Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ THU TRANG

TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. HỒ SỸ SƠN

HÀ NỘI, năm 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, hoàn
toàn do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và số liệu được sử dụng trong luận
văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết
của tôi.
Tác giả luận văn

ĐỖ THỊ THU TRANG


Viết tắt cụm từ:
BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

BLHS

Bộ luật hình sự

HĐXX

Hội đồng xét xử

KSV

Kiểm sát viên

TAND

Tòa án nhân dân

VKS

Viện kiểm sát

XHCN

Xã hội chủ nghĩa



việc nâng cao chất lượng phiên tòa luôn luôn là một nhu cầu, một đòi hỏi cấp
thiết khách quan.
Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là một thủ tục tố tụng
đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi phạm tội của bị cáo, tính
chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; là một trong những giai
đoạn quan trọng có ý nghĩa quyết định để Hội đồng xét xử thảo luận khi nghị
án. Việc tranh luận tại phiên tòa được quy định nhằm đảm bảo cho vị đại diện
Viện kiểm sát và những người tham gia phiên tòa được phân tích, đánh giá
chứng cứ của vụ án góp phần đề ra những biện pháp xử lý phù hợp nhất với
pháp luật. Việc tranh luận tại phiên tòa cũng là một phương tiện hữu hiệu để
người bào chữa hoặc bị cáo tiến hành phân tích lập luận, đưa ra lý lẽ hợp lý,
sắc bén, có sức thuyết phục để bảo vệ bị cáo một cách hiệu quả nhất
Cùng với việc thực hiện chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp,
BLTTHS năm 2003 đã giành Chương XXI (từ Điều 217 - 221) quy định cụ
thể và đầy đủ hơn về trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm. Vì vậy,
hoạt động tranh luận, đối đáp tại phiên toà nói chung và của Kiểm sát viên nói
riêng với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đã có
những chuyển biến tích cực, rõ nét. Hoạt động tranh luận, đối đáp của Kiểm
sát viên để bác bỏ các quan điểm không có căn cứ của bị cáo, người bào chữa
1


và những người tham gia tố tụng khác đã góp phần làm sáng tỏ sự thật khách
quan về các tình tiết của vụ án.
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử các vụ án hình sự những năm gần đây cho
thấy nhìn chung chất luợng, hiệu quả xét xử nói chung và hoạt động tranh
luận tại các phiên toà hình sự nói riêng chưa cao, còn nhiều bất cập, chưa đáp
ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta giai đoạn hiện nay. Tình trạng này do
nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau như: BLTTHS hiện
hành nói chung chưa quy định đầy đủ, cụ thể và rõ ràng; các quy định về trình

thẩm - cơ sở lý luận và thực tiễn” đề tài khoa học cấp cơ sở TAND tối cao
(2011), Chủ nhiệm - TS. Nguyễn Đức Mai;…
Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về
các vấn đề có liên quan đến tranh luận tại phiên tòa hình sự như: “Đặc điểm
mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình Tố tụng
hình sự ở Việt Nam” của TS. Nguyễn Đức Mai (2009), Tạp chí TAND,(2324); Đinh Văn Quế (2004), “Vai trò của Hội đồng xét xử trong việc tranh
tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân; Nguyễn Thị
Thúy Hằng (2014), Một số kiến nghị góp phần thực hiện có hiệu quả nguyên
tắc tranh tụng tại phiên tòa hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân; “Một số vấn đề
tranh tụng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1/2003 của
TS. Lê Tiến Châu; “Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa”, Tạp chí Khoa học
pháp lý, số 4/2004 của PGS.TS Trần Văn Độ; “Một số giải pháp để đảm bảo
quyền và nghĩa vụ của người bào chữa khi tranh tụng trong phiên tòa xét xử
hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 17/2005 của tác giả Nguyễn Tiến Long.
Các bài viết, công trình nghiên cứu trên đây là những tài liệu quý giá,
giúp cho tác giả luận văn xây dựng và hoàn thiện các ý tưởng khoa học trong
quá trình nghiên cứu đề tài này. Tuy nhiên, vẫn chưa có tài liệu, công trình
nào đi sâu nghiên cứu, đánh giá về mặt thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng để chỉ
3


ra các nguyên nhân, những tồn tại, vướng mắc và qua đó đề xuất giải pháp
hoàn thiện tranh luận tại phiên tòa theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình
sự từ thực tiễn Đà Nẵng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt lý luận cũng
như thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và pháp luật về tranh luận
tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, thực trạng tranh luận tại phiên tòa sơ

thời kỳ mới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể để làm rõ những nội dung cần
nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp
thống kê.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn sẽ được dùng làm tài liệu nghiên cứu trong các trường đại học,
các khóa đào tạo pháp luật.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn giúp đóng góp ý kiến trong việc nâng cao chất lượng tranh
luận trong phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự; là tài liệu áp dụng cho Thẩm
phán, Kiểm sát viên và người bào chữa.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về tranh luận tại phiên tòa
sơ thẩm vụ án hình sự.
5


Chương 2. Thực tiễn tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Chương 3. Các yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng tranh luận tại
phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự.

6


CHƢƠNG 1

người bị hại, nguyên đơn dân sự,…) và của bên bào chữa (người bào chữa, bị
cáo, bị đơn dân sự,…) chính thức đưa ra các chứng cứ, các quan điểm, lập
luận của mình về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án để làm cơ sở cho
HĐXX đưa ra phán quyết về vụ án bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật.
Từ những phân tích, khái quát trên đây, có thể rút ra khái niệm về tranh
luận tại phiên tòa hình sự như sau: Tranh luận tại phiên tòa hình sự là một thủ
tục bắt buộc của phiên tòa hình sự (sơ thẩm, phúc thẩm), trong đó các chủ thể
của bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra quan điểm, lập luận của mình về các
chứng cứ, các tình tiết của vụ án đã được làm rõ tại phần xét hỏi và đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của mình và bác bỏ quan điểm của bên
đối lập về hướng giải quyết các vấn đề trong vụ án giúp cho HĐXX ra phán
quyết về vụ án đúng pháp luật.
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thực hiện chế độ hai cấp xét xử gồm:
Xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, nhưng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm thì
ý nghĩa và nội dung của tranh luận được thể hiện một cách đầy đủ nhất.
Hoạt động tranh luận tại phiên toà sơ thẩm được bắt đầu bằng việc KSV
trình bày lời luận tội và kết thúc trước khi bị cáo trình bày lời nói sau cùng.
Tranh luận tại phiên tòa hình sự có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, Tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm thể hiện không chỉ
tính minh bạch, công khai và dân chủ của tố tụng hình sự mà còn thể hiện
bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN của dân, do dân và vì dân. Việc tranh
luận, đối đáp của KSV với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia
tố tụng khác sẽ làm cho phiên tòa khách quan, sống động hơn nhằm nâng

8


cao uy tín của Tòa án, Viện kiểm sát cũng như cũng cố niềm tin của nhân
dân vào công lý.

được thực hiện bởi những chủ thể nhất định. Chủ thể tham gia vào quá trình
tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là những chủ thể tham gia
phiên toà: Các chủ thể của bên buộc tội (KSV, bị hại, nguyên đơn dân sự,…);
bên bào chữa (bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự,…) và những người
tham gia tố tụng khác (người giám định, người phiên dịch); người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ; người bảo vệ
quyền lợi của đương sự.
Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, xét đến cùng là tranh
luận giữa bên buộc tội và bên bào chữa (gỡ tội). Vậy các bên buộc tội và bào
chữa đã có chức năng và vai trò gì trong tranh luận? Dưới đây, luận văn lần
lược phân tích chức năng và vai trò của chúng.
Trong các chủ thể của bên buộc tội, KSV là chủ thể chính trong việc
thực hiện chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự. Tại phiên tòa KSV thay
mặt Nhà nước thực hiện quyền công tố nhằm buộc tội bị cáo và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử. Vì vậy, tranh luận và đáp lại ý
kiến của các chủ thể khác tham gia tranh luận tại phiên toà không chỉ là quyền
mà còn là nghĩa vụ của KSV.
Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, ngoài đọc bản cáo trạng và tham gia
xét hỏi, mở đầu phần tranh luận KSV trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị
cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ
hơn và đề xuất với HĐXX về hướng giải quyết các vấn đề cụ thể trong vụ án.
Như vậy, phụ thuộc vào diễn biến phiên toà tại phần xét hỏi, lời luận tội của
KSV sẽ thực hiện theo một trong ba tình huống sau: giữ nguyên, thay đổi nội
dung buộc tội (rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội danh nhẹ
hơn) hoặc rút toàn bộ quyết định truy tố.
10


Có thể thấy rằng, nếu quyết định truy tố (cáo trạng) của VKS là căn cứ
phát sinh giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thì lời luận tội của KSV tại

Khi tranh luận với KSV và những người tham gia tố tụng khác, người
bào chữa đưa ra lí lẽ phân tích, đánh giá tính hợp pháp và độ tin cậy của
các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên toà để làm cơ sở
cho các lập luận của mình và đề nghị HĐXX chấp nhận quan điểm của
mình về sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, về
tội danh, điều khoản BLHS và hình phạt áp dụng; …, bác bỏ quan điểm của
KSV và của các chủ thể khác về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
Ngoài bị cáo, người bào chữa, các chủ thể khác thuộc bên bào chữa
(bị đơn dân sự, người đại diện hợp pháp hoặc người bảo vệ quyền lợi của
họ) cũng có quyền tranh luận với KSV và các chủ thể khác về các vấn đề
liên quan đến bồi thường thiệt hại hoặc các vấn đề liên quan đến quyền lợi,
nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, vai trò của họ trong việc thực hiện chức
năng bào chữa nói chung và tranh luận tại phiên tòa hình sự nói riêng rất
hạn chế.
Ngoài KSV, các chủ thể khác thuộc bên buộc tội (người bị hại, nguyên
đơn dân sự, người đại diện và người bảo vệ quyền lợi của họ) cũng tham gia
vào việc tranh luận. Theo quy định của BLTTHS, những người này có các
quyền và nghĩa vụ nhất định khi tham gia tố tụng, trong đó có quyền trình bày
ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình.
Chất lượng và hiệu quả tranh luận tại các phiên tòa sơ thẩm vụ án hình
sự còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau: sự hoàn thiện của pháp
luật; trình độ chuyên môn; kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần trách
nhiệm của thẩm phán, kiểm sát viên; trình độ dân trí của những chủ thể khác
tham gia tranh luận.

12


1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về tranh luận tại
phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự

Bao gồm một số quy định mang tính nguyên tắc của tố tụng hình sự, một
số quy định chung và các quy định cụ thể tại Chương XXI (Điều 217-221)
của Bộ luật này.
Là một hoạt động tố tụng, tranh luận tại phiên tòa cũng chịu sự chi phối
của các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự, đặc biệt là một số nguyên tắc
liên quan đến việc bảo đảm cho hoạt động tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa
nhằm giúp HĐXX xác định được sự thật khách quan và ra phán quyết đúng
đắn, chính xác và có tính thuyết phục cao về vụ án. Các nguyên tắc bao gồm:
Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án; Bảo đảm quyền bào chữa của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo; xác định sự thật của Tòa án; suy đoán vô tội;…
“Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án” (Điều 19): Nguyên tắc này là
một biểu hiện cụ thể của nguyên tắc Hiến định “Mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật” và được thể hiện rõ nét nhất ở giai đoạn xét xử vụ án tại
phiên tòa. Theo nguyên tắc này thì “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa,
người bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng
trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân
chủ trước Tòa án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các
quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án”. Nguyên tắc đòi hỏi
Tòa án phải tôn trọng quyền của những người tham gia tố tụng không phân
biệt người đưa ra chứng cứ là KSV hay bị cáo, người bị hại…. Tòa án là
người trọng tài công minh giữa bên buộc tội và bên bào chữa và phải có thái
độ khách quan trong đánh giá toàn diện, đầy đủ các chứng cứ về vụ án mà các
bên đưa ra để có phán quyết phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
Quy định này phần nào đã khắc phục được tính hình thức, thiếu dân chủ và
không bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong quá trình xét xử nói
chung và trong tranh luận tại phiên toà nói riêng.
14


“Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” (Điều

trỏch nhim ny bng cỏch trc tip xột hi hoc giỏn tip thụng qua hot
ng xột hi ca cỏc bờn.
Suy oỏn vụ ti (iu 9): Ni dung ca nguyờn tc ny Khụng ai b
coi l cú ti khi cha cú bn ỏn kt ti ca Tũa ỏn ó cú hiu lc phỏp lut
ũi hi s khỏch quan, vụ t ca HXX trong quỏ trỡnh xột x v ỏn ti phiờn
to, khụng c phộp nh kin v s cú ti ca b cỏo cho n khi bn ỏn kt
ti ca Tũa ỏn ó cú hiu lc phỏp lut. Nú bo m tớnh khỏch quan, vụ t
trong vic ỏnh giỏ chng c, xem xột cỏc ý kin tranh lun ca cỏc bờn cng
nh khi HXX ngh ỏn ra phỏn quyt. Mi chng c v v ỏn c thu
thp hoc c b sung ti phiờn tũa u phi c thm tra cụng khai y
m khụng c xem nh chng c no; trong quỏ trỡnh xột x cng nh tranh
lun ti phiờn to, cỏc thnh viờn HXX phi tin hnh cỏc th tc theo ỳng
quy nh ca phỏp lut v phi luụn coi b cỏo l ngi khụng cú ti.
Ngoi ra, cỏc nguyờn tc khỏc ca t tng hỡnh s (nh: Bo m phỏp
ch XHCN, tụn trng v bo v cỏc quyn c bn ca cụng dõn; Thc hnh
quyn cụng t v kim sỏt vic tuõn theo phỏp lut trong t tng hỡnh s;)
cng chi phi phm vi v mc nht nh n quỏ trỡnh xột x v ỏn núi
chung v tranh lun ti phiờn to núi riờng.
Cỏc quy nh chung v tranh lun ti phiờn tũa s thm v ỏn hỡnh s
ca B lut t tng hỡnh s nm 2003
Cỏc quy nh chung ny bao gm các quy định v quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể tham gia tranh lun ti phiờn to, c th l:
iu 37: Nhim v, quyn hn v trỏch nhim ca KSV: tham gia phiờn
to; thc hin vic lun ti; phỏt biu quan im v vic gii quyt v ỏn, tranh
lun vi nhng ngi tham gia t tng ti phiờn to; kim sỏt vic tuõn theo
phỏp lut trong hot ng xột x ca Tũa ỏn, ca nhng ngi tham gia t tng;
16


iu 39 v 40, quyn hn v trỏch nhim Thm phỏn v Hi thm tham

tội, sau đó đến lượt bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào
chữa thì người này bào chữa cho bị cáo, tiếp đến là các chủ thể tham gia tranh
luận khác đưa ra ý kiến tranh luận.
Khoản 1 Điều 217 BLTTHS năm 2003 quy định kiểm sát viên đề nghị
kết tội theo toàn bộ hay một phần cáo trạng cho thấy rằng thủ tục tranh luận
tại phiên tòa sơ thẩm đã rất coi trọng bản luận tội của kiểm sát viên, nó được
xem là cơ sở cho các bên dựa vào đó tranh biện. Ngay cả trong thủ tục đối
đáp, bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác khi trình bày ý
kiến cũng được luật đặt ra là xoay quanh bản luận tội.
Lời bào chữa được thực hiện sau lời luận tội của kiểm sát viên. Nếu
người bào chữa có mặt tại phiên tòa thì người bào chữa sẽ trình bày lời bào
chữa cho bị cáo, bị cáo bào chữa bổ sung. Cần lưu ý là trường hợp bị cáo
không nhờ người bào chữa, thì họ phải tự bào chữa hoặc lựa chọn phương
thức từ chối bào chữa và chủ tọa phiên tòa không buộc bị cáo phải trình bày
lời bào chữa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ trình bày ý
kiến để bảo vệ quyền lợi cho người bảo vệ. Nếu không có người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự thì người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự, và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tự trình bày ý kiến để bảo
vệ quyền lợi cho mình.
Tiếp theo Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với
từng ý kiến có liên quan đến vụ án.
Căn cứ vào Điều 217 BLTTHS năm 2003 để xác định trình tự phát biểu
khi tranh luận, Chủ toạ phiên toà có quyền yêu cầu người phát biểu khi tranh
luận phát biểu đúng những vấn đề liên quan đến vụ án và theo quy định
tại Điều 217.
18


Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy

họ cũng có quyền tranh luận với KSV và các chủ thể khác về các vấn đề liên
quan đến bồi thường thiệt hại hoặc các vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa
vụ của mình.
Điều 218. Đối đáp
“Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền
trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình;
Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến.
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác. Chủ
toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho
những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt
những ý kiến không có liên quan đến vụ án.
Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý
kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố
tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận”
Sau lời luận tội của kiểm sát viên, lời bào chữa của người bào chữa và ý
kiến của bị cáo, người tham gia tố tụng khác, các bên thực hiện việc đối đáp về
những tình tiết, chứng cứ còn có mâu thuẫn, xung đột trong quan điểm. Nếu
không có hoạt động đối đáp thì mâu thuẫn không được làm rõ, dẫn đến không
thể đưa ra các kết luận, đánh giá về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ
án. Đối đáp còn tạo cơ hội thuận lợi cho bị cáo và người tham gia tố tụng được
lập luận không bị hạn chế về thời gian, được trình bày hết ý kiến và đưa ra đề
xuất của mình; đặc biệt là bên buộc tội phải có trách nhiệm trả lời, giải thích lý
do buộc tội, sự khác biệt trong quan điểm từ phía người bào chữa và người bị
buộc tội và người tham gia tố tụng khác. Điều 218 BLTTHS quy định bắt buộc
Kiểm sát viên phải đưa ra lập luận đối với từng ý kiến. Về phía người tham gia
tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác tại phiên tòa. Về phía chủ tọa
20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status