ĐÁNH GIÁ SỰ HÌNH HÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIAI ĐOẠN TỐ TỤNG TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ NĂM 1988 ĐẾN NAY VÀ SO SÁNH VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI - Pdf 39

ĐÁNH GIÁ SỰ HÌNH HÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIAI ĐOẠN TỐ
TỤNG TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ NĂM 1988
ĐẾN NAY VÀ SO SÁNH VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Giảng viên HD: TS. Võ Thị Kim Oanh
Học viên: Nguyễn Văn Nhựt
MSHV: 1583040416
Lớp: Cao học Luật Sóc Trăng khóa 1
1. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Giai đoạn ở tố tụng hình sự là vấn đề đầu tiên mà khoa học Luật tố tụng hình
sự cần phải làm rõ trước khi bắt tay vào nghiên cứu những vấn đề về các giai đoạn tố
tụng hình sự. Trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ trước đến nay, nhà làm luật
nước ta chưa bao giờ ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm này. Tuy nhiên, dưới
góc độ khoa học khái niệm giai đoạn tố tụng hình sự có thể được định nghĩa là bước
của quá trình tố tụng hình sự tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư
pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện
các nhiệm vụ cụ thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải
quyết vụ án hình sự một cách công minh và khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
Như vậy, khái niệm trên đây của một giai đoạn tố tụng hình sự cho phép khẳng
định rằng, bản chất pháp lý của một giai đoạn tố tụng hình sự, với tính chất là bước
của quả trình tiến hành tố tụng hình sự nhất thiết phải được thể hiện bằng ba đặc điểm
chung cơ bản mà bất kỳ giai đoạn tố tụng hình sự nào cũng bắt buộc phải có:
- Giai đoạn tố tụng hình sự phải tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt
động tư pháp hình sự như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
- Chức năng nhất định đó là đặc trưng chỉ của từng loại chủ thể (cơ quan hoặc
người) tiến hành tố tụng (chứ không phải là của tất cả) có thẩm quyền thực hiện. Ví
dụ: Điều tra là một giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng chức năng nhất định là điều
tra vụ án hình sự mà chức năng đó là đặc trưng chỉ của hai loại chủ thể tiến hành tố
tụng thực hiện - Cơ quan điều tra (trong đại đa số những trường hợp) và Viện kiểm sát
(trong một số ít trường hợp), chứ không thể là Tòa án.
- Giai đoạn tố tụng hình sự phải có nội dung là thực hiện các nhiệm vụ cụ thể
trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhằm giải quyết vụ án hình sự

đoạn sau: Khởi tố và điều tra vụ án hình sự; xét xử sơ thẩm; xét lại bản án và quyết
định chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm; thi hành bản án và quyết định
của tòa án; xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Theo quan điểm khoa học: Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ là xác định bằng
được chân lý khách quan của vụ án thì giai đoạn tố tụng được chia thành các giai đoạn
sau:
- Thứ nhất, Giai đoạn điều tra: Được tính từ khi nhận được tố giác, tin báo về
tội phạm.
Nhiệm vụ: Kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không
khởi tố vụ án hình sự, tiến hành các hoạt động điều tra thu thấp chứng cứ theo quy
định của pháp luật.
Chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự là: Cơ quan điều tra
(Thủ trưởng, Phó thủ trưởng, Điều tra viên), Viện kiểm sát (Viện trưởng, Phó viện
trưởng, Kiểm sát viên).
Các hoạt động tố tụng đặc trưng: Tiến hành các hoạt động điều tra theo quy
định của pháp luật như hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại,
đối chất, nhận dạng, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, khám nghiệm hiện
trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra,… nhằm để thu thập chứng cứ.
2


Thời hạn điều tra phân theo thẩm quyền đối với cấp huyện kể cả gia hạn không
quá 08 tháng; đối với cấp tỉnh kể cả gia hạn không quá 12 tháng; cấp Trung ương kể
cả gia hạn không quá 12 tháng và trong trường hợp đặc biệt đối với tội đặc biệt nguy
hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
quyền gia hạn thêm.
Văn bản tố tụng đặc trưng như: Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết
định không khởi tố vụ án hình sự, Quyết định phân công Phó thủ trưởng, Quyết định
phân công Điều tra viên, Quyết định khởi tố bị can, các Lệnh, các Đề nghị phê
chuẩn,…Bản kết luận điều tra vụ án hình sự.

3


quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và tiến hành các
phương pháp điều tra, thẩm vấn công khai tại phiên tòa,…
Thời hạn 45 ngày đối với tội ít nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội nghiêm trọng
kể từ khi nhận hồ sơ vụ án và đối những vụ án phức tạp thì Chánh án Tòa án cấp trên
trực tiếp có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử thêm 01 tháng. Đối với vụ
án được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày sau khi nhận lại hồ
sơ, thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Văn bản tố tụng đặc trưng như: Quyết định đưa vụ án ra xét xử; hoặc Quyết
định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều
tra bị can; Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can…
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 chỉ là sự pháp điển hóa các quy định về tố
tụng hình sự trong các luật về tổ chức của các cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, Tòa
án nhân dân và các văn bản quy phạm dưới luật trước đó. Do vậy, hệ thống tố tụng
cũng như thực tế hoạt động tố tụng ở nước ta về cơ bản không có sự chuyển biến mới
về chất. Do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hệ thống pháp luật Cộng hòa Pháp và sau
này là mô hình tư pháp của các nước xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là Liên Xô, nay là
Cộng hòa Liên bang Nga) đã định hình ở nước ta mô hình tố tụng thẩm vấn. Tuy chưa
có ý thức sâu sắc về thuật ngữ “tranh tụng” nhưng nội dung của Bộ luật tố tụng hình
sự năm 1988 đã thể hiện một số nội dung cơ bản của tranh tụng, tuy còn ít ỏi nhưng
được xem là tất yếu của quá trình phát triển.
2.1.2. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:
Căn cứ vào kết cấu của Bộ luật thì giai đoạn tố tụng được chia thành các giai
đoạn sau: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự và quyết định việc truy tố; xét xử sơ thẩm;
xét xử phúc thẩm; thi hành bản án và quyết định của tòa án; xét lại bản án và quyết
định đã có hiệu lực pháp luật.
Theo quan điểm khoa học: Mục đích chung của hoạt động chứng minh trong
mỗi giai đoạn tố tụng là xác định sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên, xuất phát

chứng cứ để chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội.
Chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn này là Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát.
Các hoạt động tố tụng đặc trưng như: Ra Quyết định khởi tố bị can; áp dụng
biện pháp ngăn chặn ra các Lệnh; các Đề nghị phê chuẩn…và tiến hành các hoạt động
điều tra theo quy định của pháp luật như hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm
chứng, người bị hại; đối chất; nhận dạng; khám xét, thu giữ, tạm giữ; kê biên tài sản;
thực nghiệm điều tra; giám định…để thu thập chứng cứ.
Thời hạn điều tra trong giai đoạn này được luật cho phép là tương đối dài (như
đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng “tội xâm phạm an ninh quốc gia” kể cả các lần
gia hạn tổng cộng thời hạn điều tra là 24 tháng) để có thể tiến hành mọi biện pháp
điều tra cần thiết nhằm thu thập một cách đầy đủ nhất các chứng cứ về hành vi phạm
tội của bị can.
Văn bản tố tụng đặc trung giai đoạn này là: Quyết định khởi tố bị can; các
Lệnh; các Đề nghị phê chuẩn; các Quyết định như Quyết định truy nã, Quyết định ủy
thác điều tra…; Bản kết luận điều tra vụ án hình sự.
- Thứ ba, Giai đoạn truy tố: Được tính từ khi Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ
án và Bản kết luận điều tra do Cơ quan điều tra chuyển sang.
Nhiệm vụ: Kiểm tra, đánh giá lại các chứng cứ thu thập được trong giai đoạn
điều tra có trong hồ sơ vụ án để đưa ra một trong các quyết định như truy tố bị can
trước Tòa án; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra vụ án,
bị can.
Chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự là: Viện kiểm sát (Viện
trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên).
5


Các hoạt động tố tụng đặc trưng như: Nghiên cứu hồ sơ vụ án, kiểm tra, đánh
giá lại các chứng thu thập được trong giai đoạn điều tra có trong hồ sơ vụ án từ đó để
đưa ra một trong các quyết định như truy tố bị can trước Tòa án bằng Bản cáo trạng;

biệt nghiêm trọng. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án
ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Tòa án
có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày. Đối với vụ án được trả lại hồ sơ để điều
tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày sau khi nhận lại hồ sơ, thẩm phán phải ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử.

6


Văn bản tố tụng đặc trưng như: Quyết định đưa vụ án ra xét xử; hoặc Quyết
định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều
tra bị can; Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can…
Như vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã thể chế hóa một bước chủ
trương, đường lối cải cách tư pháp của Đảng thể hiện trong Nghị quyết 08 của Bộ
Chính trị - là văn kiện đầu tiên của Đảng đề ra định hướng xây dựng mô hình tố tụng
hình sự Việt Nam có yếu tố tranh tụng. Bộ luật tố tụng hình sự 2003 vẫn tiếp tục khắc
họa mô hình tố tụng hình sự với những đặc điểm của hệ thống tố tụng thẩm vấn hết
sức đậm nét và đã chú trọng xây dựng các quy định mang yếu tố tranh tụng, trên cơ sở
tiếp thu những nội dung tích cực và phù hợp từ mô hình tố tụng tranh tụng một số
nước trên thế giới. Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng chưa thể chế
hóa được toàn bộ yêu cầu về tranh tụng trong tố tụng hình sự theo tinh thần cải cách
tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08, đặc biệt là tranh tụng tại phiên tòa.
2.1.3. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Căn cứ vào kết cấu của Bộ luật thì giai đoạn tố tụng được chia thành các giai
đoạn sau: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự; truy tố; xét xử vụ án hình sự; thi hành bản
án và quyết định của tòa án; xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Quan điểm khoa học: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 khẳng định việc tiếp
tục duy trì và phát huy những ưu điểm vốn có của mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn
hiện hành ở nước ta; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực của mô
hình tố tụng tranh tụng các nước trên thế giới phù hợp với truyền thống văn hóa, điều

Giai đoạn 4: Xét xử sơ thẩm. Giai đoạn này bắt buộc Kiểm sát viên, bị cáo và
người bào chữa, nếu có phải tham gia. Người bị hại cũng có thể tham gia phiên tòa
xét xử và thực hiện các quyền như một bên.
Giai đoạn 5: Phúc thẩm quyết định của Tòa án sơ thẩm - Kháng cáo phúc thẩm
hoặc giám đốc thẩm. Trong giai đoạn này, phán quyết của Tóa án sơ thẩm bị kháng
cáo lên Tòa án cấp cao hơn. Chỉ sau giai đoạn này thì phán quyết đó mới có hiệu lực.
Kháng cáo giám đốc thẩm thường tập trung vào hồ sơ và thủ tục lập tại phiên tòa xét
xử là dạng kháng cáo phổ biến nhất.
Giai đoạn 6: Xem xét lại quyết định của Tòa án cấp dưới. Giai đoạn này là giai
đoạn kháng cáo thứ ba và là giai đoạn kháng cáo cuối cùng đối với những quyết định
đã có hiệu lực pháp luật. Thẩm phán của Tòa án cấp cao phải tìm thấy những lý lẽ
hợp lý trong đơn kiện trước khi chuyển tới Hội đồng thẩm phán đưa ra quyết định.
2.2.2 Các giai đoạn trong tố tụng hình sự của Cộng hòa Italia:
Các giai đoạn trong tố tụng hình sự của Cộng hòa Italia được chia thành ba giai
đoạn chính: Giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử sơ bộ và giai đoạn xét xử. Tiếp đó,
giai đoạn kháng cáo/kháng nghị và thi hành án cũng có thể được coi là phần bổ sung
của ba giai đoạn chính.
Giai đoạn điều tra: Bắt đầu bằng tin báo tội phạm gửi tới văn phòng công tố.
Công tố viên cũng có quyền tự quyết định khởi tố điều tra dựa trên thông tin mà họ
cho rằng có dấu hiệu tội phạm. Sau khi nhận được tin báo, Công tố viên là người khởi
động điều tra và đồng thời chỉ đạo công tác điều tra của cảnh sát. Khi kết thúc điều
tra, Công tố viên sẽ quyết định xem có nên yêu cầu đình chỉ vụ án hay chính thức
buộc tội người bi tình nghi. Về mặt thời gian, công tác điều tra không được kéo dài
quá 06 tháng kể từ khi Công tố viên lập hồ sơ vụ án. Nếu được sự chấp thuận của
Thẩm phán xét xử sơ bộ thì công tác điều tra có thể được hoàn thêm 06 tháng nữa và
trong trường hợp đặc biệt thì thời hạn điều tra không được quá 02 năm. Trong giai
đoạn này còn có sự tham gia của thẩm phán điều tra sơ bộ với mục đích kiểm soát
tính hợp pháp của các hoạt động điều tra, bảo toàn chứng cứ và bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của bị can.
Giai đoạn xét xử sơ bộ: Bắt đầu ngay sau khi giai đoạn điều tra kết thúc và

Các giai đoạn trong tố tụng hình sự Cộng hòa pháp được chia thành: Giai đoạn
điều tra, giai đoạn truy tố, thu thập chứng cứ phục vụ phiên tòa, phán quyết cuối cùng.
Giai đoạn điều tra: Về cơ bản, giai đoạn điều tra có thể do cảnh sát điều tra tiến
hành, khi đó Công tố viên sẽ là người chỉ đạo và kiểm soát quá trình điều tra. Hoạt
động điều tra cũng có thể do Công tố viên tiến hành và lúc này Thẩm phán điều tra sẽ
đóng vai trò chính trong việc kiểm soát hoạt động điều tra. Một trong những hoạt
động được chú ý nhiều nhất trong giai đoạn điều tra sơ bộ là hoạt động bắt giữ. Trong
giai đoạn này nếu thấy cần thiết cảnh sát và lực lượng hiến binh có thể bắt giữ người
bị tình nghi phạm tội trong vòng 24 giờ. Ngay khi bắt giữ cảnh sát phải lập tức thông
báo cho Công tố viên để kiểm tra về mặt tư pháp, nếu không thông báo ngay thì hoạt
động tố tụng này coi như không có hiệu lực. Về nguyên tắc cảnh sát không thể giữ
nhân chứng lâu hơn thời gian cần thiết để lấy lời khai hoặc xác minh ghi phạm. Trong
trường hợp cảnh sát đề nghị thì Công tố viên có thể gia hạn thời hạn tạm giữ thêm 24
giờ nữa. Đối với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng liên quan tới các vụ án ma túy
và khủng bố thì thời hạn tạm giữ có thể lên đến 06 ngày.
9


Giai đoạn truy tố: Đối với những vụ án thông thường, đơn giản, Công tố viên
có thể buộc tội bị cáo ngay trước phiên tòa. Đây là thủ tục đơn giản nhất; theo yêu cầu
của Công tố viên, nhân viên giám sát phiên tòa sẽ triệu tập bị cáo. Cách này ít được sử
dụng vì chi phí phát sinh; cách thường sử dụng và tiện lợi hơn là triệu tập bị can thông
qua các nhân viên cảnh sát khi kết thúc thời hạn tạm giam ở cơ quan cảnh sát. Nhân
viên cảnh sát sẽ thảo công văn triệu tập, sau đó Công tố viên đọc công văn triệu tập
qua điện thoại có ghi chú ngày tháng mở phiên tòa. Công văn triệu tập trình bày rõ
hành vi phạm tội mà bị can bị truy tố và những quy định pháp luật áp dụng. Trong
trường hợp áp dụng kênh qua Thẩm phán điều tra, khi kết thúc giai đoạn điều tra, trên
cơ sở yêu cầu của Viện Công tố, Thẩm phán điều tra sẽ chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa
nếu các chứng cứ cần thiết đã được thu thập đầy đủ.
Giai đoạn thu thập chứng cứ phục vụ phiên tòa: Trước khi mở phiên tòa, chứng



điều tra, Điều tra viên sẽ chuẩn bị một bản ghi nhớ hoặc báo. Tuy nhiên, báo cáo truy
tố này không phải là dấu chấm hết cho sự tham gia của Điều tra viên và cơ quan điều
tra vào vụ việc. Điều tra viên sẽ tiếp tục hỗ trợ Công tố viên với các hoạt động điều
tra bổ sung cần thiết trong quá trình tiền xét xử và trong quá trình xét xử. Bên cạnh
các hoạt động điều tra tội phạm liên bang được tiến hành bởi các cơ quan điều tra,
hoạt động điều tra hình sự còn có thể được thực hiện bởi một đại bồi thẩm đoàn liên
bang. Ngoài ra, nếu Điều tra viên không yêu cầu, Công tố viên có thẩm quyền chủ
động mở cuộc điều tra ban đầu của đại bồi thẩm đoàn và sau đó yêu cầu cơ quan điều
tra chỉ định một Điều tra viên hỗ trợ bồi thẩm đoàn - khác với Kiểm sát viên Việt
Nam.
Giai đoạn chuyển vụ án sang Tòa án để chuẩn bị xét xử: Giai đoạn này Công tố
viên sẽ xem xét lại báo cáo truy tố của Điều tra viên cùng với các file đính kèm để
quyết định xem việc truy cứu trách nhiệm hình sự có cơ sở hay không. Nếu Công tố
viên quyết định không truy tố, thì tài liệu tố tụng mà Công tố viên phải chuẩn bị là
một biên bản từ chối, trong đó giải thích lý do không truy tố vụ án và lưu biên bản
này trong hồ sơ của Công tố viên. Nếu Công tố viên quyết định truy tố vụ án, một số
tài liệu tố tụng sẽ được Công tố viên ban hành để truy tố vụ án trước tòa.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm: Giai đoạn này là dành cho Thẩm phán và bồi thẩm
đoàn, chủ yếu là giải quyết các tranh chấp pháp lý và thực tế trong vụ án, công khai
làm rõ liệu chính phủ có khả năng chứng minh về tội ác của bị can để không ai có cơ
sở nghi ngờ hợp lý hay không. Nếu bị can bị buộc tội và kết án, Bản án của VAHS sẽ
là bản án chung thẩm trừ phi luật sư bào chữa nộp thông báo phúc thẩm lên tòa án
quận trong vòng 14 ngày kể từ ngày Thẩm phán ký bản án của VAHS. Về cơ bản,
công tố viên có quyền khiếu nại hình phạt đã được tuyên trong Bản án của VAHS và
thông báo phúc thẩm của chính phủ phải được nộp trong vòng 30 ngày thẩm phán ký
Bản án của VAHS.
Giai đoạn xét xử phúc thẩm: Giai đoạn này chỉ được khởi động khi một trong
các bên kháng án, chức năng của quy trình phúc thẩm là để tòa phúc thẩm xét lại các

việc truy tố. Dựa vào những chứng cứ thu thập được, Công tố viên sẽ quyết định đình
chỉ vụ án hay tiếp tục tiến hành tố tụng đưa vụ án ra xét xử bằng một bản cáo trạng.
Nếu Công tố viên quyết định truy tố, họ sẽ làm bản cáo trạng và chuyển vụ án sang
Tòa án.
Giai đoạn xét xử: Sau khi Công tố viên chuyển sang Tòa án bản cáo trạng cùng
hồ sơ vụ án và đơn đề nghị đưa vụ án ra xét xử, giai đoạn xét xử chính thức bắt đầu
bằng quyết định đưa vụ án ra xét xử. Về nguyên tắc, Tòa án sẽ quyết định xét xử vụ
án khi thấy có đủ lý do để nghi ngờ bị can bị truy tố đã thực hiện tội phạm. Tiến trình
tố tụng được thực hiện công khai tại phiên toà và các bên tham gia tố tụng (Công tố
viên, bị cáo và luật sư của bị cáo, người bị hại) đóng vai trò tích cực. Phiên toà bắt
đầu với việc Công tố viên đọc bản cáo trạng, mô tả tóm tắt hành vi phạm tội của bị
cáo, tội danh mà bị cáo bị cáo buộc. Sau đó chủ toạ phiên toà hỏi bị cáo có thực hiện
quyền giữ im lặng hay không. Nếu bị cáo không thực hiện quyền im lặng thi phải trả
lời tất cả các câu hỏi được nêu ra liên quan đến hành vi phạm tội bị truy tố. Phương
pháp tố tụng được áp dụng trong giai đoạn xét xử vẫn là phương pháp điều tra, thẩm
vấn vì về bản chất, phiên toà trong tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bangg Đức không
phải là sự cạnh tranh giữa bên buộc tội và bên gỡ tội mà là sự tiếp tục điều tra. Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa quyết định trình tự đưa ra chứng cứ, chịu trách nhiệm về tính
đầy đủ của chứng cứ, thẩm vấn bị cáo, người làm chứng và người giám định. Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa cho phép các Thẩm phán khác thẩm vấn bị cáo, người làm
chứng và người giám định. Các Thẩm phán khác (kể cả Hội thẩm) cũng như Công tố
viên, luật sư bào chữa, người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại (nếu có) và
bị cáo có quyền đưa ra các câu hỏi bổ sung đối với nhân chứng và người giám định.
Sau khi chứng cứ đã được đưa ra, Công tố viên sẽ trình bày bản luận tội, trong đó nêu
tóm tắt kết quả thẩm vấn, các lập luận qua quá trình xét xử cùng với mức án đề
nghị (mức hình phạt cụ thể và các biện pháp bổ sung). Sau khi bị cáo nói lời sau cùng,

12



dụng phương pháp đối tụng.
2.4. Quan điểm cá nhân về các giai đoạn tố tụng hình sự theo quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam:
Hiện nay trong khoa học Luật tố tụng hình sự vẫn còn có nhiều quan điểm khác
nhau về các giai đoạn tố tụng hình sự. Theo quan điểm cá nhân để phân định chính
xác các giai đoạn tố tụng, cần phải làm rõ các căn cứ xác định giai đoạn tố tụng đó
như: Giai đoạn tố tụng là một bộ phận của quá trình tố tụng; mỗi giai đoạn tố tụng đều
chịu sự chi phối của nhiệm vụ của tố tụng hình sự; mỗi giai đoạn tố tụng có chủ thể
13


đặc trưng tham gia vào quan hệ pháp luật; mỗi giai đoạn có hành vi tố tụng đặc trưng,
có văn bản tố tụng đặc trưng; mỗi giai đoạn được giới hạn trong thời hạn khác nhau.
Dưới góc độ lý luận khoa học theo quan điểm cá nhân thì pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam cần phân chia bốn giai đoạn sau:
- Giai đoạn khởi tố: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình
sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra
quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án.
- Giai đoạn điều tra: Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai
mà trong đó cơ quan Điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự
và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu
thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện
nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm
tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại
về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án
hình sự hoặc là chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo
kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can.
- Giai đoạn truy tố: Truy tố là một giai đoạn tố tụng vì giai đoạn truy tố là sự
tiếp nối của giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, thông qua các hoạt động tố tụng
đặc trưng như nghiên cứu, kiểm tra, tổng hợp, đánh giá lại các chứng cứ thu thập

thực hiện khi bị kiến nghị vì xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm nếu phát hiện có vi
phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án hoặc xem xét theo thủ tục tái
thẩm khi có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung
của bản án hoặc quyết định mà tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định
đó.
3. KẾT LUẬN:
Hiện nay có nhiều quan điểm phân chia các giai đoạn của tố tụng hình sự thành
các giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn khác nhau, có nhiệm vụ, chủ thể tham gia vào
quan hệ pháp luật tố tụng, các hoạt động tố tụng, văn bản tố tụng đặc trưng, thời hạn
để giải quyết khác nhau, nhưng đều hướng đến một mục tiêu chung là bảo đảm việc
điều tra, làm sáng tỏ bản chất của tội phạm một cách chính xác, kịp thời, trừng trị
người phạm tội theo đúng quy định của pháp luật, tránh xử oan cho người vô tội, tăng
cường nhận thức của người dân về sự cần thiết phải chấp hành pháp luật, tích cực đấu
tranh với những hành vi phạm tội nhằm bảo vệ pháp chế, bảo vệ các quyền cá nhân,
tài sản, quyền dân chủ và các quyền khác của công dân. Mỗi giai đoạn tuy độc lập
nhưng vẫn nằm trong mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo thành hoạt động thống
nhất.
Qua nghiên cứu sự hình thành và phát triển của giai đoạn tố tụng trong pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1988 đến nay và tố tụng hình sự của một số
nước trên thế giới, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì và phát huy
những ưu điểm vốn có của mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn, đồng thời tiếp thu có
chọn lọc những yếu tố tích cực của mô hình tố tụng tranh tụng các nước trên thế giới
phù hợp với truyền thống văn hóa, điều kiện chính tri, kinh tế, xã hội, và đáp ứng yêu
cầu phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Mặt khác, khi nghiên cứu sự hình
thành và phát triển của giai đoạn tố tụng giúp cho chúng ta có sự nhận thức đúng đắn,
đầy đủ hơn về việc phân định chức năng, nhiệm vụ giữa cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, khi so sánh các
giai đoạn tố tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam với một số nước trên thế giới giúp ta
có cái nhìn tổng quan, nhận xét, đánh giá và rút ra những ưu điểm, hạn chế. Từ đó, có
những giải pháp, định hướng hoàn thiện các giai đoạn tố tụng trong pháp luật tố tụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status