Luận văn thạc sỹ - Huy động vốn tại Ngân hang TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam- Chi nhánh Tam Điệp - Pdf 54

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

------------

LUẬN VĂN THẠC SĨ
HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH TAM ĐIỆP

CHU VÂN TRANG
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã ngành: 8.34.01.01

Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ THỊ HẰNG

Hà Nội – Năm 2018


LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Chu Vân Trang


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin trân trọng dành sự biết ơn sâu sắc đến TS Lê Thị Hằng,
người đã hướng dẫn và giúp đỡ em hết sức tận tình. Sự hiểu biết sâu sắc về khoa học,

nguồn vốn quyết định hầu hết các hoạt động của một Ngân hàng.
Phần lớn số lượng tiền nhàn rỗi trong các tổ chức kinh tế vẫn chưa được khai
thác triệt để. Nhiều Ngân hàng hiện vẫn phụ thuộc vào nguồn vốn vay, kể cả vay
của các Ngân hàng nước ngoài để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tài sản.Vì vậy chi
phí nguồn vốn cao, sự ổn định và hiệu quả kinh doanh thấp đồng thời chưa phát huy
được nội lực để phát triển một cách vững chắc. Các Ngân hàng Việt Nam nói chung
đều đang trong tình trạng thiếu vốn trung và dài hạn cho nhu cầu đầu tư.Việc thu
hút nguồn vốn với chi phí cao, sự ổn định thấp, kết cấu làm hạn chế khả năng sinh
lời dẫn đến Ngân hàng bị đặt trước nguy cơ rủi ro lãi suất, rủi ro thanh toán và hơn
nữa có thể dẫn đến sự mất ổn định trong toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia. Do
vậy yêu cầu tăng cường huy động vốn có mức chi phí hợp lý và ổn định được đặt ra
hết sức cấp thiết đối với các Ngân hàng nói chung và Ngân hàng TMCP Đầu tư và
phát triển Việt Nam (BIDV) nói riêng.
Hệ thống Ngân hàng (TMCP) đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) được
thành lập từ ngày 26/07/1957 đến nay là một trong những hệ thống Ngân hàng được
thành lập đầu tiên tại Việt Nam. Với bề dày lịch sử Ngân hàng TMCP đầu tư và phát
triển Việt Nam (BIDV) đã giành được nhiều giải thưởng cao quý của Đất Nước, góp
phần khôi phục, phục hồi kinh tế Đất Nước. Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển
Việt Nam chi nhánh Tam Điệp là chi nhánh mới được thành lập từ năm 2017, là chi

1


nhánh trẻ luôn coi nhiệm vụ huy động vốn là nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu, xuyên
suốt trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Việc phát triển hoạt động huy động
vốn của chi nhánh còn có những mặt hạn chế nhất định, chưa phát huy được lợi thế
cạnh tranh, thị phần nguồn vốn huy động hạn hẹp. Để phát triển nguồn vốn huy động
phục vụ cho định hướng của Ngân hàng cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh, Chi nhánh cần có những giải pháp phù hợp và kịp thời.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng trong công tác huy động vốn trong hệ

động huy động vốn từ khi định hướng tiếp cận khách hàng đến khi tiếp thị khách
hàng gửi tiền… Thu thập, phân tích các nguồn tài liệu như: tạp chí, các báo cáo hoạt
động, báo cáo tài chính của BIDV Tam Điệp từ năm 2015 đến năm 2017. Thông tin
thu thập được thể hiện qua các bảng hỏi, bảng số liệu, giúp dễ dàng so sánh, đối
chiếu từ đó đưa ra các nhận xét và phân tích.
5. Tổng quan nghiên cứu
Đối với lĩnh vực Ngân hàng, trong xu thế hội nhập, sức cạnh tranh giữa các
Ngân hàng trong và ngoài nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ trong việc huy động vốn.
Đến nay đã một số luận văn tiến sỹ, thạc sỹ và luận văn tốt nghiệp có liên quan đến
huy động vốn tại Ngân hàng như:
Một số tác giả đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến huy động vốn :
« Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
Nam - Chi nhánh Hải Phòng », luận văn thạc sĩ của tác giả Vũ Thị Thanh Dung
năm 2011. Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn tại
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Hải Phòng giai đoạn 20062010, qua đó đã đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hoạt động huy động vốn
trong thời gian tới :(1) Tăng cường quản trị rủi ro trong huy động vốn;(2)Thực hiện
chính sách lãi suất linh hoạt;(3) Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn;(4) Hoàn
thiện chính sách khách hàng ;(5)Phát triển mạng lưới giao dịch, đầu tư cơ sở vật
chất;(6) Đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên[1]
« Huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam » luận
văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo năm 2015. Tác giả đã hệ thống cơ

3


sở lý luận cơ bản về NHTM và huy động vốn, đưa ra một số giải pháp cụ thể như
sau (1) Mở rộng mạng lưới chi nhánh ;(2) Phát triển nguồn nhân lực;(3)Hoàn thiện
chính sách khách hàng [2]
«Tăng trưởng nguồn vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt
Nam», luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nhật Lệ viết năm 2016. Tác giả tác

hướng nghiên cứu tại ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam” – Luân văn
thạc sỹ kinh tế của tác giả Phạm Thị Hậu, trường Đại học Thương mại, năm
2011. Đề tài này đi sâu vào phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt
động huy động tiền gửi tại ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam. Đưa ra
giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động tiền gửi tại
các ngân hàng thương mại[6]
“Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt
Nam – chi nhánh Phú Tài” - Luận văn thạc sĩ của tác giả Ngô Thị Thanh Hà
Đại học Đà Nẵng, năm 2013. Đối với đề tài này,tác giả đã phần nào hệ thống
hóa được các vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương
mại, nêu ra được các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn, nêu rõ
nội dung tăng cường hoạt động huy động vốn của NHTM. Luận văn cũng chỉ
ra những đặc điểm cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của Chi
nhánh. Luận văn cũng cho thấy những thành tựu, hạn chế về tình hình huy
động vốn của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Phú Tài
và đã chỉ ra những nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan của những
tồn tại hạn chế trong việc huy động vốn của Chi nhánh. Từ đó, tác giả đưa ra
những giải pháp của Chi nhánh đã thực hiện trong thời gian qua, cũng như các
giải pháp sẽ áp dụng trong thời gian tới nhằm phát triển tình hình huy động
vốn[7]
“Mở rộng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Phương Tây chi nhánh
Đà Nẵng”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Mai Xuân Phúc, Đại học Đà Nẵng,
(2013). Đối với đề tài này, luận văn nêu rõ quan điểm và nội dung về mở
rộng huy động vốn của NHTM: mở rộng quy mô, mở rộng thị phần, chi phí
5


huy động hợp lý, cơ cấu huy động vốn hợp lý và tiêu chí đảm bảo chất lương
dịch vụ thông qua số liệu khảo sát của ngân hàng; đồng thời luận văn cũng đã
nêu lên được các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mở rộng huy động vốn



chế trong việc tăng cường nguồn vốn huy động vốn tại BIDV Tam Điệp. Ba
là, căn cứ lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển của BIDV nói chung và
BIDV Tam Điệp nói riêng, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả huy động vốn tại BIDV Tam Điệp. Bên cạnh đó, luận văn cũng
đưa ra hệ thống các kiến nghị đối với Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước và
BIDV nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện các giải pháp trên đạt hiệu quả cao.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng
TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam- chi nhánh Tam Điệp
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện huy động vốn tại Ngân hàng TMCP
Đầu tư và phát triển Việt Nam- chi nhánh Tam Điệp

8


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG
HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
- Ngân hàng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ nhận
tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán,
chuyên thực hiện các hoạt động như nhận, gửi, cho vay, đầu tư tài chính, các hoạt
động thanh toán, phát hành các loại kì phiếu, hối phiếu….Một số Ngân hàng còn có

Ngân hàng trung ương.
- Là tổ chức tín dụng không được huy động vốn không kỳ hạn dưới một năm.
- Là tổ chức tín dụng không thực hiện chức năng thanh toán(công ty tài
chính,công ty cho thuê tài chính).
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thương mại đóng vai
trò là "cầu nối" giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc
huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, Ngân hàng
thương mại hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với
chức năng này, Ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng
vai trò là người cho vay.
Với chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi
ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền, Ngân hàng và người đi vay, đồng
thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
• Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của mình
dưới hình thức lãi tiền gửi mà Ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa, Ngân hàng còn đảm bảo
cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi.

10


● Đối với người đi vay, họ sẽ thoả mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chi
tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm
nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.
● Đối với Ngân hàng thương mại, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận cho bản thân
mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới.
Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của Ngân hàng thương mại.
● Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất

của khách hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền
của Ngân hàng thương mại.
1.1.2.3. Chức năng "tạo tiền"
Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, Ngân hàng
thương mại có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản
tiền gửi thanh toán của khách hàng tại Ngân hàng thương mại. Đây chính là một bộ
phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch.Ban đầu từ những khoản tiền
dự trữ tăng lên, Ngân hàng thương mại sử dụng để cho vay bằng chuyển khoản, sau
đó những khoản tiền này sẽ được quay lại Ngân hàng thương mại một phần khi
những người sử dụng tiền gửi vào dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn. Quá trình này
tiếp diễn trong hệ thống Ngân hàng và tạo nên một lượng tiền gửi (tức tiền tín dụng)
gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ
số mở rộng tiền gửi. Hệ số này, đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự
trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán
của công chúng.
Với chức năng "tạo tiền", hệ thống Ngân hàng thương mại đã làm tăng phương
tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng Ngân hàng và lưu thông tiền
tệ. Một khối lượng tín dụng mà Ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khả
năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng.
Các chức năng của Ngân hàng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung,
hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất,
tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi Ngân hàng thực hiện

12


tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng
nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng.
1.1.3. Vai trò của Ngân hàng thương mại

dụng vốn có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của Ngân hàng, quyết định năng lực cạnh
tranh của Ngân hàng trên thị trường. Do vậy, Ngân hàng cần phải nghiên cứu và
đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình sao cho hợp lý nhất.
Một là tiến hành cho vay:Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các
NHTM. Theo thống kê, khoảng 60%- 75% thu nhập của Ngân hàng là từ các hoạt
động cho vay. Thành công hay thất bại của một Ngân hàng tuỳ thuộc chủ yếu vào
việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ chính sách
cho vay của Ngân hàng. Các loại cho vay có thể phân loại bằng nhiều cách, bao
gồm: mục đích, hình thức bảo đảm, kỳ hạn, nguồn gốc và phương pháp hoàn trả...
Hai là tiến hành đầu tư: Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện của
hàng loạt những nhu cầu khác nhau. Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, Ngân
hàng còn sử dụng vốn để đầu tư. Có 2 hình thức chủ yếu mà các Ngân hàng thương
mại có thể tiến hành là: Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu
tư góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty khác.
Ba là nghiệp vụ ngân quỹ: Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ
thể khi tham gia tiến hành sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, Ngân hàng cũng cần
quan tâm tính an toàn. Vì vậy, ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận,
Ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo an
toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do Trung
ương đề ra.
1.1.4.3. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
Là trung gian tài chính, Ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những lợi
thế đó là Ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và
dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, Ngân hàng đưa
ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm
chi, nhờ thu, các loại thẻ …cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ

14




1.3. Huy động vốn với Ngân hàng thương mại
Quan niệm về huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Ta có thể đưa ra quan niệm về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương
mại như sau: “Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại là những hoạt
động mà trong đó các Ngân hàng tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác
nhằm mục đích kinh doanh và đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của
Ngân hàng theo đúng các quy định pháp luật”
1.4. Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
thương mại cổ phần
Trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có vốn,
vốn là nguồn lực chủ yếu quyết định đến khả năng, quy mô hoạt động của Ngân
hàng.Ngân hàng có nguồn vốn kinh doanh lớn cho phép mở rộng các hình thức đa
dạng hóa các hoạt động kinh doanh giúp cho các Ngân hàng giảm thiểu rủi ro.
Nguồn vốn quyết định khả năng thanh toán chi trả của một Ngân hàng, nếu có
nguồn vốn lớn, năng lực thanh toán tốt thì sẽ gây được uy tín trên thị trường.Nguồn
vốn của Ngân hàng còn là một nhân tố tác động đên sự thắng lợi trong cạnh tranh
tạo cho Ngân hàng có một chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Ngân hàng có khả
năng vốn dồi dào cho phép điều chỉnh phí bình quân đầu vào là một lợi thế cạnh
tranh.Mặt khác, Ngân hàng khi có nguồn vốn lớn sẽ có đủ khả năng tài chính để
kinh doanh đa dạng trên thị trường, thoát khỏi hình thức kinh doanh đơn điệu, có
quỹ dự trữ cần thiết tạo đà mở rộng quy mô hoạt động tín dụng và đảm bảo khả
năng thanh toán và chi trả của Ngân hàng.
Đại bộ phận nguồn vốn của Ngân hàng TMCP là nguồn vốn Ngân hàng huy
động được trong nền kinh tế. Để có một khối lượng vốn lớn từ nhiều nguồn phong
phú, đa dạng đòi hỏi Ngân hàng TMCP phải đa dạng hóa được các nguồn vốn nghĩa
là có một tỷ trọng vốn trung và dài hạn thích hợp để thực hiện các chức năng của
một Ngân hàng đa năng. Khi thực hiện được điều đó Ngân hàng sẽ luôn được lợi
thế trong cạnh tranh, uy tín của Ngân hàng không ngừng được nâng cao.


17


Trong khi thực hiện là trung gian thanh toán các Ngân hàng thương mại còn
nhận được tiền gửi các tổ chức tín dụng là một loại tiền gửi giao dịch. Để thu hút
được tiền gửi phí giao dịch của các tổ chức, cá nhân, Ngân hàng sử dụng các tài
khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn hoặc phát hành các loại giấy tờ có giá:
kỳ phiếu, trái phiếu, giấy chứng nhận tiền gửi.
Một hoạt động không thể thiếu của các Ngân hàng thương mại là tiến hành
huy động vốn để Ngân hàng đi vào hoạt động. Quá trình huy động vốn đó hầu như
đều giống nhau ở các Ngân hàng nhưng để phân loại các hình thức huy động thì lại
rất khác nhau.Điều này còn phụ thuộc vào các tiêu chí được lựa chọn để phân loại.
1.5.1. Phân loại huy động vốn theo thời gian
Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với Ngân hàng vì nó liên quan mật
thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng như thời gian
phải hoàn trả khách hàng. Theo thời gian, hình thức huy động được chia thành:
● Huy động ngắn hạn
● Huy động trung hạn
● Huy động dài hạn
+ Thứ nhất về huy động ngắn hạn: Đây là hình thức huy động chủ yếu trong
các Ngân hàng thương mại cổ phần thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn
hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh
toán,….Phần lớn số này được dùng để cho vay ngắn hạn (dưới 1 năm) hoặc được
chuyển hoán kỳ hạn để thực hiện cho vay trung hạn. Do thời gian ngắn nên lãi suất
huy động ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém.
+ Thứ 2 về huy động trung hạn: Đây là nguồn huy động vốn Ngân hàng qua
phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn
(từ 1 đến 5 năm). Vốn huy động này Ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và
thuận tiện.Tuy nhiên lãi suất huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn.
Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để Ngân hàng thực hiện các

tiền tiết kiệm. Tiết kiệm dân cư là một phần thu nhập của khách hàng cá nhân chưa
sử dụng đến, họ gửi vào Ngân hàng với mục đích tích lũy một cách an toàn cho
tương lai. Tiền gửi tiết kiệm dân cư bao gồm nhiều loại:

19


+ Theo kỳ hạn
- Tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào nhưng
không được sử dụng các công cụ thanh toán. Loại tiền này có lãi suất cao hơn tiền
gửi thanh toán, tuy nhiên mức lãi suất không cao nên mục đích chủ yếu của khách
hàng gửi tiền là đảm bảo an toàn vốn.
- Tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền có sự thỏa thuận về thời hạn gửi tiền và
rút tiền và khách hàng chỉ được rút khi đáo hạn, nếu rút trước hạn thì chỉ được
hưởng lãi suất không kỳ hạn tại thời điểm rút. Loại tiền gửi này thường được hưởng
lãi suất cố định và phụ thuộc vào kỳ hạn, kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Tiền
gửi tiết kiệm kỳ hạn được chia thành ngắn, trung và dài hạn.
+ Theo loại tiền
- Tiết kiệm nội tệ: Là khoản tiền gửi bằng VND, loại tiền gửi tiết kiệm này
thường được hưởng lãi suất cao và thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tiền gửi
của Ngân hàng.
- Tiết kiệm ngoại tệ: Người dân có thể gửi tiền vào Ngân hàng bằng ngoại tệ
mạnh như USD. Do tính ổn định của ngoại tệ so với nội tệ và tâm lý của người dân
nên số tiền gửi tiết kiệm bằng nội tệ có xu hướng tăng lên.
+ Theo phương thức trả lãi
- Tiết kiệm trả lãi sau: Là hình thức tiết kiệm trả lãi khi đáo hạn. Và thời điểm
đáo hạn, nếu khách hàng không đến rút gốc và lãi thì số tiền lãi được nhập vào gốc
và coi là gốc của kỳ tiếp theo.
-Tiết kiệm trả lãi trước: Là hình thức tiết kiệm trả lãi ngay khi khách hàng gửi
tiền. Khi đến hạn khách hàng sẽ được lĩnh phần gốc đúng như số tiền gửi trên sổ tiết

1.5.3. Huy động vốn bằng cách đi vay
Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môi trường kinh doanh
đầy biến động như hiện nay. Các Ngân hàng thương mại có thể vay từ nhiều nguồn:
1.5.3.1 Vay chiết khấu hay tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương
Việc vay vốn từ Ngân hàng Trung ương nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời của
nguồn vốn do sự giảm sút số vốn hiện có so với tài sản của Ngân hàng TMCP. Tuy

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status