HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN TH OANH
QUảN Lý NHà nước đối với hoạt động
ĐầU TƯ TRựC TIếP nước ngoài ở khu công nghệ cao
ThàNH phố hồ chí minh
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH QUN Lí KINH T
H NI - 2019
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN TH OANH
QUảN Lý NHà nước đối với hoạt động
ĐầU TƯ TRựC TIếP nước ngoài ở khu công nghệ cao
ThàNH phố hồ chí minh
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH QUN Lí KINH T
Mó s: 62 34 04 10
NGI HNG DN KHOA HC:
1. TS Nguyn Tn Vinh
2. TS Ngụ Hoi Anh
Khu công nghệ cao
2.3. Kinh nghiệm của một số quốc gia và một số địa phương trong nước trong việc
quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu công
nghệ cao - bài học cho Thành phố Hồ Chí Minh
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở KHU CÔNG NGHỆ CAO THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
1
13
13
30
33
33
42
63
72
72
3.1. Tổng quan về Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
3.2. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
83
3.3. Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
120
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ
:
BT
BTO
:
:
CNC
:
CNH, HĐH:
DN
:
FDI
:
FTA
:
JICA
:
IMF
KCN
KCNC
KCX
KH-CN
KKT
KT-XH
KTTĐPN
MNCs
ODA
OECD
Công nghệ cao
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Doanh nghiệp
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
Hiệp định Thương mại Tự do (Free trade agreement)
Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (The Japan International
Cooperation Agency)
Quỹ Tiền tệ thế giới (International Monetary Fund)
Khu công nghiệp
Khu công nghệ cao
Khu chế xuất
Khoa học, công nghệ
Khu kinh tế
Kinh tế - xã hội
Kinh tế trọng điểm phía Nam
Các công ty đa quốc gia (Multinational corporation)
Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (Organization for
Economic Co-operation and Development)
Nghiên cứu và triển khai (Reasearch & Development)
Các công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation)
Ủy ban nhân dân
Diễn đàn thương mại và phát triển của Liên hợp quốc
(United Nations Conference on Trade and Development)
Tổ chức Thương mại Thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
96
100
Bảng 3.8: Các hoạt động xúc tiến đầu tư qua các năm ở Khu công nghệ cao
Thành phố Hồ Chí Minh
104
Bảng 3.9: Đánh giá của các DN FDI về công tác thẩm định ở Khu công
nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
110
DANH MỤC CÁC BIỂU
Trang
Biểu đồ 3.1: Thuế suất thu nhập doanh nghiệp
86
Biểu đồ 3.2: Đánh giá về công nghiệp phụ trợ trong Khu công nghệ cao nói
riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung
93
Biểu đồ 3.3: Dự định liên kết với các doanh nghiệp khác của các doanh
nghiệp FDI trong Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
97
Trước tình hình đó, để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, Việt Nam cần phải có một lượng vốn đầu tư
vượt ra ngoài khả năng tự cung cấp. Trong khi các nguồn hỗ trợ phát triển chính
thức và tài trợ của các tổ chức quốc tế đều có hạn thì hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) là rất cần thiết.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định:
"Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta, được khuyến khích
phát triển lâu dài. Thu hút FDI là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các
nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng
hợp phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH phát triển đất nước, xây dựng một nền sản
xuất hiện đại, vững mạnh phục vụ cho cả nhu cầu trong nước và xuất khẩu, có
khả năng hỗ trợ và kích thích phát triển năng lực cho các ngành khác, tiến tới đổi
mới toàn diện xã hội" [41].
Trong đó, giải pháp chủ yếu để thực hiện CNH, HĐH là phát triển các ngành
có hàm lượng khoa học, công nghệ cao, trong đó Khu công nghệ cao (KCNC)
đóng vai trò quan trọng tập trung thu hút và sử dụng nguồn lực FDI.
Khu công nghệ cao có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo môi trường thuận lợi
thu hút FDI trong lĩnh vực công nghệ cao (CNC), đặc biệt là thu hút các tập đoàn đa
quốc gia. Khu công nghệ cao còn là nơi thu hút, tập hợp lực lượng trí thức khoa học
và công nghệ (KH-CN) trong cả nước, trí thức Việt kiều và các nhà KH - CN nước
ngoài trong nghiên cứu, sáng tạo và chuyển giao công nghệ trực tiếp cho sản xuất
và ươm tạo doanh nghiệp (DN) CNC. Hướng nguồn vốn FDI vào các lĩnh vực CNC
2
là một trong những mục tiêu quan trọng từ nay đến năm 2030. Trong năm 2018,
nhiều địa phương trên cả nước đã thu hút được lượng lớn FDI, trong đó các lĩnh vực
CNC hiện đang tạo ra một sức hấp dẫn nhất định khi dòng vốn đổ vào nước ta ngày
càng tăng. Tuy nhiên, vai trò của FDI trong các KCNC chỉ thực sự quan trọng nếu
FDI chủ yếu đi vào các lĩnh vực, các ngành lớn, chưa có nhiều công trình đi sâu
vào lĩnh vực thu hút và sử dụng FDI ở các ngành CNC và quản lý nhà nước đối
với hoạt động FDI vào các KCNC. Đây là một trong những yếu tố tác động mạnh
đến sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh tái cơ cấu và chuyển đổi
mô hình tăng trưởng kinh tế hiện nay.
Về mặt thực tiễn:
Một là, xuất phát từ những vướng mắc trong quản lý nhà nước đối với hoạt
động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí Minh. Trên thực tế, trong những năm qua,
lượng FDI thu hút vào KCNC chưa đạt được như kỳ vọng và hoạt động của các
DN FDI trong KCNC vẫn tồn tại nhiều hạn chế như công nghệ thấp, hoạt động
R&D yếu... Một trong những nguyên nhân đó là do quản lý nhà nước chưa thật
sự hiệu quả, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng còn chồng chéo, thiếu
minh bạch. Vì vậy, cần thiết phải nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước
đối với hoạt động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí Minh.
Hai là, xuất phát từ nhu cầu về vốn đầu tư trong phát triển các ngành CNC.
Quá trình CNH, HĐH nền kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là những
vấn đề cấp bách đối với các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế thấp như nước ta
hiện nay, quy mô và trình độ các nguồn lực nhỏ bé, yếu kém. Đây là một trong
những hạn chế đã cản trở rất lớn đối với quá trình phát triển và do vậy việc quản lý
các nguồn vốn đầu tư có hiệu quả sẽ trở thành đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế - xã
hội (KT-XH). Trong đó, nguồn vốn FDI đóng vai trò hết sức quan trọng để nâng
cao trình độ, quy mô các nguồn lực và xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, bền vững.
Ba là, KCNC Thành phố Hồ Chí Minh có vai trò quan trọng đối với sự phát
triển của nước ta. Trên thực tế, sự phát triển KCNC luôn gắn với sự phát triển về
quy mô, trình độ và năng lực thu hút FDI của cả nước. Vì vậy, nhà nước cần phải
tập trung vào việc quản lý hoạt động FDI vào các KCNC, nâng cao hiệu quả của
hoạt động FDI nhằm phát huy vai trò “lan tỏa” của KCNC đến các khu vực khác
trong nền kinh tế.
Bốn là, KCNC Thành phố Hồ Chí Minh có khả năng thu hút một “khối
lượng” lớn nguồn lực FDI. Với nhiều nỗ lực không ngừng, đến nay các KCNC đã
những vấn đề lý luận về cơ sở pháp lý, mục tiêu, yêu cầu, điều kiện quản lý nhà
nước đối với hoạt động FDI vào các KCNC.
Thứ ba, phân tích và đúc kết kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước của
một số nước trên thế giới và một số địa phương trong cả nước. Từ đó rút ra những
bài học cho Thành phố Hồ Chí Minh về hoạt động quản lý nhà nước đối với FDI
trong KCNC.
5
Thứ tư, nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối
với hoạt động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2002 - 2017;
chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong quản lý nhà nước đối với hoạt
động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ năm, xác định và luận chứng các quan điểm, mục tiêu và đề xuất các
giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở
KCNC Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những nội dung cấu thành về quản lý
nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung:
- Về chủ thể quản lý: Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC
Thành phố Hồ Chí Minh được phân cấp, phân công rõ ràng giữa các cấp Trung
ương và cấp địa phương. Trong khuôn khổ phạm vi của luận án, tác giả tập trung
phân tích, đánh giá vai trò của chính quyền địa phương, cụ thể ở đây là Ủy ban
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong việc quản lý hoạt động FDI ở KCNC.
- Về nội dung quản lý: Luận án tập trung phân tích các nội dung: Xây dựng
và hoàn thiện môi trường đầu tư vào Khu công nghệ cao; Hoàn thiện và tổ chức
thực hiện quy hoạch, danh mục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Khu công
hợp thông tin từ các nguồn có sẵn có liên quan, bao gồm các văn kiện, tài liệu của
Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các công trình nghiên cứu từ các
nhà khoa học, các báo cáo, thống kê, kết quả điều tra… của chính quyền, ban
ngành địa phương có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu.
- Ngoài các phương pháp sử dụng trong phần nghiên cứu lý luận, phần thực
trạng sẽ kết hợp với các phương pháp như:
+ Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Sử dụng phương pháp điều tra xã
hội học đối với các DN FDI.
Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện bằng công cụ bảng hỏi.
Bảng hỏi được chuẩn bị kỹ theo một cấu trúc xác định và được hỏi theo cách thức
giống nhau cho mọi khách thể nghiên cứu. Đây là phương pháp thu thập thông tin
trực tiếp có nghĩa là bảng hỏi do chính người trả lời ghi vào. Kết quả điều tra
7
chuẩn hóa được sử dụng để so sánh theo các đặc tính về thời gian, loại hình kinh
tế, quy mô DN, lĩnh vực kinh doanh… và kết quả là các con số phản ánh những
đặc trưng cần nghiên cứu của tổng thể. Các câu hỏi sẽ tập trung vào các chủ đề:
quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí Minh. Kết
quả điều tra thu thập được sử dụng để làm minh chứng cho các nhận định về thành
công, hạn chế của quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC Thành phố
Hồ Chí Minh.
Phương pháp điều tra xã hội học được tiến hành theo các bước sau đây:
Thứ nhất, lập danh sách đối tượng điều tra:
Đối tượng điều tra bao gồm cán bộ lãnh đạo quản lý của các DN FDI. Đối
tượng này bao gồm: (1) Ban Giám đốc DN; (2) Cán bộ quản lý cấp phòng.
Danh sách các DN điều tra được lập dựa vào danh sách DN và danh sách các
cơ sở trực thuộc DN từ kết quả Điều tra DN các năm trước và nguồn thông tin của
cơ quan thuế, cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh, quản lý DN các cấp… Cụ thể
danh sách DN điều tra năm 2017 được lập trên cơ sở danh sách do Ban Quản lý
Từ các loại hình DN khác nhau chúng tôi lại căn cứ theo ngành nghề đăng ký
kinh doanh của các DN FDI để chọn ra các DN hoạt động trong lĩnh vực: Vi điện
tử - Công nghệ thông tin - Viễn thông; Cơ khí chính xác, tự động hóa; Công nghệ
sinh học; Năng lượng mới, năng lượng tái tạo.
Bảng: Quy trình điều tra nghiên cứu bằng bảng hỏi
Bước
1
2
3
Định
Phương Kỹ thuật xử lý
dạng
pháp
Sơ bộ 1 Khảo sát Thảo luận trực
tiếp với đối
tượng điều tra.
Số lượng: 5
phiếu
Sơ bộ 2
Điều
Phiếu điều tra sơ
chỉnh
bộ (điều tra thử)
Số phiếu: 10
phiếu
Chính
Định
15/4/2018
20/5/2018
18/6/2018
10/8/2018
9
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp văn bản
Đây là phương pháp dùng để phân tích, nhận định, đánh giá các văn bản.
Phương pháp này áp dụng kết hợp với nghiên cứu văn bản thứ cấp. Nếu nghiên
cứu văn bản thứ cấp chú trọng sưu tầm, tập hợp và dịch thuật thì phương pháp
phân tích văn bản đi sâu vào nội dung, tổng hợp và đưa ra nhận định tổng quát.
Tuy đây là phương pháp quen thuộc nhưng luôn chứng tỏ hiệu quả trong việc
nghiên cứu khoa học xã hội. Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm tìm ra các
mối quan hệ định tính giữa hoạt động với sự phát triển KCNC.
4.2. Cách tiếp cận
Cách tiếp cận khoa học quản lý
Quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt mục tiêu chung. Muốn quản lý
thành công trước hết phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý.
Trong luận án, cách tiếp cận khoa học quản lý xem xét chủ thể quản lý chính là
Nhà nước, khách thể quản lý là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Luận án
xem xét cách thức Nhà nước quản lý các DN thông qua phân tích thực trạng quản
lý và đánh giá hiệu quả quản lý DN có vốn đầu tư nước ngoài và hoạt động đầu tư
nguồn vốn FDI.
Quản lý nhà nước nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý
là nhà nước vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Luận án
còn xem xét sự tác động của môi trường quản lý như: thể chế, chính sách,...
những thuận lợi, khó khăn từ môi trường quản lý đến nội dung quản lý của nhà
nước đối với nguồn vốn FDI.
lý của nhà nước đối với các DN FDI.
Cách tiếp cận xã hội học
Đây là một trong những hướng tiếp cận rất cần thiết của luận án. Từ góc độ
xã hội học, thông qua các điều tra, khảo sát xã hội học mà có được các thông tin
cụ thể về thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI tại KCNC Thành
phố Hồ Chí Minh. Từ kết quả điều tra, khảo sát nhóm nghiên cứu sẽ bổ sung các
luận chứng được rút ra từ quá trình phân tích tài liệu thứ cấp. Hiểu biết đúng
thực trạng của sự tác động này là cứ liệu rất quan trọng nhằm đề xuất các nhóm
giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý của nhà nước.
11
Cách tiếp cận hệ thống
Cách tiếp cận hệ thống xem xét chủ thể quản lý và khách thể quản lý như
một hệ thống mở, vận động và tồn tại theo những quy luật khách quan. Hệ thống
này gồm nhiều bộ phận, nhân tố có quan hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau. Nếu
một bộ phận nào đó thay đổi thì sẽ ảnh hưởng hoặc kéo theo sự thay đổi của các
bộ phận khác. Cách tiếp cận hệ thống trong luận án thể hiện ở ba khía cạnh:
Ở khía cạnh lập pháp: Luận án xem xét hoạt động quản lý nhà nước đối với
hoạt động FDI vào KCNC là việc xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật đầu
tư nước ngoài, tạo hành lang pháp lý điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong quá
trình hoạt động.
Ở khía cạnh hành pháp: Quản lý của nhà nước thể hiện qua cơ cấu bộ máy
tổ chức và sự phân công trách nhiệm thực hiện cũng như phối hợp thực hiện
các nhiệm vụ trong quá trình hoạt động bằng các công cụ như xây dựng các
chương trình mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch về đầu tư nước ngoài theo từng
thời kỳ khác nhau.
Ở khía cạnh tư pháp: Luận án xem xét cách thức quản lý nhà nước đối với
hoạt động FDI vào KCNC trong việc nhà nước sử dụng các phương pháp nhằm
bảo đảm cho pháp luật đầu tư nước ngoài được thực hiện nghiêm, bảo đảm lợi
13
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở KHU CÔNG NGHỆ CAO
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở KHU
CÔNG NGHỆ CAO
1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan của học giả nước ngoài
Ở nhóm này, luận án giới thiệu, phân tích những vấn đề được đề cập giải
quyết trong các công trình nghiên cứu về FDI nói chung và quản lý nhà nước đối
với FDI vào KCNC nói riêng của một số học giả trên thế giới như Đức, Mỹ, Nhật
Bản, Trung Quốc, Thái Lan…
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước về đầu tư trực tiếp nước
ngoài nói chung
Trong tác phẩm Toàn tập, tập 27, V.I.Lênin cho rằng: Hoạt động FDI là hoạt
động “xuất khẩu tư bản” từ các nước tư bản phát triển sang các nước thuộc địa
nhằm duy trì sự áp bức bóc lột và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Trong các
nước lạc hậu này, lợi nhuận thường cao, vì tư bản hãy còn ít, giá đất đai tương đối
thấp, tiền công hạ, nguyên liệu rẻ [88]. Trong cuốn “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn
tột cùng của chủ nghĩa tư bản” Lê-nin khẳng định: “Việc xuất khẩu tư bản ảnh
hưởng đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và thúc đẩy nhanh sự phát triển đó
trong những nước đã được đầu tư. Cho nên nếu trên một mức độ nào đó việc xuất
khẩu có thể gây ra một sự ngưng trệ trong sự phát triển của các nước xuất khẩu tư
bản...” [89]. Theo Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), FDI được hiểu là “số vốn đầu tư
được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài, trong một doanh nghiệp hoạt động ở
một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Ngoài mục đích lợi nhuận,
nhà đầu tư mong muốn tìm được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở
Faramarz AKARAM, Foreign Direct Investment in Developing Countries: Impact
on Distribution and Employment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang
phát triển: Tác động vào phân phối và việc làm, được thực hiện tại Khoa Kinh tế
15
và Khoa học xã hội tại Đại học Fribourg, Switzerland chứng minh rằng, lý thuyết
tân cổ điển truyền thống không cho phép hiểu được những tác động của đầu tư
nước ngoài tới nước chủ nhà trong bối cảnh toàn cầu hiện đại đã và đang định
hình kể từ khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ. Nguyên nhân chính là thị trường,
dù là thị trường cạnh tranh, cũng không thể tự điều chỉnh [103]. Do đó, lý thuyết
tân cổ điển cho thấy sự thiếu sót để giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội cơ bản.
Kinh tế học hiện đại về cơ bản là lý luận về kinh tế thị trường có sự điều tiết của
nhà nước. Nghiên cứu của Slaughter đánh giá tác động của các công ty đa quốc
gia đến cả cầu và cung lao động có kỹ năng của thị trường lao động nước nhận
đầu tư [122].
Đánh giá vai trò của FDI đối với chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp,
trường hợp ngành công nghiệp ô tô ở Trung Âu và Đông Âu, nghiên cứu
“Foreign Direct Investment and Restructuring in the Automotive Industry in
Central and East Europe” của Radosevic. S, Rozeik. A đã chỉ ra những yếu tố
giải thích quy mô và chiều sâu của chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ô tô;
hiệu quả kinh tế của việc tái cơ cấu ngành công nghiệp ô tô trong điều kiện ràng
buộc về lao động, thương mại và công nghệ. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra
vai trò của chính sách cấp quốc gia và cấp EU trong việc định hình FDI và chuyển
dịch cơ cấu trong ngành công nghiệp ô tô ở Trung Âu và Đông Âu [123]. Nghiên
cứu của tác giả FU Lifen cũng đã phân tích các tác động của FDI đến sự phát triển
cơ cấu ngành công nghiệp của Trung Quốc, cũng như phân tích sự thay đổi cơ cấu
ngành công nghiệp giai đoạn 1985 - 2008 ở Trung Quốc [105]. Kết quả cho thấy:
FDI có thể thúc đẩy công nghiệp Trung Quốc phát triển và tối ưu hóa trực tiếp sự
phát triển đó thông qua một gói các hiệu ứng, chẳng hạn như sự thay đổi của cấu
các khía cạnh pháp lý liên quan đến FDI ở Malayxia về lập pháp, đất đai, lao
động, môi trường; một số chính sách khuyến khích về thuế và phi tài chính; các
quyền sở hữu trí tuệ; quản lý và giải quyết các tranh chấp... Ở công trình nghiên
cứu này, tác giả chủ yếu phân tích trên góc độ vĩ mô, gắn với bối cảnh cụ thể để
phân tích cội nguồn xuất phát của những chủ trương, chính sách cũng như mục
tiêu của những quy định trong chính sách thu hút FDI của Malayxia. Đồng thời,
công trình nghiên cứu cũng nêu lên một số thách thức của Malayxia trong vấn đề
17
xử lý các mối quan hệ với các nước láng giềng ASEAN liên quan đến bản thỏa
thuận về thương mại, đến các khía cạnh đầu tư (TRIM) và bản thỏa thuận về các
vấn đề thương mại trong quyền sở hữu trí tuệ (TRIP). Tuy nhiên, công trình
nghiên cứu này cũng chưa nghiên cứu đầy đủ nội dung các chính sách thu hút FDI
mà Malayxia đã áp dụng [92].
Trong bài phân tích của Institute of International economics “FDI in
Developing Countries and Economies in Transition: Opportunities, Dangers, and
New Changes”, (Đầu tư nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển và các nền
kinh tế đang chuyển đổi: Cơ hội, thách thức và những đổi mới). Tác giả khuyến
nghị, để phát huy vai trò tích cực của FDI, nước nhận đầu tư không những cần có
chính sách tăng cường thu hút FDI, mà còn phải có chính sách chủ động định
hướng FDI theo hướng hiệu quả [111].
Báo cáo “Vietnam Economic report on Industrilization and Industry Policy”
vào tháng 10 năm 2005 do Ngân hàng Thế giới (World Bank) công bố đã có
những phân tích sâu sắc cùng với những số liệu được thu thập chính xác về hoạt
động công nghiệp hóa cũng như các chính sách công nghiệp đối với các DN nói
chung và các DN FDI nói riêng hoạt động tại Việt Nam. Trong đó, báo cáo nhấn
mạnh tầm quan trọng của các chính sách hành chính cần thiết để hỗ trợ cho sự
phát triển của khu vực DN FDI, bao gồm: khung quy phạm pháp luật, quy định về
xuất nhập cảnh, đất đai cho thuê, lao động, tín dụng, thuế và các chính sách
Nghiên cứu liên quan đến 32 nền kinh tế đang phát triển về mối quan hệ giữa chi
phí hành chính và FDI với GDP sau khi kiểm soát các yếu tố khác. Môi trường
chính sách trong nước có ảnh hưởng đến thu hút FDI nhằm mang lại vốn, bí
quyết công nghệ, tổ chức, quản lý, tiếp thị và mạng lưới sản xuất toàn cầu, tạo
điều kiện tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước thu hút FDI. FDI có thể
góp phần phát triển kinh tế của một quốc gia bằng cách: tăng nguồn lực tài chính
cho phát triển; tăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu; bảo vệ môi trường và xã hội;
tăng cường tiến bộ khoa học công nghệ (chuyển nhượng, khuếch tán và thế hệ
của công nghệ) [124].
Báo cáo đầu tư thế giới năm 2012, Towards A New Generation Of
Investment Policies (Định hướng một mô hình các chính sách mới trong đầu tư)
chỉ ra những đóng góp tích cực trong sự hợp tác giữa các DN nước ngoài và các