về tỷ lệ người mắc trầm cảm giữa các nước, các khu vực trên
thế giới: Nhật Bản là 3%, Mỹ chiếm 17%.

2


Kết quả một nghiên cứu khác ở Mỹ năm 2014, hàng năm có khoảng 17.6
nghìn người bị trầm cảm, có tới hơn 2/3 người trầm cảm mà không biết mình bị
trầm cảm. Con số báo động là có tới 48% người trầm cảm có ý tưởng tự sát, trong
đó 24% những người có ý tưởng tự sát vì không nhận được sự hỗ trợ điều trị bệnh
trầm cảm.
Trầm cảm cũng chính là vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất của những
người sống chung với HIV/AIDS. Khả năng rối loạn trầm cảm ở người nhiễm

người nữ nhiễm HIV lần lượt là 37,45% và 27,94%.
Có thể thấy trên thế giới, vấn đề trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS đã được
các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu và tiếp cận trên nhiều phương diện dựa trên
các yếu tố liên quan như tình hình kinh tế, thu nhập cá nhân, tình trạng hôn nhân,
giới tính… các kết quả thu được phong phú và đa dạng nhưng nhìn chung nói lên sự
quan tâm về sức khỏe tâm thần của các nước trên thế giới đối với cộng đồng là một
bộ phận dân cư nhiễm HIV/AIDS.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Theo WHO trong năm 2015, ở Việt Nam có khoảng 3.500.000 người bị rối loạn
trầm cảm, chiếm 4% dân số. Con số này chưa phải là con số cuối cùng và có dấu hiệu
gia tăng trong thời gian gần đây. Ai trong chúng ta cũng đều có nguy cơ rối loạn trầm
cảm, rối loạn trầm cảm xảy ra ở nữ giới nhiều hơn so với nam giới, trầm cảm thường
xảy ra ở những người bị stress, với những người đang phải đối diện với cuộc sống khó
khăn như: bệnh tật hiểm nghèo phải kể đến ung thư, mất mát người thân, đổ vỡ về tình
cảm... và nhiễm HIV/AIDS.
Ở Việt Nam các nghiên cứu về người nhiễm HIV/AIDS còn mới và khá khiêm
tốn. Một số nghiên cứu của các tác giả trong nước mới chỉ quan tâm đến trầm cảm nói
chung. Trong số các nghiên cứu phải kể đến các nghiên cứu sau:
Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Quang về rối loạn tâm thần ở 30 bệnh
nhân nhiễm HIV tại TP Hồ Chí Minh năm 2003 cho thấy có biểu hiện rối loạn tâm
thần: trầm cảm chiếm 30%, rối loạn lo âu chiếm 70%, rối loạn trí nhớ chiếm 17%, ý
tưởng hành vi tự sát chiếm 6,67% [16].
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2008) nhận thấy tỷ lệ trầm cảm ở lứa tuổi mãn kinh rất
cao và liên quan nhiều đến yếu tố bệnh tật như nghỉ hưu, sự ra đi của người thân [8].
Tác giả Lương Bạch Lan (2009) đã có nghiên cứu được tiến hành vào năm
2009, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở các bà mẹ sau sinh là
11,6%[13].
Một nghiên cứu khác của Hồ Ngọc Quỳnh (2009) liên quan tới trầm cảm của
nhóm đối tượng là sinh viên. Tác giả đã lấy sinh viên điều dưỡng và y tế công
cộng tại Thành phố Hồ Chí Minh để nghiên cứu, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc trầm

Nghiên cứu của Cao Tiến Đức, Phạm Quỳnh Giang, Nguyễn Tất Định (2012)
về đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm và lo âu ở bệnh nhân ung thư dạ dày
(UTDD), nghiên cứu ở 60 bệnh nhân UTDD điều trị nội trú ở bệnh viện 103 từ
tháng 1/2010 đến tháng 6/2012. Kết quả nghiên cứu cho thấy rối loạn trầm cảm
chiếm 65%, mệt mỏi chiếm 65%, cảm giác buồn chán chiếm 60%, khí sắc trầm
chiếm 55%, giảm hoạt động chiếm 45% và rối loạn lo âu chiếm 81,67%. Các bệnh
nhân có các biểu hiện như lo sợ chiếm 81,67%, buồn chán đứng ngồi không yên

5


chiếm 65%, đau căng đầu chiếm 51%, hồi hộp đánh trống ngực chiếm 48%. Rối
loạn trầm cảm kết hợp với rối loạn lo âu chiếm 46,67%. Nghiên cứu dẫn đến kết
luận là trầm cảm, lo âu ở bệnh nhân ung thư dạ dày có tỷ lệ cao [7].
Nghiên cứu của Chu Ngọc Sơn (2015) về việc tìm hiểu rối loạn tâm lý ở bệnh
nhân bị bệnh động mạch chi dưới mạn tính, điều trị nội trú tại viện tim mạch - Bệnh
viện Bạch Mai được tiến hành ở 50 bệnh nhân từ tháng 04/2015 đến tháng 10/2015.
Kết quả nghiên cứu thu được: bệnh nhân có biểu hiện rối loạn tâm lý là 21 người,
chiếm 42% . Tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện trầm cảm là 58%, trong đó bệnh nhân
biểu hiện trầm cảm nhẹ là 36%; bệnh nhân biểu hiện trầm cảm vừa là 22%;
không có bệnh nhân biểu hiện trầm cảm nặng. Tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện lo âu
là 22%. Có 6 bệnh nhân có cả dấu hiệu trầm cảm và lo âu, chiếm 12% tổng số
bệnh nhân [17].
Nghiên cứu trên đối tượng công nhân, tác giả Lê Minh Công (2016) quan tâm
đến tỷ lệ và các biểu hiện lâm sàng của một số rối loạn tâm thần của công nhân tại
khu công nghiệp Biên Hòa 2 và tiến hành trên 840 công nhân, kết quả nghiên
cứu cho thấy tỷ lệ một số rối loạn tâm thần (trầm cảm, lo âu, suy nhược, rối loạn
giấc ngủ) ở công nhân tại khu công nghiệp Biên Hòa 2 là 14,2%. Trong đó, trầm
cảm: 7,26% (TC mức độ nhẹ là 6,17%, TC mức độ vừa là 0,71%, TC mức độ
nặng là 0,35%); rối loạn lo âu là 3,57%, suy nhược là 11,5% và rối loạn giấc ngủ

Môn, thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số khuyến nghị giúp người nhiễm HIV/AIDS giảm thiểu rối
loạn trầm cảm.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ rối loạn trầm cảm trên người nhiễm HIV/AIDS.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành trên 117 người đã được giám định y tế là bị
nhiễm HIV/AIDS đang trị liệu HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Hóc
Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
Bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS thăm khám tại phòng khám ngoại trú huyện Hóc
Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (trong giai đoạn nghiên cứu từ tháng 4 năm 2018
đến tháng 07 năm 2018). Do khách thể nghiên cứu là những người nhiễm
HIV/AIDS nên việc lựa chọn mẫu nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp
chọn mẫu thuận tiện và đảm bảo nguyên tắc tự nguyện cũng như sự đồng ý của
cơ sở quản lý người nhiễm HIV/AIDS. Khách thể nghiên cứu trong độ tuổi từ 16
– 45 có hoàn cảnh kinh tế khác nhau, môi trường sống khác nhau, trình độ học
vấn khác nhau.
Luận văn tiếp cận nghiên cứu rối loạn trầm cảm theo quan điểm của DSM IV
qua thang đo trầm cảm Beck.

7


4.3. Giả thuyết nghiên cứu
Rối loạn trầm cảm trên người nhiễm HIV/AIDS được biểu hiện ở các mặt khác
nhau như: tâm lý và cơ thể. Trong đó, biểu hiện ở mặt tâm lý là rõ nét nhất.
Rối loạn trầm cảm trên người nhiếm HIV/AIDS chịu ảnh hưởng của cả yếu tố
chủ quan và các yếu tố khách quan. Tuy nhiên yếu tố chủ quan có ảnh hưởng nhiều
hơn yếu tố khách quan.


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn xây dựng được khái niệm rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân bệnh
nhiễm HIV/AIDS, chỉ ra được các mặt biểu hiện tâm lý, cơ thể và các yếu tố ảnh
hưởng đến rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS.
Trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS biểu hiện ở các mặt tâm lý và cơ thể theo
bốn mức độ từ không trầm cảm, trầm cảm nhẹ, trầm cảm vừa, trầm cảm nặng.
Việc tìm hiểu biểu hiện và mức độ rối loạn trầm cảm ở người nhiễm
HIV/AIDS trên cơ sở thang đo của Beck gồm 21 đề mục đã được chuẩn hóa ở Việt
Nam đã giúp khẳng định độ tin cậy và độ hiệu lực của thang đo.
Những kết quả này góp phần làm sáng tỏ hơn lí luận về rối loạn trầm cảm ở
người nhiễm HIV/AIDS vào Tâm lý học lâm sàng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã chỉ ra được thực trạng rối loạn trầm cảm ở người nhiễm
HIV/AIDS qua hai mặt tâm lý và cơ thể. Đồng thời khảo sát mức độ rối loạn trầm
cảm ở người nhiễm HIV/AIDS. Bên cạnh đó luận văn cũng chỉ ra được các yếu tố
chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến rối loạn trầm cảm. Trên cơ sở đó đề xuất
được một số biện pháp tham vấn, trị liệu tâm lý làm giảm rối loạn trầm cảm ở người
nhiễm HIV/AIDS.
Kết quả nghiên cứu này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo bổ ích cho nhà
tâm lý học lâm sàng, cho người nhiễm HIV/AIDS và cho cơ sở điều trị HIV/AIDS
tại phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn, TPHCM.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn
gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận về rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại phòng
khám ngoại trú huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

lực nào sẽ sẽ thây đổi cuộc sống của họ. Ba yếu tố này được gọi là bộ ba nhân thức.
Cách tư duy tiêu cực hướng dẫn nhận thức [1].
Trong từ điển Tâm lý học của J.P. Chaplin PhD., trầm cảm được phân thành
hai loại: một được xem như hiện tượng tâm lý có thể xuất hiện ở bất kỳ cá nhân
bình thường nào, đặc trưng bởi tình trạng buồn bã, ít hy vọng, cảm xúc nghèo nàn,
lười hoạt động và sự chán nản về tương lai; một được xét theo góc độ tâm bệnh học,
10


trầm cảm là tình trạng nghiêm trọng của việc không phản ứng với những kích thích
bên ngoài cùng với việc tự hạ thấp giá trị của bản thân, hoang tưởng về sự không
thỏa đáng và sự vô vọng [20, tr.122].
Andrew M. Colman định nghĩa rõ hơn: “trầm cảm là một trạng thái buồn bã,
vô vọng và những ý nghĩ bi quan cùng với sự mất hứng thú hoạc mất sự thõa mãn,
hài lòng trong những hoạt động trước đây”. Ông nhấn mạnh thêm trong trường hợp
trầm cảm nghiêm trọng, nghĩa là vượt sang mức bệnh lý, có thể xảy ra “chứng biếng
ăn và hậu quả là sụt cân, mất ngủ (đặc biệt là chứng mất ngủ vào khoảng giữa hoặc
cuối của giấc ngủ) hoặc chứng ngủ nhiều, suy nhược, cảm giác vô giá trị hoặc tội
lỗi, mất khả năng suy nghĩ hoặc tập trung, những ý nghĩ tái diễn về cái chết hoặc tự
tử. Nó xuất hiện như nhiều triệu chứng của rối loạn tâm thần”.[2, tr 196].
Theo hiệp hội Tâm thần Mỹ, trầm cảm được xem là một dạng rối loạn khí
sắc. Tùy thuộc vào sự xuất hiện hay không của các cơn hưng cảm mà người ta
phân ra làm hai loại: Rối loạn trầm cảm (hay trầm cảm đơn cực) và rối loạn
lưỡng cực [9, tr.161].
Nguyễn Khắc Viện đã dùng từ trầm nhược thay cho trầm cảm và xem nó
không chỉ là một trạng thái tâm lý mà còn bao gồm cả khía cạnh thể chất: “ Trầm là
chìm xuống, mất hào hứng, sôi nổi; tính khí buồn bã, chán chường, bi quan,” còn
“nhược là suy yếu, uể oải, không muốn cử động, tay chân mệt mỏi, mặc dù không
có bệnh gì rõ rệt”. [19, tr.1].
Cũng trong từ điển Tâm lý học, Nguyễn Khắc Viện còn đưa ra những triệu

con người, tình cảm, nhận thức và hành động ý chí.
Dưới góc độ tâm bệnh học, trầm cảm được gọi là bệnh tâm lý ảnh hưởng đến
cuộc sống sinh hoạt cá nhân, quan hệ xã hội và công việc của chủ thể. Khi đó, trầm
cảm phải được quan sát thấy biểu hiện ở cả tâm lý và mặt cơ thể.
Khái niệm trầm cảm của tác giả Lê Minh Thuận (2016), Nghiên cứu trầm cảm ở
sinh viên đại học”, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Học viện Khoa học xã hội: “Trầm cảm
là trạng thái suy giảm tâm lý kéo dài, gây ra những hậu quả tiêu cực cho hoạt động và
được biểu hiện ở các mặt nhận thức, cảm xúc, và hành vi của cá nhân” [18].
Như vậy, qua những phân tích ở trên đây, người nghiên cứu sử dụng khái
niệm RLTC theo quan niệm của DSM - IV như sau: “RLTC là trạng thái rối loạn
cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng
lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau
một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần”.
Đây là khái niệm mà luận văn sử dụng làm khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài:
“Rối loạn tầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Hóc
Môn, Thành Phố Hồ Chí Minh”.

12


1.1.2. Cách phân loại rối loạn trầm cảm theo DSM IV và ICD – 10
Có thể phân loại rối loạn trầm cảm theo nhiều cách khác nhau, trong đó phải kể
đến các cách phân loại rối loạn trầm cảm nguồn gốc uy tín từ Mỹ như DSM III, DSM
IV, DSM V, ICD10, ICD11… Mặc dù hiện tại, ICD - 11 đã ra đời, tuy nhiên Bộ Y tế
chưa đưa vào ứng dụng rộng rãi, nguồn ICD - 11 chưa được dịch và chuẩn hóa để đưa
vào thực hành lâm sàng tại Việt Nam. Nên trong luận văn này, tác giả sử dụng ICD-10
để phân loại rối loạn trầm cảm vì ICD - 10 được chấp nhận rộng rãi nhất hầu hết ở các
quốc gia. Tại Việt Nam ICD - 10 có tính pháp lý cao, được Bộ Y tế dịch và ban hành
dùng để phân loại bệnh tật trong khám lâm sàng và về cơ bản cách phân loại rối loạn
trầm cảm theo ICD -10 không có khác biệt so với DSM IV.

Tùy thuộc vào số lượng triệu chứng và mức độ của chúng, 1 giai đoạn trầm cảm có
thể được xác định là nhẹ, trung bình hay nặng.
Bao gồm giai đoạn đơn độc của: phản ứng trầm cảm; trầm cảm do căn nguyên
tâm lý; trầm cảm phản ứng.
Loại trừ: rối loạn điều chỉnh (F43.2); rối loạn trầm cảm tái phát (F33); khi kết
hợp với rối loạn cư xử trong mục F91 – (F92.0)
- F32.0. Giai đoạn trầm cảm nhẹ: thường có hai hoặc ba triệu chứng nói ở
trên. Bệnh nhân thường đau khổ bởi các triệu chứng này nhưng vẫn có thể tiếp tục
được phần lớn các hoạt động.
- F32.1. Giai đoạn trầm cảm trung bình: thường có bốn triệu chứng nói trên
hoặc nhiều hơn và bệnh nhân có thể gặp nhiều khó khăn để tiếp tục trong các hoạt
động thông thường.
- F32.2. Cơn trầm cảm nặng không có các triệu chứng loạn thần: một giai đoạn
trầm cảm trong đó có nhiều triệu chứng nói ở trên rõ rệt và gây đau khổ, điển hình là
mất đi tín tự trọng và ác ý tưởng không xứng đáng hoặc tội lỗi. Thường có các ý tưởng
và hoạt động tự sát và một số các triệu chứng “cơ thể”.
Giai đoạn trầm cảm kích động đơn độc không có các triệu chứng loạn thần.
Giai đoạn trầm cảm sinh tồn đơn độc không có các triệu chứng loạn thần.
- F32.3. Giai đoạn trầm cảm nặng với các triệu chứng loạn thần: một cơn trầm
cảm nặng như đã mô tả trong F32.2 nhưng có hiện diện các ảo giác, các hoang tưởng,
chậm chạp tâm thần vận động hoặc sững sờ đến nỗi không thể có được các hoạt động
xã hội thông thường có thể gây nguy hiểm cho cuộc sống do tự sát, mất nước hoặc chết
đói. Các ảo giác và hoang tưởng có thể hoặc không phù hợp với khí sắc.
Các giai đoạn đơn độc của: trầm cảm nặng với các triệu chứng loạn thần; trầm cảm
do căn nguyên tâm lý; trầm cảm loạn thần; loạn thần trầm cảm phản ứng;
- F32.8. Giai đoạn trầm cảm khác: trầm cảm không điển hình; các giai đoạn
đơn độc của trầm cảm che dấu không xác định khác.
- F32.9. Giai đoạn trầm cảm không xác định: trầm cảm không xác định khác;
rối loạn trầm cảm không xác định khác.
14

Trầm cảm tái nặng, tái phát không có triệu chứng loạn thần.
Loạn thần hưng trầm cảm, thể trầm cảm không có các triệu chứng loạn thần.
Trầm cảm sinh tồn, tái phát không có các triệu chứng loạn thần.
- F33.3. Rối loạn trầm cảm tái phát, hiện thời là giai đoạn trầm cảm nặng với
các triệu chứng loạn thần: một rối loạn đặc trưng bởi các giai đoạn trầm cảm lặp đi
15


lặp lại, giai đoạn tiện tại là trầm cảm nặng với các triệu chứng loạn thần như F32.3
và không có các giai đoạn hưng cảm trước đó.
Trầm cảm nội sinh với các triệu chứng loạn thần; loạn thần hưng trầm cảm thể
tầm cảm với các triệu chứng loạn thần.
Các giai đoạn nặng tái phát của: trầm cảm nặng với các triệu chứng loạn thần;
loạn thần trầm cảm do căn nguyên tâm lý; trầm cảm loạn thần nặng ; loạn thần
trầm cảm phản ứng nặng;
- F33.4. Rối loạn trầm cảm tái phát, hiện đang thuyên giảm: bệnh nhân đã có
2 hoặc nhiều giai đoạn trầm cảm như đã mô tả trong F33.0 – f33.3 trong quá khứ,
nhưng đã không còn triệu chứng trầm cảm từ nhiều tháng nay.
- F33.8. Rối loạn trầm cảm tái phát khác.
- F33.9. Rối loạn trầm cảm tái phát, không xác định: trầm cảm đơn cực không
xác định khác.
- F34.1. Loạn khí sắc: một trạng thái khí sắc không ổn định kéo dài bao gồm
nhiều giai đoạn trầm cảm và hưng cảm nhẹ, không có rối loạn nào đủ nặng hoặc
trong đó các giai đoạn riêng biệt kéo dài không đủ để thỏa mãn chẩn đoán rối loạn
trầm cảm tái phát nhẹ, trung bình hoặc nặng (F33.-).
Trầm cảm: loạn thần kinh; rối loạn nhân cách; trầm cảm loạn thần kinh; trầm
cảm lo âu trường diễn.
Loại trừ: trầm cảm do loạn lo âu (nhẹ hoặc không kéo dài) (F41.2).
1.1.3. Biểu hiện, mức độ rối loạn trầm cảm
Để tìm hiểu các biểu hiện, mức độ rối loạn trầm cảm. Hiệp hội tâm thần Hoa

6. Mệt mỏi hoặc mất năng lượng
7. Cảm giác vô giá trị và sự mặc cảm quá mức
8. Giảm khả năng suy nghĩ hoặc tập trung, hoặc không quyết định được
9. Những ý nghĩ về cái chết lặp đi lặp lại.
 Căn cứ vào số lƣợng các triệu chứng lâm sàng trên, rối loạn trầm cảm đƣợc
chia thành các mức độ khác nhau:
- Trầm cảm mức độ nhẹ: là có tối thiểu các triệu chứng trầm cảm vừa đủ cho chẩn
đoán (5,6 triệu chứng theo tiêu chuẩn của DSM IV).
- Trầm cảm mức độ vừa: là có số lượng triệu chứng trung gian giữa mức độ nhẹ
và nặng (có 7,8 triệu chứng theo tiêu chuẩn DSM IV).
- Trầm cảm mức độ nặng: là có tất cả các triệu chứng trầm cảm (9 triệu chứng
theo DSM IV).
- Giai đoạn trầm cảm nặng không có triệu chứng loạn thần: có tất cả các triệu
chứng của trầm cảm nhưng không có triệu chứng của loạn thần kết hợp.
- Giai đoạn trầm cảm nặng có triệu chứng loạn thần: bệnh nhân có tất cả các
triệu chứng của trầm cảm và có triệu chứng loạn thần kết hợp (hoang tưởng, ảo
giác). Như vậy các triệu chứng loạn thần chỉ có trong trầm cảm mức độ nặng.

17




Giai đoạn trầm cảm khác

- Trầm cảm không điển hình. Các giai đoạn đơn độc của trầm cảm che dấu không
xác định khác.
- Trầm cảm không xác định khác.
- Rối loạn trầm cảm không xác định khác.
- Các triệu chứng chính của trầm cảm không rõ ràng, có những triệu chứng cụt và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status