BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐINH QUỲNH CHÂU
ẢNH HƯỞNG CỦA CẢM XÚC GIẬN DỮ
LÊN HÀNH VI ỨNG XỬ CỦA
NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÍ THỨC TRẺ TUỔI
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60.31.80
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ THU MAI
TP. HỒ CHÍ MINH – 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày
trong luận văn là trung thực.
Tác giả
Đinh Quỳnh Châu
3T
3T
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU................................................................................. 8
3T
T
3
4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU ............................................................................................................ 8
3T
3T
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU................................................................................................................. 8
3T
3T
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:........................................................................................................ 9
3T
3T
7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.................................................................................................................... 9
3T
3T
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẢM XÚC GIẬN DỮ VÀ HÀNH VI ỨNG XỬ ....... 15
3T
T
3
1.2.1. Cảm xúc và cảm xúc giận dữ.................................................................................................... 15
T
3
3T
1.2.1.1. Khái niệm về cảm xúc và cảm xúc giận dữ ....................................................................... 15
T
3
T
3
1.2.1.2. Nguyên nhân của cảm xúc giận dữ.................................................................................... 26
T
3
T
3
1.2.1.3. Biểu hiện của cảm xúc giận dữ ......................................................................................... 27
T
3
3T
1.2.2.4. Đặc trưng của ứng xử ....................................................................................................... 35
T
3
3T
1.2.2.5. Các kiểu ứng xử và phân loại hành vi ............................................................................... 36
T
3
T
3
1.2.2.6. Hành vi ứng xử ................................................................................................................. 37
T
3
3T
1.2.3. Một số phương pháp kiểm soát cơn giận .................................................................................. 38
T
3
T
3
1.3. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CƠ BẢN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÍ THỨC TRẺ TUỔI ..................... 40
3
2. 1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng ....................................................................................................... 49
3T
3T
2.1.1 Thể thức nghiên cứu ................................................................................................................. 49
T
3
3T
2.1.2 Mẫu nghiên cứu thực trạng........................................................................................................ 54
T
3
3T
2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng ........................................................................................................ 54
3T
3T
2.2.1. Mức độ thường xuyên và phân loại cơn giận của người lao động trí thức trẻ tuổi tại một số quận
nội thành TP.HCM ............................................................................................................................ 54
T
3
3T
3
T
3
2.2.3.Các lĩnh vực chịu ảnh hưởng và nguyên nhân cảm xúc giận dữ ................................................ 71
T
3
T
3
2.2.3.1 Các lĩnh vực chịu ảnh hưởng: ........................................................................................... 71
T
3
T
3
2.2.3.2 Nguyên nhân gây ra cảm xúc giận dữ: .............................................................................. 74
T
3
T
3
2.2.4.Nhận thức về các yếu tố và vai trò của cảm xúc giận dữ của người lao động trí thức trẻ tuổi tại
một số quận nội thành TP.HCM......................................................................................................... 76
T
3
3.1. Tổ chức nghiên cứu biện pháp ......................................................................................................... 85
3T
3T
3.1.1. Mục đích nghiên cứu................................................................................................................ 85
T
3
3T
3.1.2. Thể thức nghiên cứu ................................................................................................................ 85
T
3
3T
3.1.3. Khách thể ................................................................................................................................. 85
T
3
3T
3.1.4. Giới hạn ................................................................................................................................... 86
T
3
3T
3.1.5. Qui trình nghiên cứu biện pháp ................................................................................................ 86
T
3
3.2.3. Biện pháp 3: Điều chỉnh nhận thức về các “mồi nhử” giận dữ .................................................. 88
T
3
T
3
3.2.4. Biện pháp 4: Điều chỉnh nhận thức về nhu cầu cốt lõi của bản thân .......................................... 89
T
3
T
3
3.3. Kết quả nghiên cứu trường hợp ....................................................................................................... 91
3T
3T
3.3.1. Trường hợp 1 ........................................................................................................................... 91
T
3
3T
3.3.2. Trường hợp 2 ........................................................................................................................... 94
T
PHỤ LỤC ......................................................................................................................... 108
3T
T
3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CL:
Chọn lựa
ĐLC:
Độ lệch tiêu chuẩn
TH:
Tình huống
MYN:
Mức ý nghĩa trong kiểm nghiệm Chi Bình Phương
TB:
Điểm trung bình
nó không được nhận thức đúng mức và trở nên tiêu cực, cảm xúc giận dữ có thể gây ra vô số những
rắc rối mà ảnh hưởng của nó đến hành vi ứng xử của chúng ta có thể làm cho toàn bộ chất lượng
cuộc sống của ta thay đổi, từ những mối quan hệ tốt đẹp biến thành khủng khiếp.
Ở Việt Nam, cho tới nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu ảnh hưởng cảm xúc giận dữ
một cách cụ thể để hiểu được cường độ, mức độ thường xuyên, nguyên nhân và cách xử lý cảm xúc
giận dữ lên hành vi ứng xử của con người.
1.4. Thực tiễn cho thấy, người trưởng thành trẻ tuổi nói chung và người lao động trí thức trẻ tuổi
tại TP.HCM nói riêng còn chưa ý thức rõ ràng về ảnh hưởng của cảm xúc giận dữ lên hành vi ứng
xử của mình. Mối quan hệ giữa việc nhận thức về cảm xúc giận dữ và hành vi giao tiếp còn khá
mới mẻ đối với họ.
Từ những lý do nêu trên, người nghiên cứu thực hiện nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng cảm xúc giận
dữ lên hành vi ứng xử của người lao động trí thức trẻ tuổi tại TP.HCM”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu thực trạng ảnh hưởng của cảm xúc giận dữ lên hành vi ứng xử của người lao động trí
thức trẻ tuổi tại TP.HCM. Từ đó đề xuất một số phương pháp nhận thức về cảm xúc giận dữ để điều
khiển hành vi ứng xử một cách phù hợp.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu:
3.1.1 Khách thể nghiên cứu thực trạng:
-200 người lao động trí thức từ 20 đến 40 tuổi làm việc tại một số quận nội thành TP.HCM.
3.1.2 Khách thể nghiên cứu trường hợp:
- 02 người lao động trí thức tự nguyện tuổi từ 20 đến 40 làm việc tại nội thành TP.HCM
3.2. Đối tượng nghiên cứu: ảnh hưởng của cảm xúc giận dữ lên hành vi ứng xử của người lao
động trí thức trẻ tuổi tại TP.HCM.
4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
- Lao động trí thức trẻ tuổi TP.HCM giận dữ khá thường xuyên.
- Không có sự khác biệt giữa nam và nữ trong biểu hiện cảm xúc giận dữ.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
6.2.1. Mục đích của nghiên cứu thực tiễn:
- Tìm hiểu thực trạng ảnh hưởng cảm xúc giận dữ lên hành vi ứung xử của người lao động trẻ
tuổi tại TP.HCM để đề xuất một số phương pháp nhận thức về cảm xúc giận dữ để điều khiển hành
vi ứng xử của người lao động trí thức trẻ tuổi tại TP.HCM cho phù hợp.
6.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
6.2.2.1. Phương pháp quan sát
6.2.2.2. Phương pháp điều tra
6.2.2.3. Phương pháp nghiên cứu trường hợp
6.2.2.4. Phương pháp thống kê toán học
7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nội dung: Trong đề tài này, người nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng cảm
xúc giận dữ lên hành vi ứng xử của người lao động trí thức trẻ tuổi tại một số quận nội thành
TP.HCM.
- Địa điểm: tại một số quận nội thành TP.HCM
- Đối tượng khảo sát: 200 người lao động độ tuổi từ 20 đến 40 tuổi làm việc tại một số quận nội
thành TP.HCM.
- Đối tượng nghiên cứu trường hợp: 02 người lao động trí thức tự nguyện từ 20 đến 40 tuổi.
8. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đây là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về ảnh hưởng cảm xúc giận dữ lên hành
vi ứng xử của người lao động trí thức trẻ tuổi tại TP.HCM. Do đó, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về cảm xúc giận dữ và hành vi ứng xử.
- Góp phần làm sáng tỏ thực trạng ảnh hưởng cảm xúc giận dữ lên hành vi ứng xử của người
lao động trí thức trẻ tuổi tại một số quận nội thành TP.HCM.
- Chứng minh rằng có thể xây dựng và hình thành những hành vi ứng xử phù hợp thông qua
việc nhận thức cảm xúc giận dữ.
nhau. Thuyết Schater và Singer coi nhận thức là quan trọng nhất trong việc gọi tên các cảm xúc. Khi
con người được kích thích về mặt sinh lý, họ sẽ tìm các yếu tố của môi trường để giải thích cho sự
kích thích của họ và đặt tên (dán nhãn) cho cảm xúc của mình.
Khi thuyết các cảm xúc phân hoá ra đời, giận dữ được nghiên cứu tỉ mỉ như một trong những
cảm xúc nền tảng của con người. Carroll E.Izard đã nhận xét về xúc cảm giận dữ trong tác phẩm
Những cảm xúc của con người như sau: “giận dữ là cảm xúc nền tảng mà việc kiểm soát sự biểu
hiện của nó phải được chú ý đặc biệt trong quá trình xã hội hoá. Biểu hiện bên ngoài của căm giận
rất dễ nhận ra. Khi căm giận, máu “sôi lên”, mặt nóng bừng bừng. Năng lượng được huy động
nhanh làm trương cơ và gây nên cảm giác sức mạnh, dũng cảm, tự tin” [6, tr.109].
Tiến sĩ Harriet Goldhor Lerner trong tác phẩm The Dance of Anger (Vũ khúc của cơn giận) xuất
bản năm 1985 đã nghiên cứu cơn giận của phụ nữ. Bà không nghiên cứu cơn giận một cách riêng lẻ
hoặc thuần tuý về mặt lý thuyết mà nghiên cứu nó trong mối liên hệ với khả năng kiểm soát cơn
giận ở phụ nữ [25]. Tiến sĩ Les Carter cũng cùng hướng nghiên cứu cùng với tiến sĩ H.G.Lerner
nhưng ông nghiên cứu cơn giận ở con người nói chung chứ không nghiên cứu nó dưới ảnh hưởng
của giới tính. Trong tác phẩm Trap of Anger (Cái bẫy của cơn giận) ông đã đưa ra bản chất của cơn
giận, nguyên nhân và cách kiểm soát nó [38].
Trong tác phẩm Prisoner of Hate: the cognitive basic of Anger, Hostility and Violent (1999) (Tù
4T
nhân của sự căm ghét: nhận thức cơ bản về sự tức giận, chống đối và bạo lực), tiến sĩ Aaron Beck
đã phát triển nền tảng lý thuyết cơ bản của liệu pháp nhận thức. Ông phân tích sự giận dữ và thù
địch từ cách nhìn nhận trên quan điểm của thuyết nhận thức, và cho thấy một số các biến dạng nhận
thức cơ bản ảnh hưởng chính đến hành vi bạo lực của cá nhân và nhóm. Nhằm mục đích viết cho
chuyên gia, với sắc thái triết học ông đã trình bày một đánh giá dưới góc độ nhận thức về hành vi
bạo lực khác nhau, từ bạo lực cá nhân đến hành vi khủng bố diệt chủng.
Nghiên cứu về cảm xúc giận dữ cũng được các tác giả nước ngoài gắn liền với mục đích kiểm
soát nó như các tác giả sau: Beverly Engel với tác phẩm Honor your Anger: how transforming your
anger style can change your life (Tán dương cơn giận: thay đổi cách giận có thể làm thay đổi cuộc
khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu những biểu hiện trí tuệ cảm xúc của học sinh một số trường trung học cơ sở
thành phố Hồ Chí Minh” của Cao Văn Quang [44], bài viết “Xúc cảm hướng dẫn sự lựa chọn” của Nguyễn
Văn Thiêm [50], bài viết “Vấn đề xúc cảm và sự cần thiết nghiên cứu xúc cảm trong hoạt động dạy
học” của tác giả Nguyễn Đức Sơn [45, tr. 9-10], Xúc cảm, tình cảm và các kỹ năng xã hội ở học
sinh THPT của tác giả Nguyễn Công Khanh [30, tr.41-47], Bước đầu thử nghiệm nâng cao trí tuệ
cảm xúc của giáo viên tiểu học Hà Nội của Dương Thị Hoàng Yến [62, tr.59-63].
Các đề tài nghiên cứu về hành vi có khá nhiều nhưng chủ yếu tập trung vào khách thể là trẻ em
như đề tài “Cơ sở tâm lý của việc hình thành hành vi văn hoá ở trẻ lứa tuổi mầm non” của Ngô
Công Hoàn [20, tr.44-47], Quy trình và phương pháp giáo dục hành vi văn hoá cho vị thành niên
trong gia đình của Nguyễn Thị Tuyết Mai [40, tr.44-49], Ảnh hưởng của nhóm bạn không chính
thức tiêu cực đối với hành vi vi phạm pháp luật của trẻ vị thành niên của Nguyễn Thị Hoa (2004).
Hành vi còn được các tác giả nghiên cứu dưới góc độ chung, không xem xét dưới ảnh hưởng của
khách thể cụ thể như tác phẩm “Hành vi giao tiếp” của Erhard Thiel [41] nghiên cứu vai trò, ý nghĩa
của các hành vi trong giao tiếp, các tư thế, cử động tay, chân, dáng người, nét mặt... thích hợp trong
từng môi trường, hoàn cảnh giao tiếp, bài viết về hành vi sai lệnh chuẩn mực xã hội của Lưu Song
Hà [17, tr.13-18], bài viết về hành vi giải quyết bất đồng, mâu thuẫn của Lê Văn Hảo [16, tr.28-30].
Về ứng xử, có thể kể đến tác phẩm “Tâm lý học ứng xử” của Lê Thị Bừng đưa ra một số vấn đề
lý thuyết về ứng xử, đề tài “Ứng xử của người dân vùng đồng bằng sông Hồng trong gia đình” của
Lê Thị Thanh Hương, Phạm Thị Mai Hương, Lã Thị Thu Thuỷ... [21] nghiên cứu các đặc điểm ứng
xử trong gia đình của người Việt vùng đồng bằng sông Hồng, phát hiện những thay đổi của chúng
theo thời gian từ truyền thống đến hiện đại: ứng xử trong quan hệ vợ - chồng, ông bà, bố mẹ, con
cháu.
Nghiên cứu về lao động trí thức có thể kể đến đề tài cấp nhà nước “Nhân cách văn hoá tri thức Việt Nam
trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” do Lê Thị Thanh Hương làm chủ nhiệm. Đề tài được tiến
hành trong hai năm 2008, 2009. Khách thể nghiên cứu bao gồm 1608 trí thức đang làm việc tại các
thành phố Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, đã tập trung làm rõ một số nội dung sau:
1. Xác định một số khái niệm công cụ như các khái niệm nhân cách, văn hoá, trí thức, nhân cách
văn hoá trí thức, xây dựng mô hình nhân cách văn hoá trí thức trên bình diện lý thuyết làm cơ
[58] tập trung trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề
trí thức, sự hình thành và phát triển của trí thức Việt Nam trong lịch sử. Nguyễn Đắc Hưng [26] đề
cập đến vấn đề chung về trí thức và đội ngũ trí thức, vai trò của trí thức Việt Nam, phương hướng và
giải pháp phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kì hội nhập cũng như một số khái quát về
trí thức và đội ngũ trí thức [27]. Luận án phó tiến sĩ khoa học của Phan Thanh Khôi “Động lực của
trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay” [32] đã xác định những yếu tố với tính cách là
động lực trực tiếp nhằm thúc đẩy tính tích cực sáng tạo trong lao động của trí thức nước ta hiện nay.
Những công trình nghiên cứu về người lao động trí thức trong nước từ trước tới nay hầu hết chỉ tập
trung trong lĩnh vực nhân cách nói chung hoặc vai trò và sự phát triển của đội ngũ này được nhìn nhận dưới
quan điểm triết học. Các lĩnh vực cụ thể của người lao động trí thức như hành vi ứng xử cũng như cảm xúc
hoặc mối liên hệ giữa cảm xúc và hành vi thì chưa có nghiên cứu nào.
Vì cảm xúc là một vấn đề hết sức nhạy cảm và khó nghiên cứu, đặc biệt là cảm xúc giận dữ nên cho đến
nay, tại Việt Nam vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về ảnh hưởng của cảm xúc giận dữ lên hành vi
ứng xử của người lao động nói chung và người lao động trí thức trẻ tuổi nói riêng.
Tóm lại, các tác giả ở Việt Nam chỉ tập trung nghiên cứu cảm xúc, hành vi còn cảm xúc giận dữ
và hành vi ứng xử thì hầu như chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu. Đối với khách thể là
người lao động trí thức thì các nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học chưa nhiều và chỉ chủ yếu tập
trung tìm hiểu các yếu tố thuộc về nhân cách nói chung.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẢM XÚC GIẬN DỮ VÀ HÀNH VI ỨNG
XỬ
1.2.1. Cảm xúc và cảm xúc giận dữ
1.2.1.1. Khái niệm về cảm xúc và cảm xúc giận dữ
a. Khái niệm cảm xúc
Theo từ điển tâm lý học [8, tr.24], cảm xúc “là sự phản ánh tâm lý về mặt ý nghĩa sống động của
các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu
cầu của chủ thể, dưới hình thức những rung động trực tiếp”. Cảm xúc trong một từ điển tâm lý khác
[61, tr.16] lại được định nghĩa “là phản ứng rung chuyển của con người trước một kích động vật
chất hoặc một sự việc gồm 2 mặt:
b. Bản chất và nguồn gốc phát sinh cảm xúc:
Nguồn gốc phát sinh cảm xúc luôn là vấn đề các nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu. MC.
Dougall coi cảm xúc là những cái được di truyền. B.F.Skinner, J.Dolar và N.E.Miller lại giải thích
cảm xúc là cách thức hay khuôn mẫu phản ứng được tiếp thu theo nguyên tắc học tập, điều kiện hóa
hoặc bắt chước. Còn S.Freud coi cảm xúc là sự giải tỏa những năng lượng libido bị dồn nén.
Nhà thần kinh học người Mỹ, Joseph LeDoux và một số nhà khoa học khác đã phát hiện thấy
một liên hợp khu vực phụ trách, chỉ huy, kiểm soát cảm xúc: từ hệ viền (limbic), gò hải mã
(hippocampus), hạnh nhân (amygdala) đến những trung khu ở vỏ não mới (neocortex) như thùy
trán trước (prefrontal). Hệ này xuất phát niềm vui, sự ghê tởm, nỗi sợ và cơn giận… Sự kết nối
càng nhiều giữa hệ limbic và cortex càng làm các phản ứng cảm xúc bộc lộ nhiều hơn. Ông cũng
cho rằng các mạch ngắn trong não cho phép cảm xúc xuất hiện trước khi trí khôn can thiệp vào. Ví
dụ một người đang chạy bộ khi thấy một vật dài uốn cong trong cỏ đã nhảy bổ sang bên trước khi
nhận ra đó chỉ là một đoạn cây gãy chứ không phải con rắn. Như vậy, cortex đã nhận được tín hiệu
sau amygdala một vài phần triệu giây nên nỗi sợ đến trước sự phán đoán [14, tr.50, 24].
(vùng cảm giác)
Mạch dài
(Gò
hải
mã)
Mạch ngắn
(đồi thị)
(hạnh nhân)
Hình 1.1: Sơ đồ 2 mạch cảm xúc
giác
Hạnh nhân
Hệ thần kinh tự chủ
1
Đồi thị
Hạ đồi
2
Vỏ não
Hệ nội tiết
1: mạch ngắn
2: mạch dài
Hình 1.2: Hai vòng mạch của quá trình cảm xúc
1
: mạch ngắn - thông tin từ đồi thị chuyển đến hạnh nhân. Hải mã cung cấp kinh nghiệm về
thông tin ấy cho hạnh nhân. Hạnh nhân truyền lệnh xuống hạ đồi và tạo ra phản ứng bột phát.
2
: mạch dài – thông tin cũng cùng lúc chuyển đến vỏ não. Vỏ não phân tích cặn kẽ rồi truyền
lệnh đến hạnh nhân, đi xuống hạ đồi và tạo phản ứng suy xét.
Khi một kích thích tác động vào cơ quan thụ cảm, thông tin này được truyền lên não. Tại đây sẽ
có liên hệ với trí nhớ) giữ một vị trí chính yếu trong cảm giác liên hợp và những thông tin có kèm
theo cảm xúc dễ chịu hay khó chịu. Nó cho phép con người và các con vật khác đánh giá hành vi
của chúng dựa trên các cảm xúc dương tính hay âm tính đối với các đối tượng hay tình huống gặp
phải. Ở con người, hạnh nhân cũng giữ vai trò trong việc nhận ra cảm xúc của người khác, bằng
những cách riêng quan sát biểu hiện trên nét mặt của họ. Hạnh nhân có vai trò chống đỡ một cách
đặc biệt trong các phản ứng sợ hãi.
Võ não: vỏ não giữ một vai trò có liên hệ đến cảm xúc. Nó cho phép con người xem xét ẩn ý của
một kích thích thích ứng hoặc có lợi. Những người bị tổn thương vỏ não trán gặp phải khó khăn
trong việc thực hiện những lựa chọn do cảm xúc hướng dẫn và thường cư xử theo những cách thức
không đúng đắn. Vỏ não cũng liên quan đến việc giải thích ý nghĩa của các phản ứng ngoại biên. Ví
dụ như kinh nghiệm của một người run đầu gối và khô cổ họng khi nói trước đám đông cho người
ấy biết rằng người ấy đang lo lắng. Theo truyền thống, võ não trán giữ một vị trí quan trọng trong
mối liên hệ xã hội của khuôn mặt, như khả năng phóng đại, thu nhỏ hay giả tạo một cảm xúc [65,
tr.494].
Nếu hạnh nhân phát ra những phản ứng cảm xúc thì thuỳ trán trước là trung tâm làm dịu bớt các
phản ứng này, có vai trò ức chế và điều khiển cảm xúc nhờ sự điều tiết hạnh nhân và hệ viền. Vai
trò của vỏ não còn đang được khám phá với hy vọng sẽ nối kết mỗi cảm xúc cơ bản vào một vùng
vỏ não riêng biệt nào đó. Tác giả Martin Yeomans đã cho rằng vùng vỏ trán trước (prefrontal
cortex) là trung tâm của kinh nghiệm cảm xúc gồm có 3 vùng: dorsolateral, ventromedial và
orbitofrontal.
Cuối cùng, phải kể đến sự chuyên biệt hoá của bán cầu não…như những người thuận tay phải
(não trái) cho biết họ có kinh nghiệm tình cảm tích cực nhiều hơn tiêu cực.
Năm 1980, nhà tâm lý học Solomon đưa ra thuyết “quá trình đối lập” mà theo ông, một quá trình
cảm xúc gồm:
1. Các kinh nghiệm gây nên những cảm xúc tương đối mạnh (xúc động).
2. Cảm xúc được kinh nghiệm gợi lên, tự động gây ra các “phản ứng hậu”, các cảm xúc tương
phản.
3. Dần dần, phản ứng hậu chống lại hay kìm nén cường độ của xúc động đã sinh ra nó.
ra bên dưới sự nhận thức và có thể hay không có thể chuyển thành ý thức, tuỳ thuộc vào cường độ
của cảm xúc và độ dày của hàng rào kìm chế. Cảm xúc có thể dẫn đến hành động bột phát hoặc có
thể đi qua sự suy xét và quyết định có ý thức.
Giải thích tiến trình:
(1) Nhận thức:
• Đến từ phía bên ngoài thông qua các giác quan: âm thanh, mùi vị,…
• Đến từ phái bên trong: nhớ lại, tưởng tượng,…
Những tín hiệu cảm giác được dẫn đến đồi thị. Từ đây chúng đi theo hai hướng khác nhau: đến
hạnh nhân và vỏ não mới. Hạnh nhân giống như một người lính canh, kiểm tra mọi nguồn cảm giác
để tìm trục trặc tiềm ẩn.
(2) Trí nhớ: hầu hết quá khứ của chúng ta được lưu lại trong não mặc dù đôi lúc chúng ta không
thể lấy nó ra khi mình muốn. Các nghiên cứu gần đây đã xác định hai hệ thống trí nhớ riêng
biệt:
• Trí nhớ khung cảnh (định vị trong hải mã): nó nhớ lại những sự kiện khách quan và các
hoàn cảnh, các chi tiết cụ thể của một biến cố, nó cho phép hiểu được nghĩa của một hoàn
cảnh.
• Trí nhớ cảm xúc (trong hạnh nhân): nó nhớ lại những rung cảm của một sự kiện.
Điều xảy ra tiếp theo là nguồn cảm giác đi thẳng qua trí nhớ cảm xúc của hạnh nhân và cũng
chậm rãi đi qua trí nhớ khung cảnh ở hải mã. Như thế, nó có thể làm cho một tri giác gây ra một
phản ứng cảm xúc mạnh mẽ, tách biệt khỏi khung cảnh gốc của nó, hoặc để nhớ một chi tiết còn
quan trọng mà không có bất cứ một chi tiết nào về nó. Những phân tích này là nguồn gốc của sự
sáng tạo nhưng cũng có thể là nguyên nhân của sự nhầm lẫn: đây là khía cạnh quan trọng của vô
thức. Những gì Goleman (tác giả cuốn “trí tuệ xúc cảm”) gọi là “sự bắt cóc của cảm xúc” là một
phản ứng cảm xúc mạnh và nhanh, nó tràn ngập con người trước khi có bất cứ sự đánh giá có ý thức
nào xảy ra: hạnh nhân nhảy đến kết cục rất nhanh, đôi khi không cần dữ kiện đầy đủ.
(3) Sự đánh giá: đây là sự đánh giá mang tính trực giác, tự phát và vô thức về việc nhận thức sự
kiện hiện tại, như là: tốt, dễ chịu, tích cực…hay xấu, không hài lòng, điều tiêu cực,…trên cơ
sở những kinh nghiệm được ghi lại trong trí nhớ.
(4) Cảm xúc: đây là những khuynh hướng rút ra từ đánh giá sau:
• Hướng về phía những gì được đánh giá là tốt: tình yêu, niềm say mê, niềm hy vọng,…
trải qua cảm giác khó chịu nghĩa là có điều gì đó sai sót trong việc đang thực hiện. Vì vậy trên
cơ sở đọc những thông điệp phản ứng của cơ thể và nhận thức vấn đề, ta có khả năng hành
động sửa chữa phù hợp hơn.
• Cảm xúc nói cho con người biết bản chất các mối quan hệ xã hội đang có và cách thức kiểm
soát chúng. Chúng thông báo cho ta biết mối quan hệ đạt đỉnh cao hay bị phá vỡ hoặc trong
tình trạng cần vun đắp thêm. Không có dấu hiệu bên ngoài nào báo cho ta biết những người
khác đang suy nghĩ gì. Ngược lại, cảm xúc có thể được nhận thấy trên khuôn mặt, trong giọng
nói và bằng cách đó chúng điều chỉnh bản thân người đó và người khác. Cảm xúc cũng xây
dựng chủ đề mối quan hệ và sắp xếp chủ yếu các mối quan hệ. Nỗi buồn thì dành cho sự mất
mát, giận dữ khi vỡ mộng hay cảm thấy bất công, sợ hãi khi gặp mối đe dọa, ganh tỵ khi bị
chiếm chỗ hay phản bội. Mỗi cảm xúc xác định mối quan hệ của cá nhân và người khác hay
với môi trường xung quanh. [64]
• Cảm xúc làm nổi bật sự thông minh của con người. Bằng cách nắm bắt những kiểu mẫu sẵn có
nhanh hơn nhiều lần tư duy phân tích thông tin, cảm xúc xử lý tình huống một cách hợp lý.
Cảm xúc không phải đơn thuần là sự phá vỡ hoạt động sống đang cần điều khiển phía trước,
chúng xắp xếp các tiến trình con người cần phải tham gia. Kết hợp với lý trí, chúng giúp con
người nhanh chóng thích nghi bằng cách tạo thuận lợi cho việc giải quyết các vấn đề mang
tính thích ứng cao.
• Cảm xúc làm cho cuộc sống thêm màu sắc, có giá trị và ý nghĩa. Nếu một người không thể trải
nghiệm cảm xúc thì họ sẽ thiếu định hướng về thế giới và sẽ không thể biết được cái gì quan
trọng đối với mình. Nó là cách thức biểu đạt và bộc lộ trạng thái tâm lý của cá nhân cho người
khác biết.
Nhờ những chức năng trên, cảm xúc mang tính trí tuệ. Do vậy, mỗi người trong xã hội có thành
công hay không là nhờ những mối quan hệ tốt đẹp. Điều này được thể hiện chủ yếu thông qua hành
vi ứng xử của cá nhân.
Cảm xúc và nhận thức, trí tuệ:
Các nhà tâm lý học lớn ở phương Tây cũng như Mácxit thế kỉ trước như J.Piaget,
L.X.Vưgốtxki,… đã nghiên cứu thấy rằng cảm xúc có ảnh hưởng đến quá trình nhận thức, hoạt
chúng ta sẽ nhớ rất lâu, thậm chí suốt đời. Tục ngữ Việt Nam có câu “miếng ngon nhớ lâu, đòn đau
nhớ đời” là vậy. Trong cuộc sống, có rất nhiều điều chúng ta quên, không nhớ được trước hết là vì
nó không tạo cho chúng ta cảm xúc.
Cảm xúc và hành động:
Theo Daniel Goleman, về căn bản, tất cả cảm xúc đều xuất phát từ sự kích thích hành động, đó
là phản ứng tức thì để đối phó với sự sinh tồn mà sự tiến hóa đã truyền cho con người. Từ
“emotion” (cảm xúc) được tạo ra từ động từ tiếng Latin “motere” nghĩa là “cử động” và tiền tố “e-”
chỉ một sự vận động ra bên ngoài. Từ gốc ấy gợi lên rõ ràng một khuynh hướng hành động [14,
tr.25]. Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy mỗi kiểu cảm xúc chuẩn bị cho thân thể một vài kiểu
phản ứng khác nhau. Ví dụ sự giận dữ làm máu dồn lên bàn tay khiến cho một người chiến sĩ lấy
nhanh hơn một thứ vũ khí hay đánh kẻ thù và những hoocmon như adrenaline tiết ra rất mạnh để
giải thoát năng lượng cần cho một hành động quyết liệt. Sự sợ hãi đưa máu tới các cơ chỉ huy sự
vận động của thân thể như các cơ bắp chân chuẩn bị cho sự chạy trốn hay làm cho mặt tái đi vì máu
đã bị dồn đi nơi khác.
Các tác giả Nguyễn Xuân Thức, Nguyễn Quang Uẩn đều có chung một cách nhìn nhận rằng
“cảm xúc là động lực thúc đẩy con người hoạt động, là nhân tố điều khiển hành vi và hoạt động của
cá nhân” [51, tr.181][52, tr.165]. Cảm xúc có khả năng sản sinh ra một năng lượng vật chất và tinh
thần mạnh mẽ, thúc đẩy con người tích cực hoạt động để đạt được mục đích. Từ lâu, con người đã
nhận thấy rằng hiệu quả của bất cứ công việc nào phần lớn và trước hết phụ thuộc vào thái độ của
con người đối với công việc ấy. Nếu con người có thái độ tốt, đúng với hoạt động thì hiệu quả hoạt
động sẽ cao và ngược lại. Cảm xúc tích cực có tác dụng kích thích hoạt động của cơ tim, làm cho hô
hấp trở nên sâu hơn và nhanh hơn. Do đó, nó thôi thúc con người hoạt động, đem lại sức khỏe, kéo
dài tuổi thọ cho con người. Niềm vui làm con người trẻ lại, có sức làm việc tốt hơn, năng suất lao
động cao hơn, nhanh trí hơn trong việc giải quyết các nhiệm vụ do thực tế cuộc sống và công tác
học tập đặt ra. Những cảm xúc tích cực làm con người hảo tâm hơn, quan tâm đến nhau hơn, vị tha
và chân thành hơn. Những cảm xúc tiêu cực có thể làm giảm sức làm việc. Sự khiếp sợ có thể dẫn
đến cái chết đột ngột. Tâm trạng buồn rầu, đau khổ, sự phiền muộn có thể làm ngưng trệ hoạt động
tiêu hóa,… Cảm xúc tiêu cực làm rối loạn các hoạt động tâm lý khác của con người, có thể dẫn đến