NHỮNG đặc điểm THI PHÁP CỦA TỤC NGỮ - Pdf 54

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TỤC NGỮ
***
1. Từ định nghĩa tục ngữ đến thi pháp tục ngữ
1.1. Định nghĩa tục ngữ
Theo ông Dương Quảng Hàm trong “Việt Nam văn học sử yếu”: “Tục ngữ (tục:
thói quen đã có lâu đời, ngữ: lời nói) là những câu nói gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu
hành từ đời xưa, rồi do cửa miệng của người đời truyền đi”. Đây là một trong
những định nghĩa về tục ngữ đã xuất hiện sớm. Tuy chưa thật sự đầy đủ các đặc
trưng nhưng cũng đã nêu được một số đặc điểm cơ bản của tục ngữ.
Một định nghĩa khác trong giáo trình “Lịch sử văn học Việt Nam”(tập1): Tục ngữ
là câu nói thường ngắn gọn có vần hoặc không có vần, có nhịp điệu hoặc không có
nhịp điệu, đúc kết kinh nghiệm sản xuất hay đấu tranh xã hội, rút ra một chân lí
phổ biến, ghi lại một nhận xét về tâm lí, phong tục tập quán của nhân dân, tục ngữ
do nhân dân sáng tác và được toàn thể xã hội công nhận. Hay gần đây trong giáo
trình “Văn học dân gian” (tập 2) của cố giáo sư Hoàng Tiến Tựu diễn đạt lại định
nghĩa về tục ngữ đã nêu ở trên gọn hơn: “ Tục ngữ là thể loại VHDG nhằm đúc kết
kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân
dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ,
dễ truyền”.
Những định nghĩa về tục ngữ càng về sau càng đầy đủ, nêu lên được những tính
chất vốn có của thể loại. Điều đó cho thấy các nhà nghiên cứu VHDG đã khám phá
ra nhiều đặc trưng mang tính khu biệt, từ đó cho chúng ta cái nhìn đúng đắn hơn về
tục ngữ.
Tuy nhiên, các định nghĩa nêu trên còn chưa chú ý đến chức năng cũng như mục
đích của tục ngữ. Tục ngữ còn có chức năng thông báo. Thông báo một nội dung
tri thức và nhằm để đạt được một mục đích nào đó trong quá trình giao tiếp của
con người như: Truyền đạt kinh nghiệm; giáo huấn một điều tốt, răn đe, hạn chế
cái xấu; bày tỏ thái độ, quan niệm, chính kiến trước một hiện tượng nào đó; tăng
tính lập luận khi trình bày một vấn đề, một sự việc, một sự biện giải mà không cần
giải thích, biện luận nhiều lời,…


- Con giun xéo lắm cũng quằn
- Chưa làm xã đã học ăn bớt
- Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm
Câu tục ngữ không chỉ ngắn gọn mà còn chặt chẽ, không có chữ nào thừa. Vì vậy,
ta mới nêu đặc điểm của nó là tính chất “gọn chắc”; mỗi tiếng, mỗi từ trong câu
đều có vai trò, ý nghĩa quan trọng và được ép chặt với nhau.
2.1.2. Tính chất đối xứng của câu tục ngữ
Hình thức cấu trúc đặc trưng của câu tục ngữ là cấu trúc đối xứng. Câu đối xứng là
câu có sự tương ứng đều đặn của các thành phần trong câu. Ta thấy, đó là câu có
những đặc điểm sau:
. Cấu tạo thành những vế (thường là hai vế) đối ứng với nhau, có quan hệ lôgíc
chặt chẽ với nhau
. Giữa các vế có sự cân bằng (đôi khi chỉ là cân bằng tương đối) về số lượng từ và
sự đối ứng về từ loại, từ nghĩa …của những từ đồng vị.
Muốn giải thích đúng, sâu nghĩa và ý của câu tục ngữ, trước hết cần nắm chắc cấu
trúc đối xứng của nó.
Căn cứ vào các tiêu chí cú pháp và lôgíc, có thể chia những câu tục ngữ đối xứng
làm hai loại:
- Cấu trúc đối xứng đơn
Câu đối xứng đơn là câu: thứ nhất về mặt lôgíc, biểu đạt một phán đoán, thứ hai về
mặt cú pháp, là câu đơn (“vế” tương đương với thành phần của câu). Ta sẽ dùng
các kí hiệu a,b và ā (biểu thị mặt tương phản, mặt trái của a) để mô hình hóa câu
tục ngữ có cấu trúc đối xứng đơn. Sau đây là những mô hình cấu trúc đối xứng đơn
tiêu biểu, được tập hợp theo nhóm để tiện có một cái nhìn bao quát về đặc điểm
cấu trúc câu tục ngữ.
+ Nhóm 1: Cấu trúc so sánh định nghĩa
. Nhóm này gồm có các dạng: a là b, a như b, a => b,…


. Ý nghĩa: dùng b để cụ thể hóa, để nhấn mạnh một đặc tính nào đó thuộc bản chất

a hơn b:

May hơn khôn

+ Nhóm 3: Cấu trúc suy luận lôgíc
. Nhóm này gồm có các dạng: a thì b (và các dạng tương đương như có a thì có b,
không a thì không b), muốn a phải b, chưa a đã b, a mà ā, càng a càng ā,…
. Ý nghĩa: biểu đạt quan niệm suy lý giữa hai vế của phán đoán như: quan hệ
nguyên nhân- kết quả, quan hệ điều kiện- kết quả, quan hệ mâu thuẫn…Giữa các
dạng cấu trúc tương đương (như a thì b, so với có a thì có b và không a thì không
b) có sự khác biệt khá rõ rệt về sắc thái tu từ.
. Ví dụ:


a thì b:

Ở hiền gặp lành

Có a thì có b:

Có cây mới có dây leo

Không a thì không b:

Không bóp cổ, chẳng lè lưỡi

Muốn a phải b:

Muốn ăn hét, phải đào giun


nâng nổi nghĩa và ý chung của câu tục ngữ bằng phép bồi trợ.
. Ví dụ:


A = A’:

Buôn có bạn, bán có phường

A =B ( =C…):

Hàm chó, vó ngựa, cựa gà, ngà voi

+ Nhóm 2: Cấu trúc so sánh thứ bậc
. Nhóm này gồm có các dạng: A > B (>C…) (hình thức biểu đạt phổ biến là: nhất
A, nhì B,…), A < B (hình thức biểu đạt phổ biến là A không bằng B),…
. Ý nghĩa: Cũng tương tự như kiểu cấu trúc so sánh thứ bậc đối xứng đơn; chỗ khác
biệt là: ở đây, A và B tuy vẫn là những vế của một câu tục ngữ nhưng bản thân
chúng cũng có ý nghĩa của một phán đoán (nghĩa là bản thân A,B cũng là những
kinh nghiệm); dạng A > B là so sánh thứ bậc đúng mức, còn dạng A < B luôn luôn
có tính chất phóng đại (với tục ngữ, phóng đại là một thủ thuật lập luận nhằm
thuyết phục bằng “gây ấn tượng”).
. Ví dụ:
A > B (>C…):
A < B:

Thứ nhất cày nó, thứ nhì bón phân
Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng

+ Nhóm 3: Cấu trúc suy luận lôgíc
. Nhóm này gồm có các dạng: A thì B (đồng dạng với a thì b của cấu trúc đối xứng


2.2. Từ ngữ, nhịp và vần của câu tục ngữ
Cấu trúc câu tục ngữ có tính chất bền vững, được xây dựng bởi ba loại vật liệu
chính là từ ngữ, nhịp và vần. Những vật liệu này được kết hợp chặt chẽ, hài hòa
với nhau để tạo ra sức biểu đạt hoàn hảo của câu.
2.2.1. Từ ngữ của câu tục ngữ
Đặc điểm thứ nhất của từ ngữ trong tục ngữ là ở chỗ nó rất đích đáng, sắc sảo mà
vẫn hết sức giản dị. Từ ngữ trong câu tục phải đích đáng, sắc sảo để đảm bảo tính
chất tối ưu cho không gian ngôn ngữ của câu tục ngữ; đồng thời, nó đích đáng, sắc
sảo mà vẫn giản dị vì tục ngữ là hình thức tinh luyện của khẩu ngữ dân gian. Muốn
đi sâu vào đặc điểm này nên tập trung sự quan sát vào bộ phận vị ngữ trong câu tục
ngữ, cụ thể là những động từ và những tính từ chỉ tình thái hay tính chất. Điều thú
vị là ngay những câu tục ngữ dùng đến 9/10 từ Hán- Việt cũng vẫn giữ được đặc
điểm này. Ví dụ, trong câu:
Vô phúc đáo tụng đình, tụng đình rình vô phúc
Chỉ có một từ rình là thuần Việt, lại là một từ thông tục. Nhưng được đặt vào ngữ
cảnh Hán- Việt trang nghiêm, đã biến cả câu thành “nửa Hán nửa Nôm” và tự
nhiên toát ra ý vị hài hước suồng sã, do đó đã đóng vai trò nổi bật trong việc biểu
đạt tinh thần câu tục ngữ: Vừa vạch trần công lý, vừa khuyên răn những ai có máu
kiện cáo, xưa kia. Cũng nên biết rằng những câu tục ngữ có nội dung hài hước
hoặc châm biếm có chủ tâm thường có ý nghĩa răn dạy.
Đặc điểm thứ hai cũng rất tiêu biểu của từ ngữ trong câu tục ngữ, là tính hình ảnh
của sự diễn đạt những khái niệm, những ý tưởng trừu tượng. Ở đây, biện pháp


được sử dụng rộng rãi hơn cả vẫn là biện pháp so sánh. Trong tục ngữ, xét chung,
có ba loại quan hệ so sánh: 1/ so sánh nhằm diễn đạt những khái niệm trừu tượng
một cách cụ thể, hình ảnh; 2/ so sánh giữa hai vế của cấu trúc câu tục ngữ nhằm
biểu đạt một suy lý, một lập luận; 3/ so sánh khi sử dụng câu tục ngữ vào các hoạt
động suy nghĩ, nói năng, ứng xử…

Như vậy, tính chất nhịp nhàng, vần vè của câu tục ngữ đành rằng có giúp cho nó
“xuôi tai, thuận miệng, dễ nhớ, dễ truyền” nhưng vẫn được quy định trước hết và
chủ yếu bởi yêu cầu của nội dung. Câu tục ngữ có vẻ như không được đặt ra mà
bật ra một cách tự nhiên, do một hoàn cảnh cụ thể, tự lương tri, tâm hồn và trí
tuệ… nhưng thật ra là một công trình kiến trúc tinh xảo bằng ngôn ngữ - người ta
khó có thể thay đổi, thêm bớt gì được. Đương nhiên, như đã nói ở trên, yếu tố nhịp
đóng vai trò không hiển hiện nhưng có nhiều tác dụng: nó khiến cho câu tục ngữ
có tính nhịp nhàng; nó có sự tương tác với yếu tố vần và góp phần tạo ra sự hài hòa
về âm thanh cho câu tục ngữ; nó góp phần tạo ra sự cân đối, qua đó biểu đạt sắc
thái quan hệ lôgic giữa các vế của câu tục ngữ.
2.2.3. Vần của câu tục ngữ
Cũng như trong ca dao, trong tục ngữ vần là yếu tố giữ nhịp, tạo ra sự hài âm
hòa thanh cho câu, đồng thời góp phần làm nâng nổi những từ có ý nghĩa quan
trọng trong câu. Trong tục ngữ, vần hết sức phong phú, linh hoạt, bắt với nhau rất
tự nhiên mà tài tình và không tùy tiện cốt lấy sự “xuôi tai, vần vè”. Hiện tượng gò
chữ ép vần rất hiếm thấy trong tục ngữ. Những câu tục ngữ 4 tiếng thường có cấu
trúc đan chéo (a b a’ b’, a b c b’, a b a b’) hoặc cấu trúc cân đối như ta đã biết.
Trong trường hợp vần xuất hiện và phải là vần sát. Ví dụ:
- Bến đò, lò rèn
- Có tật, giật mình
- Cốc mò, cò xơi
Vần sát xuất hiện trong những câu tục ngữ có cấu trúc đối xứng mà trục đối
xứng ẩn.
Ví dụ: Những câu 6 tiếng:
- Ăn cây nào, rào cây ấy
- Cá kể đầu, rau kể mớ
- Đạn ăn lên, tên ăn xuống


Những câu 8 tiếng:


Vần cách hai tiếng:
- Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão
- Bà chúa đứt tay, bằng ăn mày sổ ruột
Vần cách ba tiếng:
- Tiền lĩnh quần chị, không bằng tiền chỉ quần em
- Tham thì thâm, Bụt đã bảo thầm rằng chớ có tham
Tính biểu cảm nghệ thuật của câu tục ngữ phụ thuộc phần lớn vào vần, vào
sự “biến hóa” trong cách gieo vần của nó. Cũng có thể thấy là vần gieo cách một,
hai hay ba tiếng đều theo đúng quy tắc riêng. Tóm lại, tính nghệ thuật của câu tục
ngữ thể hiện ở tính cân đối của cấu trúc, ở tính hình tượng của từ ngữ, ở tính nhịp
nhàng và tính nhạc của nhịp và vần… của nó.

3. Thực tế và tục ngữ – tục ngữ và thực tế
Tục ngữ nảy sinh từ nhu cầu khái quát những kinh nghiệm rút ra từ sự quan sát và
suy ngẫm về những sự việc, sự kiện thực tế và đúc kết những kinh nghiệm ấy để sử
dụng trong các hoạt động thực tế.
Có lẽ là thừa khi khẳng định rằng “thể loại tục ngữ trong bản chất có tính chất hiện
thực”. Tuy nhiên, nếu cho rằng “bản thân nếp suy nghĩ của tục ngữ…là sự tập hợp
của những điều quan sát đơn giản” thì chưa hẳn đã đúng. Ta nhận thấy là kinh
nghiệm trong tục ngữ, đều hình thành trên cơ sở quan sát, suy ngẫm về những sự
việc, sự kiện thực tế được lặp đi lặp lại nhiều lần. Trong tục ngữ khó lòng có được
tiếng vang kinh nghiệm của một sự việc, một sự kiện thực tế đơn độc. Không thể
chỉ một vài lần “trông trời, trông đất,..”, “dãi nắng, dầm sương,…” hoặc “ra khơi,
vào lộng,…” là đã có thể “rút ra” những kinh nghiệm về thời tiết, ví dụ như:
- Vẩy mại thì mưa, bối bừa thì nắng
- Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa


mà phải trải cả đời, nhiều đời, mồ hôi nước mắt trên ruộng đồng, sông biển. Cả lịch

nghĩa là những câu chỉ có thể hiểu theo “nghĩa đen”. Ví dụ:
Mưa tháng bảy gãy cành trám
Dao thử trầu héo, kéo thử lụa xô
Những câu tục ngữ thuộc loại đa nghĩa có thể chia thành hai loại: loại thứ nhất gồm
những câu vừa được hiểu theo “nghĩa đen”, vừa có thể (và thường) được hiểu theo
“nghĩa bóng”; ví dụ:
Qua giêng hết năm, qua rằm hết tháng
Qua chợ còn tiền, vô duyên càng khỏi nhẵn má
Loại thứ hai gồm những câu chỉ được dùng theo “nghĩa bóng”, ví dụ:
Chết không muốn, muốn ăn xôi
Có sừng, thì đừng hàm trên
Những câu tục ngữ thuộc loại đa nghĩa chiếm tỷ lệ lớn hơn hẳn so với những câu
đơn nghĩa. Điều này có nghĩa là trong ứng dụng phần lớn tục ngữ được dùng như
những ẩn dụ. Trong trường hợp này, câu tục ngữ trở thành cái so sánh (b) và điều
người ta muốn nói là cái được so sánh (a). Vì trường nghĩa của câu tục ngữ đa
nghĩa thường khá rộng (xoay quanh một nghĩa cơ bản) cho nên nó có khả năng ứng
dụng vào những tình huống, hoàn cảnh khác nhau. Trên thực tế, sử dụng một câu
tục ngữ một cách thích đáng, ở một hoàn cảnh thích hợp, xét về mặt “hành ngôn”,
gần như là khám phá ra một nghĩa mới thuộc trường nghĩa của nó, nếu không
muốn nói là “phát minh” ra một ẩn dụ mới.
- HẾT -




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status