Pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX - Pdf 54

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-------  -------

HÀ THỊ LAN PHƯƠNG

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG PHONG KIẾN VIỆT NAM
TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XIX

Ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số : 9 38 01 06

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương

HÀ NỘI - 2019


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Pháp luật tố tụng là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam
cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào thì pháp luật tố
tụng luôn có tầm quan trọng đặc biệt để thiết lập một thể chế quyền lực tư pháp nhằm
bảo vệ nhà nước, bảo vệ chế độ chính trị xã hội, duy trì công lý, đảm bảo quyền con
người, quyền công dân và những giá trị nhân văn của nhân loại.
Thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050,
Nhà nước Việt Nam đã thông qua bản Hiến pháp năm 2013, những chính sách chung từ
các kỳ đại hội Đảng, các Nghị quyết của Hội nghị trung ương, hoạch định cho nền tư
pháp và Tòa án trách nhiệm cải tổ toàn diện, từng bước hoàn thiện về cơ cấu tổ chức,


rằng: đó là ngôi nhà cổ rất đẹp, lâu ngày không ai sang sửa, bụi đã phủ mờ. Tác giả Vũ
Văn Mẫu đã viết: cổ luật Việt Nam là linh hồn trí não người xưa kết đúc lại cho thế hệ
chúng ta qua bao lớp phế hưng của lịch sử [35; 123; 131].
Theo thời gian và theo dòng lịch sử, những giá trị pháp lý truyền thống và phong
tục tập quán được phản ánh trong những quy phạm pháp luật cũng như thực tiễn ứng
dụng dường như vẫn đang tồn tại trong xã hội của chúng ta. Đó là pháp luật truyền
thống về hành chính quan chế, quân sự an ninh, đất đai tài sản, gia đình và hôn nhân,
dân sự và thừa kế, hương hỏa điền sản, tôn giáo và tín ngưỡng tâm linh. Truyền thống
pháp luật còn đó nhưng các công trình nghiên cứu chuyên sâu thì hầu như vẫn còn để
ngỏ. Muốn hoạch định được tương lai thì cần hiểu sâu về quá khứ. Đó là nguyên lý tất
yếu của tính kế thừa biện chứng và sự phát triển của sự vật hiện tượng khách quan.
Trong tiến trình hội nhập và phát triển, việc tìm hiểu và phát huy được những giá trị của
di sản pháp lý cha ông, trân trọng giữ gìn bảo lưu truyền thống pháp luật nhân văn của
dân tộc luôn là vấn đề thiết yếu của khoa học Việt Nam.
Với những lý do trên và mong muốn góp phần xây dựng nền tư pháp chuyên
nghiệp và chuẩn mực nhằm mục đích bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, nghiên
cứu sinh đã lựa chọn đề tài:“Pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến
thế kỷ XIX” làm luận án tiến sỹ luật học của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 . Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thông qua nghiên cứu quá trình hình thành phát triển, hình thức và nội dung của
pháp luật tố tụng PKVN từ thế kỷ XV – XIX, luận án làm sáng tỏ những thành tựu, giá
trị và khả năng tiếp thu, ứng dụng trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật tố tụng và cải
cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Thứ nhất, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước, khu vực và quốc
tế về pháp luật tố tụng quân chủ phong kiến Việt Nam. Từ đó chỉ ra những vấn đề đã
được nghiên cứu và những vấn đề còn bỏ ngỏ cần tiếp tục bổ sung.
Thứ hai, những vấn đề lý luận và lịch sử về pháp luật tố tụng của nhà nước quân

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận của luận án
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận triết học duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, luật học, sử học, kinh tế học, chính trị học, hành chính học và
logic học. Sử dụng phương pháp luận nghiên cứu kết hợp lịch sử so sánh (comparative
History), luật học so sánh (comparative Law) với tính kế thừa và phát triển.
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án đã sử dụng những phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã
hội và những phương pháp nghiên cứu đặc thù trong nghiên cứu khoa học pháp lý như:
Phương pháp thống kê: được sử dụng trong luận án nhằm tập hợp, đánh giá tình
hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, hệ thống tổ chức các cơ quan tư pháp tố tụng, các
văn bản pháp luật và nguồn sử liệu của các triều đại phong kiến Việt Nam.
Phương pháp hệ thống hóa: được sử dụng nhằm nhận diện và đánh giá cơ cấu tổ
chức hoạt động của cơ quan tố tụng trong mối liên hệ với tổ chức nhà nước PKVN. Sử
dụng phương pháp cấu trúc hệ thống để nghiên cứu kỹ thuật lập pháp, nghiên cứu về
trình tự thủ tục tố tụng, mối quan hệ giữa pháp luật tố tụng với các lĩnh vực pháp luật
khác, vị trí vai trò của pháp luật tố tụng trong hệ thống pháp luật chung.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng trong luận án nhằm nghiên cứu,
luận giải về các nội dung liên quan đến chủ đề luận án. Kết hợp phương pháp quy nạp,
diễn dịch, phân tích, chứng minh, giải thích, nhận xét đánh giá các chế định về tố tụng,
các quy định, chế tài áp dụng trong hoạt động xét xử và thi hành án.
Phương pháp luật học so sánh: được sử dụng trong luận án để làm sáng tỏ hệ
153


thống cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng, vấn đề thời hiệu, thời hạn, chứng cứ,
chứng minh, sự chuyển đổi thể chế và quy trình tố tụng qua các giai đoạn lịch sử.
Phương pháp xã hội học pháp luật: được sử dụng trong luận án nhằm khảo xét
thực tiễn lịch sử pháp luật tố tụng trong xã hội phong kiến. Nghiên cứu một số bản án
được ghi lại trong chính sử và dấu ấn của nó trong tâm thức dân tộc.

tính độc đáo, tiến bộ của một số chế định như: thẩm quyền và trình tự tố tụng, thủ tục tố
tụng, quy trình tố tụng, hoạt động và giám sát tố tụng, phân loại vụ việc trong tố tụng,
án lệ và các tiền lệ tư pháp, phạt tiền và chuộc hình phạt bằng tiền, chế độ Công đồng
Đình nghị, Thu thẩm và cơ chế liên ngành Tam pháp ty. Luận án đã nhận diện và phân
154


tích tính đặc thù của thể chế quyền lực tư pháp thời Lê Sơ – Lê Thánh Tông, Lê Trịnh
và triều Nguyễn trong nhà nước quân chủ phong kiến Việt Nam ở giai đoạn có nhiều
biến động lịch sử thế kỷ XV - XIX.
- Thứ ba, Luận án chỉ ra những giá trị lịch sử và đương đại cũng như một số giải
pháp tiếp thu kế thừa các giá trị đó trong quá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng, cải cách
tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo vệ bảo hộ quyền công dân và quyền con
người ở Việt Nam, khu vực và thế giới.
Pháp luật tố tụng PKVN thế kỷ XV - XIX có nhiều thành tựu đáng để nghiên
cứu và suy ngẫm. Kết quả nghiên cứu cho thấy pháp luật tố tụng ứng dụng trong giai
đoạn lịch sử thế kỷ XV – XIX và có giá trị tham khảo cho quá trình cải cách tư pháp
trong thời đại mới. Tiếp thu những giá trị của pháp luật tố tụng truyền thống trên tinh
thần chỉnh hợp có chọn lọc những yếu tố tiến bộ của pháp luật tố tụng, đó là yêu cầu và
trách nhiệm của khoa học pháp lý trong thực tiễn xã hội hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án làm sáng tỏ thực tiễn lập pháp, giá trị pháp lý của pháp luật tố tụng
truyền thống, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về lập pháp, xây dựng văn bản
pháp luật và áp dụng pháp luật tố tụng trong hoạt động tư pháp xét xử, đề ra các giải
pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng. Luận án cũng gợi mở hướng nghiên cứu một số văn
bản pháp luật thời Lê, Hội điển và Châu bản triều Nguyễn, so sánh với pháp luật tố tụng
thời thuộc Pháp và Việt Nam Cộng hòa để tìm ra giá trị và bài học cho đương thời.
7. Kết cấu của luận án
Nội dung của luận án ngoài lời cảm ơn, cam đoan, bảng ký hiệu viết tắt, mở đầu,
kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, gồm có 4 chương như sau:

Lịch triều Hiến chương loại chí (1819) của học giả Phan Huy Chú được coi là
công trình “Quốc chí” bách khoa thư nghiên cứu những giá trị cơ bản nhất của một thể
chế nhà nước trong đó có nội dung về kinh tế, chính trị, quân sự và pháp luật triều Lê.
Các mục như Dư địa chí, Nhân vật chí, Quan chức chí, Quốc dụng chí, Hình luật chí,
Binh chế chí, cho chúng ta cách nhìn tổng diện về cơ sở của chế độ hành chính tư pháp
PKVN. Nội dung pháp luật tố tụng từ năm 1625 đến năm 1765 và bộ QTKTĐL năm
1777 đã được tác giả Phan Huy Chú khảo lược, đánh giá. Theo đó “Các mục luật văn
gồm có hơn 700 điều, thật rất rõ ràng đầy đủ, dùng để nêu thể lệ xét xử, thích hợp với
dân tình, cân nhắc và thêm bớt, cho nên đủ để đối phó với các trạng thái biến hóa của
đời sống và ngăn ngừa người dân vi phạm. Để cho những người cầm nắm pháp luật,
gặp việc thì chước lượng theo đó mà xét nặng nhẹ, định thêm bớt.” [10, tr.389]. “Các
Lệ xét kiện chuẩn định năm Đinh Dậu đời Cảnh Hưng năm 1777, tham chước quy thức
các triều, hoạch định thống nhất rõ ràng, điều mục tỷ mỷ, không bỏ sót gì, người xét xử
sẵn có Luật thường để quyết định, có Lệ thường để thích ứng, nếu noi theo cẩn thận thì
dứt được tệ gian, bớt được hình ngục, mực thước không thể bỏ qua được”[10, tr. 407]
[9;11]. Với công trình này, có thể tìm hiểu về cơ sở và quá trình hình thành phát triển,
vị trí vai trò, đặc điểm và mối quan hệ của pháp luật tố tụng trong tổng thể pháp luật và

156


bộ máy nhà nước, về quan chế công vụ tư pháp, về tuyển bổ, giám sát, khảo khóa quan
lại hành chính quân sự tư pháp, về thẩm quyền tố tụng tối cao của vua và chúa.
Quốc triều Luật Lệ toát yếu (1919) do Tổng tài Cao Xuân Dục biên tập. Đây là
cuốn lược giản bộ HVLL triều Nguyễn, là tài liệu để nghiên cứu và đào tạo tại trường
Cao đẳng Luật Đông Dương thời thuộc Pháp, trong đó có phần pháp luật tố tụng và một
số văn bản bổ sung qua các triều vua Minh Mệnh, Tự Đức [59, tr.34, 218 - 227]. Đây là
công trình giúp cho người nghiên cứu hiểu cơ bản về pháp luật triều Nguyễn.
“Pháp chế sử”(1967) của Vũ Quốc Thông có thể được coi là công trình nghiên
cứu tiêu biểu nhất về chính thể quân chủ và tổ chức hành chính tư pháp PKVN. Học giả



những cách tổ chức pháp đình được ấn định rõ ràng mà cả các thể thức tố tụng như là
cách thức đệ đơn kiện, cách thức điều tra và xét xử các vụ tranh tụng, cách thức kháng
tố các bản án cũng đã được quy định một cách rất minh bạch.”[209, tr. 375]. Tuy
nhiên, triều Nguyễn lại chưa thể xây dựng được một bộ luật chuyên sâu về tố tụng như
QTKTĐL triều Lê – Trịnh.
Ưu điểm lớn nhất trong công trình Pháp chế sử Việt Nam của Vũ Quốc Thông là
có tầm nhìn tổng quát về các định chế pháp lý dưới góc độ luật học để tiếp cận hệ thống
tư pháp từ tổ chức bộ máy đến chức năng, thẩm quyền và các thủ tục tố tụng. Tuy
nhiên, các vấn đề trên cần nghiên cứu ở góc độ liên ngành quản lý hành chính quân sự
tư pháp trong hoạt động tố tụng. Các nguyên tắc hoạt động của các cơ quan có thẩm
quyền tư pháp điều chỉnh hoạt động tố tụng được Vũ Quốc Thông đề cập tuy còn sơ
lược, nhiều nội dung chưa chuyên sâu, chưa đầy đủ và toàn diện nhưng cách đặt vấn đề
của ông là rất khoa học.
GS.Vũ Văn Mẫu (1972 – 1975) có nhiều công trình nghiên cứu đại cương về chế
độ hành chính và tư pháp trong bộ QTHL và QTKTĐL thời Lê. Một số cuốn sách đã
được xuất bản như:“Cổ luật Việt Nam lược khảo”,“Cổ luật Việt Nam thông khảo”,“Cổ
luật Việt Nam và tư pháp sử”,“Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử diễn giảng” [145-149].
Các công trình nghiên cứu của GS.Vũ Văn Mẫu có tính chuyên sâu và đầy đủ nhất về
pháp luật phong kiến Việt Nam. Trong đó tác giả đi sâu chủ yếu ba ngành luật cơ bản là
dân sự, hôn nhân gia đình và hình sự; nghiên cứu về chế độ tư pháp, Tòa án và pháp
luật tố tụng trong các cuốn sách này có dung lượng hạn chế [146, tr.227- 266].
Công trình nghiên cứu “Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử Diễn giảng”(1974)
trong đó có phần“Đại cương về tổ chức tư pháp và tố tụng trong cổ luật” của GS.Vũ
Văn Mẫu [146, tr.227 - 265]. Nội dung tiếp cận về pháp luật tố tụng PKVN theo hai vấn
đề: Thứ nhất, là hệ thống Tòa án trong cổ luật gồm “cơ quan thoả xử, hệ thống các cơ
quan tài phán và sự kiểm soát các cơ quan tài phán”; Thứ hai, về thủ tục tố tụng, chủ
yếu tiếp cận về thụ lý việc kiện, thẩm vấn và phân xử. Tác giả đánh giá rất cao bộ
QTKTĐL và cho rằng: nếu như những quy định về chứng thư, chúc thư, vấn đề tài sản

sự, đất đai, thừa kế, hôn nhân gia đình và tố tụng phong kiến Việt Nam dưới góc nhìn
của cấu trúc pháp luật đương đại. Trong chuyên khảo có bài viết về Pháp luật tố tụng
của tác giả Hoàng Thị Minh Sơn [197]. TS.Trương Quang Vinh chủ biên cuốn chuyên
khảo“Tội phạm và hình phạt trong HVLL” (2008) chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ
pháp luật hình sự về tội phạm và hình phạt trong HVLL, đồng thời đưa ra nhận xét
chung về đường lối xử lý đối với tội phạm trong pháp luật triều Nguyễn [208]. Cuốn
sách“Quốc triều Hình luật, những giá trị lịch sử và đương đại góp phần xây dựng nhà
nước pháp quyền ở Việt Nam“(2008) dựa trên các bài viết tại Hội thảo về QTHL tại
Thanh Hóa do Bộ Tư pháp chủ trì theo chủ đề “QTHL, những giá trị lịch sử và đương
đại”, trong đó có hai nội dung nghiên cứu về pháp luật tố tụng trong bộ QTHL triều Lê
[190, tr. 381, 404].
Ngoài ra, nhiều học giả cũng có các công trình nghiên cứu như Bùi Xuân Đính
(1998) với “Lệ làng phép nước”,“Hương ước và quản lý làng xã”[79; 80]. Lê Đức Tiết
(1998, 2010) nghiên cứu về “Hương ước lệ làng”, về “Luật Hồng Đức” [215; 216].
Đinh Khắc Thuân (2006) chủ biên công trình biên dịch và nghiên cứu về các bản
Hương ước được lưu tại viện Hán Nôm với tiêu đề “Tục lệ cổ truyền làng xã Việt
Nam”[211]. Ngô Đức Thịnh (2014) với cuốn biên khảo “Luật tục trong đời sống các
tộc người ở Việt Nam” [208]. Đây là những công trình nghiên cứu hướng đến việc nhận
thức sâu hơn những giá trị của luật tập quán trong đời sống sinh hoạt của xã hội cộng
đồng, đặc biệt là các vùng đồng bào dân tộc miền núi. Việc giải quyết các tranh chấp
theo luật tục, hương ước và tính hiệu quả của phong tục tập quán cũng được các tác giả
đề cập đến. Đây là một hướng nghiên cứu kết hợp giữa luật nước với lệ làng, đặc biệt là
luật tục của các dân tộc miền núi với những giá trị bền vững của pháp luật cộng đồng.
159


Khoa Pháp luật Hành chính Nhà nước Đại học Luật Hà Nội có hai đề tài. Thứ
nhất là “Giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước trong nhà nước phong kiến Việt
Nam – Những suy ngẫm và bài học cho hôm nay" (2012)[117]. Thứ hai là“Chế độ trách
nhiệm công vụ ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử”(2017) [118]. Các bài viết tạp chí

cấp huyện phủ, các trấn ty ở xứ; kiểm soát án từ 3 cấp và hàng năm; Thứ hai: thủ tục tố
tụng: tương đối cụ thể gồm thụ lý việc kiện (đơn kiện và đơn tố cáo, sự thụ lý); thẩm
vấn (sự đòi hỏi nhân chứng và đương sự, sự tra khảo); sự phân xử (nơi xử án, thời hạn
xử án, phương pháp xử án). Tác giả nhận định “Pháp luật tố tụng triều Lê đã đạt được
nhiều thành tựu”. Mặc dù đã có những nghiên cứu về lĩnh vực tố tụng nhưng rất cần có
160


sự nhận định đánh giá toàn diện về tính gắn kết lợi ích của chế độ quân chủ với việc ban
hành bộ luật tố tụng chuyên ngành khi lý giải thêm về sự song trùng giữa quản lý hành
chính nhà nước và quản lý hoạt động về tố tụng.
Công trình nghiên cứu thứ hai:“Lịch sử luật Tố tụng Hình sự Việt Nam” (2003)
của TS.Trần Quang Tiệp [214, tr.7- 46]. Nội dung nghiên cứu sơ lược về cơ quan tiến
hành tố tụng; người tiến hành tố tụng là các Hình quan, người tham gia tố tụng với tư
cách là người làm chứng; nguồn chứng cứ và lời khai thông qua hỏi cung, đối chất, tra
khảo, đánh trượng, phạt tiền; Thủ tục xét xử; thời hạn xử các vụ kiện và các quy định về
trách nhiệm xét xử của quan chức. Theo đánh giá của nhà nghiên cứu Trần Quang
Tiệp:“Pháp luật tố tụng hình sự thời kỳ này đã đạt được một số thành tựu nhất định
trong việc quy định về các cơ quan tiến hành tố tụng, thủ tục thi hành án hình sự, thể
hiện tư tưởng nhân đạo, nhân văn trong hoạt động tố tụng hình sự của cha ông chúng ta
lúc bấy giờ”[214, tr.46]. Tuy nhiên, công trình này chủ yếu nghiên cứu sơ lược dưới
góc độ tư liệu lịch sử với một số điều trong văn bản QTHL và HVLL, còn nội dung các
bộ Hội điển thời Lê Sơ - Lê Thánh Tông và QTKTĐL văn bản chủ yếu về tố tụng lại
chưa được tiếp cận trong công trình này.
Công trình nghiên cứu thứ ba: Bài viết về “Pháp luật tố tụng PKVN trong bộ
QTHL” của TS. Hoàng Thị Minh Sơn được in trong cuốn “QTHL – Lịch sử hình thành
nội dung và giá trị” (2004) chủ biên là TS. Lê Thị Sơn. Nội dung khái lược về trình tự
tố tụng qua các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét hỏi, xét xử và thi hành án [197,
tr. 267 - 287]. Tác giả đã chỉ ra hai nguyên nhân phát triển của pháp luật tố tụng thời Lê
Sơ là do chế độ quân điền và nội chiến. Đồng thời khẳng định:“Lòng nhân ái của vị vua

Nguyễn (2002) [177, tr. 319 – 466].
Thứ hai, Luận văn thạc sỹ sử học với đề tài“Pháp luật và thực tiễn tố tụng Việt
Nam thế kỷ XV–XVIII”(2007) là công trình nghiên cứu so sánh pháp luật tố tụng từ thời
hình thành, qua Lý Trần, Lê Sơ đến thời Lê Trịnh thông qua các điều khoản trong Bộ
luật và Hội điển, thống kê văn bản pháp luật và các vụ án điển hình thời Lê. Tuy nhiên,
luận văn này chưa nghiên cứu được những VBPL quan trọng về tố tụng của triều vua
Lê Thánh Tông và chưa có sự so sánh với pháp luật tố tụng triều Nguyễn [178].
Thứ ba,“Khái quát về Tố tụng Hình sự ở Việt Nam thời kỳ phong kiến” nằm
trong số chuyên đề “Mô hình Tố tụng Hình sự Việt Nam” của Viện khoa học kiểm sát
(2010). Bài viết khái lược lịch sử lập pháp từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX và đánh giá
cao cách phân loại vụ việc trong quy trình tố tụng của QTKTĐL và nghiên cứu giản
lược về pháp luật tố tụng triều Nguyễn thời Gia Long (1802 – 1819) và Minh Mệnh
(1820 – 1840), nghiên cứu“Luật Hình về sự phán quyết bản án” trong bộ HVLL. Từ
đó, sơ đồ hóa hệ thống tư pháp qua các mô hình [Phụ lục – 4 Mô hình] [179, tr.5 - 102].
Thứ tư, “So sánh pháp luật tố tụng và thực tiễn áp dụng của nhà nước phong
kiến và nhà nước Việt Nam hiện nay” (2013). Qua so sánh, tác giả chỉ ra một số điểm
khác biệt về mục đích, phân loại, chủ thể, chức năng, giám sát và chế tài xử lý và hệ
quả tố tụng xưa và nay. Đồng thời chỉ ra 5 biện pháp đổi mới trong hoạt động tư pháp
và tạo lập cơ chế liên ngành trong hệ thống tư pháp hành chính [181, tr. 42 - 46].
Thứ năm, “Điểm tiến bộ và những vấn đề còn tồn tại trong mô hình tố tụng Việt
Nam hiện nay so với mô hình tố tụng của nhà nước PKVN trước đây”(2015). Qua
nghiên cứu, có thể nhận thấy mô hình tố tụng thẩm vấn xét hỏi thời quân chủ cũng có
nhiều ưu điểm như đảm bảo tính thống nhất, tính chuyên sâu, tính pháp chế, tính cụ thể
và hiệu quả trong áp dụng pháp luật. Xử lý vi phạm của quan lại xét xử trong cổ luật là
đặc biệt nghiêm khắc. Đây là một trong những giá trị của cổ luật VN [182, tr.26 - 31].
Thứ sáu, Đặc điểm pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến Việt Nam”
(2016) [184, tr. 26- 33]. Bài viết khái quát đặc điểm pháp luật tố tụng PKVN trên năm
phương diện: tư tưởng chính trị pháp lý và lập pháp; tiến trình xây dựng pháp luật tố
tụng; hình thức và cấu trúc tiến bộ; quy định pháp luật thông lệ về khám tụng, trách
162

học về sở hữu, về tính thống nhất liên ngành trong quản lý hành chính tư pháp, về hòa
giải dân sự và hiệu quả vụ án, về trách nhiệm của cấp chính quyền cơ sở, về án lệ và
đạo nghĩa gia đình trong đời sống dân sự tố tụng.
Nhìn chung, nghiên cứu về pháp luật tố tụng thời quân chủ phong kiến là một chủ
đề khó do tính phức tạp của vấn đề và tư liệu nên chưa được nghiên cứu đầy đủ, toàn
diện. Nghiên cứu để tìm ra giải pháp phù hợp trong thể chế tư pháp, kết hợp mô hình
xét hỏi thẩm vấn với tranh tụng để đạt hiệu quả công lý nhân quyền là vấn đề đã và
đang được giới chính trị và luật pháp quan tâm, thiết kế, thử nghiệm. Trong thời đại
toàn cầu hóa, tư pháp tụng đã dần phải nhường chỗ cho sức mạnh của công pháp tụng;
huy động sức mạnh của cả thể chế và công luận xã hội để hướng đến bảo vệ con người.

163


1.1.2. Tình hình nghiên cứu pháp luật tố tụng của nhà nước
phong kiến Việt Nam ở nước ngoài
Nghiên cứu chung về lý luận & lịch sử pháp luật thời quân chủ
Một thực tế ở Việt Nam, khu vực và trên thế giới là nghiên cứu chuyên sâu về lý
luận và lịch sử pháp luật tố tụng PKVN còn khá sơ lược, chưa đầy đủ, chưa toàn diện
còn nhiều khoảng trống [57, tr.14]. Xét tổng quan trong kho tàng tư liệu phương Tây
viết về lịch sử Việt Nam, có thể phân biệt thành ba giai đoạn: Giai đoạn một: thời quân
chủ phong kiến từ (1639 -1651- 1789 -1802 - 1858); Giai đoạn hai: thời thuộc Pháp
(1862 -1884 -1945); Giai đoạn ba: từ 1945 đến nay. Các học giả chủ yếu nghiên cứu về
lịch sử xã hội, quan lại và pháp luật thời Lê, Nguyễn. Có thể kể đến một số công trình
như:“History of Tonquin” của học giả Pinkerton John viết về lịch sử Đàng Ngoài; Công
trình“Community and Revolution in Modern Việt Nam” của Alexander B.Woodside
nghiên cứu về làng quê Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại [234, 235, 236]. Công
trình của LiTana “Nguyen Cochinchina, Southern Vietnam in the Seventeenth and
Eighteenth Centuries”với nội dung nghiên cứu về lịch sử chúa Nguyễn Đàng Trong
[243, tr.174]. Công trình“Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam” tác giả Emmanuel Poisson

de I’Ancien An nam. Traduction et Commentaire du Code des Lê) [141; 238]. Tác giả
Lingat về:“Các chế độ hôn sản tại Đông Nam Á” Paris 1952 (Les resgimes matrionaux
dans le Sud – Est Asiatique) [57, tr.14], nội dung cơ bản nghiên cứu so sánh lĩnh vực
hôn nhân và gia đình, bước đầu nói đến hệ thống tư pháp, pháp đình làng xã, hương ước
và luật pháp về tài sản gia đình truyền thống Việt Nam.
Luật sư Phan Văn Trường (1875 – 1933) đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ luật
đầu tiên của người An Nam tại Đại học đường Paris vào những năm 20 của thế kỷ XX
về pháp luật triều Nguyễn. Đề tài bảo vệ của ông là“Những điểm tương đồng và dị biệt
giữa HVLL và Đại Thanh Luật lệ”. Luận án được xuất bản thành sách bởi Librairie
moderne de droit et de jurisprudence Ernest sagot et Cie – Paris1. Trong đó tác giả đã
phân tích so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa HVLL và Đại Thanh luật lệ
Trung Quốc.“Đây là một công trình bề thế và tầm cỡ về việc nghiên cứu có tính khoa
học hiện đại tại phương Tây về bộ luật triều Nguyễn Việt Nam” [31, tr.12]. Trong đó có
phần nghiên cứu “Luật hình về sự phán quyết bản án”. Tác giả cho rằng, bộ luật triều
Nguyễn vẫn có nhiều nội dung khác biệt so với luật Đại Thanh. M.Aikyo, T.Inaco
(1993) Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam, cũng đã có những đánh giá cơ bản về
quyền tư hữu đất đai trong truyền thống cổ luật Việt Nam [141].
Tại Hoa Kỳ, tác giả Nguyễn Ngọc Huy, Tạ Văn Tài với“Le code des:Quoc Trieu
Hinh Luat ou lois penales de la dynastie nationale”. Nguyễn Ngọc Huy, Tạ Văn Tài và
Trần Văn Liêm là tác giả đã dịch bộ QTHL sang tiếng Anh và có bài nghiên cứu chung
về:“Luật truyền thống Việt Nam” [238, tr.173].
Học giả InsunYu người Hàn Quốc trong cuốn“Pháp luật với xã hội Việt Nam thế
kỷ XVII - XVIII” đã nghiên cứu một số nội dung về thủ tục tố tụng của chính quyền cấp
xã, huyện (châu), phủ, xứ thừa tuyên trong “QTKTĐL” và có nhận định: “Trong bộ sách
này, sự sắp xếp các vụ án được phân chia thành 31 chương, tùy theo tính chất của các vụ
án đó. Giá trị của “QTKTĐL” là nhằm thúc đẩy việc giải quyết công bằng và nhanh
chóng các vụ kiện vì lợi ích của nhân dân”[113, tr. 65]. Học giả InSunYu đã nhận xét
vấn đề tố tụng trong chính quyền Lê Trịnh ở một góc độ khác. Ông cho rằng“Sự bất
công trong tố tụng một phần là do sự sa đọa của các quan chức, một phần là do sự can
thiệp của các nhóm có quyền thế”[113, tr. 64]. Tác giả trích lời của Samuel Baron rằng:

có thể đánh giá được các công trình trước đây đã nghiên cứu đến đâu.
Có thể chia thành hai loại hệ thống tư liệu cơ bản: Thứ nhất: văn bản pháp luật;
Thứ hai: các bộ sử biên niên và thư tịch. Trong đó, văn bản pháp luật, các Bộ luật, Hội
điển, Điển chế được coi là tư liệu gốc căn bản nhất 2; Các bộ sử biên niên ghi chép chi
tiết về quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật trong đời sống xã hội. Trên cơ sở đối
chiếu và so sánh sự tác động của pháp luật đến xã hội hiện thực, đến nền kinh tế, chính
trị, tập quán, tập tục và ngược lại. Sự so sánh hai chiều sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về
pháp luật tố tụng từ quan điểm lập pháp, thể chế, quy phạm đến việc áp dụng pháp luật,
tất cả được phản ánh và ghi nhận trong thực tiễn của lịch sử xã hội. Đồng thời qua đó
đánh giá được quá trình xây dựng pháp luật tố tụng, lý giải nguyên nhân phát triển và
tìm ra được những thành công và hạn chế của toàn bộ hệ thống pháp luật thời kỳ này3.
Học giả Vũ Quốc Thông khuyến nghị rằng: đối với tài liệu viết bằng Pháp văn, Hán văn
hay một ngoại ngữ khác mà tác giả là người ngoại quốc, ta cần phải hết sức thận trọng
Cách phân loại văn bản pháp luật thời quân chủ PKVN chủ yếu bao gồm: Các Bộ luật, các tập Hội điển, Điển
chế; Các văn bản pháp luật đơn hành vua ban như: Chiếu, Dụ, Chỉ, Sắc, Lệnh, Lệ; Chế, Cáo; Các văn bản có sự
phê duyệt của Hoàng đế như: Chuẩn định, Chuẩn Đình nghị, Châu bản triều Nguyễn; Các văn bản hành chính
triều Lê Trịnh Nguyễn như: Biểu, tấu, sớ; Khải văn, Cẩn khải văn; Truyền, Sai, Phó, Công di, Khiển; Các văn bản
pháp luật ở đơn vị hành chính địa phương cơ sở làng (thôn) xã như: Hương ước, Khoán lệ, Khoán ước, Lệ làng.
Ngoài ra còn có Luật tục lưu truyền được tôn trọng và thực thi trong đời sống của các dân tộc Tày, Thái, Mường,
Dao (Tây Bắc), Ê đê, Gialai, Bana (Tây Nguyên), đặc biệt là các tập tục về Hôn nhân Gia đình, nghi lễ, tâm linh,
tôn giáo và xử phạt vi phạm theo phong tục tập quán. Việt Nam là dân tộc thống nhất trong tính đa dạng văn hóa.
3
Xin xem phần Phụ lục 1 - do giới hạn của số trang nên luận án chỉ trình bày sơ lược nội dung các VBQPPL tố
tụng PKVN trong các bộ Hội điển, Điển chế và các Bộ luật của các triều Lê Trịnh Nguyễn.
2

166


vì tác giả các tài liệu này rất có thể không am tường phong tục, tập quán của dân ta, và

chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, khách quan, toàn diện. Không những thế, còn
có những nhận định chưa thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về những đóng góp của
triều Lê Thánh Tông, Lê Trịnh và triều Nguyễn về hình thức, nội dung, thủ tục, hiệu
quả và tính công lý của tòa án.
1.2.3. Những vấn đề cần được nghiên cứu bổ sung hoặc chưa được đặt ra
Có thể nhận thấy, về lý luận lịch sử, hình thức, nội dung, thực tiễn áp dụng và giá
trị của pháp luật tố tụng PKVN đều cần phải được nghiên cứu bổ sung mới có thể đưa ra
những nhận định khách quan, toàn diện và đúng đắn. Sự lo lắng về nền chính trị kiểu
167


phương Đông cũng có thể làm khó khăn hơn cho những nhận diện trung thực và minh
bạch về pháp luật tố tụng nói chung và án từ nói riêng trong quá trình lịch sử.
Về lý luận và lịch sử pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam. Cần làm sáng tỏ thêm
khái niệm, vị trí vai trò, nguyên tắc, đặc điểm, bản chất của pháp luật tố tụng; về cơ cấu
tổ chức, về các chủ thể tham gia quá trình tố tụng qua các giai đoạn lịch sử PKVN.
Về pháp luật tố tụng trong các Bộ luật, Hội điển và các văn bản đơn hành.
Về hình thức, cần nghiên cứu mối liên hệ giữa các văn bản pháp luật từ Bộ luật đến
Hội điển, từ luật hình thức đến luật nội dung và luật thủ tục. Theo đó, Bộ luật có cấu trúc
từ phần Danh Lệ đến Bản Điều, quy trình định tội lượng hình đều có sự thống nhất, ngắn
gọn, dễ hiểu và cụ thể khi áp dụng; Nghiên cứu về tố tụng dân sự, quan chế hành chính.
Về so sánh pháp luật tố tụng thời Lê Thánh Tông, Lê Trịnh và Triều Nguyễn.
Luận án sẽ làm sáng tỏ thêm về các văn bản chuyên sâu về pháp luật tố tụng
như:“Hồng Đức niên gian chư cung thể thức”,“Nhân mạng tra nghiệm pháp”,“Từ tụng
điều lệ”,“Quốc triều khám tụng điều lệ”, mối quan hệ của các VBPL này với QTHL.
Luận án cũng có thể so sánh để thấy được một số thành tựu và giá trị tiến bộ của luật tố
tụng triều Nguyễn, từ Hội điển đến HVLL, từ Điều luật đến Điều lệ. Vấn đề ứng dụng
linh hoạt quy luật giá trị trong hoán đổi hình phạt, chuộc hình phạt bằng tiền.
Về xây dựng mô hình pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến Việt Nam thế kỷ
XV - XIX. Có thể nhận thấy, mô hình pháp luật tố tụng PKVN có rất nhiều giá trị mà có

(1) Những vấn đề lý luận và lịch sử về pháp luật tố tụng PKVN là gì ?
(2) Những đặc điểm đặc trưng bản chất của pháp luật tố tụng PKVN ?
(3) Mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính - tư pháp quân chủ PKVN?
(4) Hình thức và nội dung cơ bản của pháp luật tố tụng PKVN thế kỷ XV - XIX ?
(5) Những thành tựu, hạn chế và những bài học kinh nghiệm của PLTTPKVN?
(6) Những giá trị lịch sử và đương đại của pháp luật tố tụng PKVN ?
1.3.3. Những giả thuyết nghiên cứu của đề tài
Với mục đích và câu hỏi nghiên cứu của đề tài, tác giả đặt ra một số giả thiết
nhằm giải quyết vấn đề khoa học và đúng hướng.
Giả thuyết 1: Về những vấn đề lý luận & lịch sử pháp luật tố tụng PKVN
Có sự kết hợp hài hòa yếu tố Đại Việt & Trung Hoa trong nhà nước pháp luật
PKVN nói chung cũng như trong tổ chức tư pháp và pháp luật tố tụng nói riêng; Không
có hệ thống Tòa án độc lập, không có chức danh Thẩm phán chuyên nghiệp trong chính
thể quân chủ PKVN; Tuyển bổ chặt chẽ, khảo khóa nghiêm ngặt và xử lý nghiêm khắc
quan chức vi phạm pháp luật là một đặc điểm của pháp luật tố tụng phong kiến Việt
Nam; Lê Thánh Tông là vị hoàng đế ban hành Bộ luật tố tụng đầu tiên trong lịch sử lập
pháp Việt Nam; Minh Mệnh là vị vua đề cao Pháp trị trong tố tụng hình án.
Giả thuyết 2: Về hình thức & nội dung pháp luật tố tụng PKVN
Không có “Bộ luật Hồng Đức” ở Việt Nam; Luật tố tụng chuyên ngành được ban
hành từ thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497); Việt Nam là một trong những quốc gia ban
hành Bộ luật tố tụng sớm nhất trên thế giới; Pháp luật tố tụng PKVN được thiết kế xây
dựng khá đầy đủ về hình thức, nội dung, thủ tục văn bản pháp điển; Giám sát tố tụng,
phân loại vụ việc và “Lệ án” là những giá trị đặc sắc nhất trong quy định và áp dụng
pháp luật tố tụng của PKVN.
Giả thuyết 3: Về những ưu điểm & hạn chế của pháp luật tố tụng PKVN
Pháp luật tố tụng PKVN có nhiều ưu điểm: về lập pháp, về hình thức, nội dung
& thủ tục; Thi hành án cũng có nhiều quy định tiến bộ như:“Phép nhuận đồ”,“Chuộc
hình phạt bằng tiền”,“Giảo trảm giam chờ”, chế độ Thu thẩm. Giám sát quyền lực tư
pháp; chống độc quyền tòa án là bài học kinh nghiệm quan trọng để xây dựng nền cộng
hòa dân chủ hướng tới quyền con người trong Nhà nước Pháp quyền.

nhà nước phong kiến Việt Nam đạt khá nhiều thành tựu.
Để nhận diện được khách quan toàn diện về nền cổ luật truyền thống kết nối với
đương đại theo nguyên lý “ôn cố nhi tri tân” rất cần có công trình nghiên cứu sâu hơn
về chủ đề “Pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX” theo
góc nhìn phổ rộng, nhận diện đầy đủ về lịch sử pháp luật tố tụng. Tìm hiểu về quan niệm
khái niệm, về cơ sở lý luận và thực tiễn của đời sống pháp luật tố tụng trong bức tranh
tổng thể xã hội, trong bối cảnh lịch sử trong nước và khu vực, trong trình độ kinh tế,
chính trị của thể chế phong kiến quân chủ chuyên chế.

170


Chương 2
NHẬN DIỆN VỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG PHONG
KIẾN VIỆT NAM THẾ KỶ XV – XIX
2.1. Những vấn đề lý luận về pháp luật tố tụng PKVN thế kỷ XV - XIX
2.1.1. Những vấn đề lý luận chung về pháp luật tố tụng
2.1.1.1. Sơ lược lịch sử pháp luật tố tụng
Lịch sử loài người từ xa xưa đã manh nha hình thành quan niệm cơ bản về hoạt
động tố tụng. Khi đó, vai trò quan tòa thường là các vị thủ lĩnh, các tù trưởng, tộc
trưởng, các vị vua chúa của các thị tộc, bộ lạc của nhà nước sơ khai. Bước sang thời kỳ
cổ trung đại, các nhà nước ở phương Đông như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung
Quốc, các nước Trung Đông, Đông Á, Đông Nam Á dần hình thành nhà nước quân chủ
và hệ thống pháp luật thành văn để củng cố quyền lực chuyên chế với nguyên tắc quân
quyền tối cao thuộc về các Pharaon, các Calipha, các tăng lữ, giáo chủ, nhà vua, vương
hầu, lãnh chúa. Họ đồng thời là nhà cầm quyền, quan tòa, thủ lĩnh quân sự tối cao, có
đặc quyền đẳng cấp quý tộc theo nguyên tắc tôn quân cha truyền con nối.
Khác với loại hình nhà nước quân chủ chuyên chế phương Đông là nền cộng hòa
Hy Lạp và La Mã cổ đại. Điển hình là nền cộng hòa dân chủ chủ nô Athens, nơi mà các
công dân có tài sản được định giá bằng các medin lương thực, họ có quyền tham gia

kể, góp phần xây dựng nhà nước pháp luật trong thế kỷ XV – XIX và có ảnh hưởng lâu
dài trong tiến trình lịch sử.
2.1.1.2. Quan niệm, khái niệm về pháp luật tố tụng
Pháp luật tố tụng hình thành từ những nhu cầu của xã hội, khi nảy sinh những
tranh chấp, những hành vi có tính chất gây nguy hiểm cho xã hội đòi hỏi cần phải có sự
phán xử công bằng thông qua các thủ tục nhất định. Trong pháp luật PKVN, không có
định nghĩa khái niệm về “pháp luật tố tụng” mà chỉ có khái niệm về luật lệ “Khám
tụng” (tra khám kiện tụng), “Bộ vong” (truy bắt), “Từ tụng” (đơn từ kiện tụng), “Chư
cung” (khảo cung), “Đoán ngục” (xử đoán, quản ngục) và “Luật hình về sự phán quyết
bản án” (luật tố tụng xét xử).
Nghiên cứu về khái niệm “tố tụng”, từ điển Hán Việt giải thích:“Tố là báo, là nói
ra, tố cáo; Tụng là kiện cáo, tranh cãi đúng sai” [221, tr.545]. Từ điển Việt Pháp cũng
có nghĩa tương tự: là tố cáo (acccuser, dénoncer), tố tụng, kiện tụng, vụ kiện, tranh cãi,
tranh kiện (procès, plaider, cause, contester, litige) [86, tr.771-1003-1113]. Theo từ điển
Anh Việt thì: tố tụng là kiện tụng, tranh tụng, tranh chấp, cửa kiện (law litigate) theo
nghĩa là hầu toà, dự phiên tòa; kiện cáo, tranh chấp trước toà; là quá trình tố tụng bằng
thủ tục pháp lý, trát đòi, lệnh toà (process) [172, tr.126]. So sánh những nội dung liên
quan đến tố tụng được giải thích một cách ngắn gọn nhất qua các từ điển để hiểu được
phần nào sự phân biệt của hệ thống tố tụng theo quan điểm của phương Đông và
phương Tây. Nếu như phương Đông trong hoạt động xét xử chủ yếu dựa trên hồ sơ thủ
tục quan án xét hỏi tại tòa thì phương Tây hướng vào tranh tụng của các bên trước toà.
Thủ tục tố tụng của các nhà nước phương Đông thường được quyết định bởi quyền cao
nhất của nhà vua thì ở phương Tây ngoài nhà vua, còn phải chịu sự chi phối của Hội
đồng thẩm phán, Tòa án Giáo hội Thiên chúa, Tòa Lãnh chúa, Chính quyền tự quản
thành phố, Bồi thẩm đoàn và tổ chức Luật sư. Nhìn tổng thể, pháp luật tố tụng ở các
nước phương Đông tính độc quyền chuyên chế cao hơn ở các nước phương Tây.
Định hình quan niệm pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng nói riêng của nhà
nước phong kiến Việt Nam từ xưa đến nay, về cách hiểu cũng không hoàn toàn đồng
nhất. Các triều đại thường coi trọng mục đích của việc ban hành pháp luật là củng cố
chính quyền, xử lý vi phạm, hướng tới an dân, bảo đảm công bằng và ổn định xã hội.

và xã hội cộng đồng, hướng đến công lý, công bằng, ổn định và phát triển.
Trong lịch sử, pháp luật tố tụng là những quy tắc định khung cho hành vi của các
chủ thể trong quá trình xử lý một vụ án mà các bên đều phải tuân thủ. Các quy định đối
với bên nguyên, bên bị, bên tòa và các bên có liên quan đều phải tuân theo luật nội dung
và các luật về hình thức và thủ tục. Công lý và công bằng, khách quan và đồng thuận,
hài hòa và phát triển bền vững là mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng.
Thực ra việc phân tách khái niệm pháp luật tố tụng chỉ có ý nghĩa về lý luận, còn
trong thực tế, pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng nói riêng, đều bắt nguồn từ cuộc
sống xã hội. Nó chỉ có ý nghĩa khi trở về với cuộc sống thực tiễn, để bảo vệ con người
trên mọi phương diện. Liên quan đến khái niệm pháp luật tố tụng, cần tìm hiểu những
khái niệm khác có liên quan như thẩm quyền tố tụng, thủ tục tố tụng, trình tự tố tụng,
quy trình tố tụng, hoạt động tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng.
2.1.1.3. Một số khái niệm khác có liên quan đến tố tụng pháp
Thẩm quyền tố tụng: Thẩm quyền tố tụng là quyền hạn được nhà nước, nhà vua
trao cho một số chức sắc đảm nhận các hoạt động tố tụng. Cụ thể như, thẩm quyền xét
xử được thực hiện bởi quyền tài phán của Tòa án về một vụ án hay một vụ việc nào đó
trong một đơn vị địa lý. Mỗi hình thức nhà nước hoặc mỗi quốc gia đều có các quy định
về thẩm quyền tố tụng khác nhau. Các quan phải thực hiện đúng chức trách của mình và
phải làm đúng pháp luật. Ví dụ, trong Hoàng triều quan chế triều Lê quy định: Ở trung
ương,“Ngự sử án sát để hặc tâu các quan làm việc sai trái, soi xét ẩn khuất cho dân”
“Hình khoa xem xét công việc xử án của Hình bộ phải trái như thế nào”[24, tr. 452454]. Ở địa phương, theo điều 672 – QTHL quy định: “Nhân dân trong lộ, trong huyện
có việc tranh kiện nhau, việc rất nhỏ đến kiện ở xã quan; việc nhỏ đến kiện ở huyện
quan; việc trung bình đến kiện ở quan phủ lộ; còn việc lớn thì phải đến kinh thành; các
quan kể trên phải xét xử cho công bằng đúng pháp luật. Có thể nhận thấy, thẩm quyền
174



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status