Hoạt động xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại tại VAMC theo pháp luật Việt Nam hiện nay - Pdf 54

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRỊNH THỊ LAN ANH

HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VAMC THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRỊNH THỊ LAN ANH

HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VAMC THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838010105

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY

HÀ NỘI - 2018

THƯƠNG MẠI TẠI VAMC.................................................................8
1.1.

KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI NỢ XẤU CỦA NHTM.................8

1.1.1. Khái niệm nợ xấu của NHTM...............................................................8
1.1.2. ĐẶC ĐIỂM NỢ XẤU CỦA NHTM................................................11
1.1.3. PHÂN LOẠI NỢ XẤU CỦA NHTM..............................................13
1.2.

NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NỢ XẤU CỦA NHTM.................................15

1.2.1. NGUYÊN NHÂN KHÁCH QUAN.................................................17
1.2.2. NGUYÊN NHÂN CHỦ QUAN.......................................................19
1.3.

KHÁI

NIỆM, ĐẶC ĐIỂM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA

NHTM

TẠI

VAMC................................................................................................21
1.3.1. KHÁI NIỆM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NHTM TẠI VAMC............21
1.3.2. ĐẶC ĐIỂM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NHTM TẠI VAMC..............24
1.4.

CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NHTM TẠI VAMC................28


DỤNG Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆM CHO VIỆT NAM......................................................................35

1.6.1. MÔ HÌNH Ở HÀN QUỐC...............................................................36
1.6.2. MÔ HÌNH Ở THÁI LAN.................................................................39
1.6.3. MÔ HÌNH Ở MALAYXIA..............................................................41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1..............................................................................44
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG
XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TẠI VAMC.......................................................................................45
2.1.

KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA
CÁC TCTD VIỆT NAM................................................................45

2.1.1. SỰ THÀNH LẬP VAMC..................................................................45
2.1.2. CƠ CẤU, TỔ CHỨC CỦA VAMC.................................................46
2.2.

VỀ

HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ XẤU BẰNG PHÁT HÀNH TRÁI

PHIẾU ĐẶC BIỆT TẠI VAMC..............................................................51

2.3.

HOẠT


2.6.2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG
MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VAMC.......................................................71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2..............................................................................90
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VAMC Ở VIỆT NAM
............................................................................................................91
3.1.

ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ
NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI

VAMC



VIỆT

NAM....................................................................................................91
3.1.1. PHÙ HỢP VỚI ĐƯỜNG LỐI, CHỦ TRƯƠNG CHÍNH
SÁCH CỦA ĐẢNG, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VỀ
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRONG BỐI
CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ........................................................91
3.1.2. ĐẢM BẢO TUÂN THỦ CÁC NGUYÊN TẮC XỬ LÝ NỢ
XẤU CỦA NHTM TẠI VAMC......................................................93
3.1.3. ĐẢM BẢO TÍNH HIỆU QUẢ TRONG PHỐI KẾT HỢP
CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU BỞI VAMC VÀ CÁC
CHỦ THỂ XỬ LÝ NỢ XẤU KHÁC...............................................94
3.2.


HĐTD:

Hợp đồng tín dụng

NHNN:

Ngân hàng nhà nước

NHTM:

Ngân hàng thương mại

NHTW:

Ngân hàng Trung ương

TCTD:

Tổ chức tín dụng

TNDN:

Thu nhập cá nhân

TPĐB:

Trái phiếu đặc biệt


DANH MỤC CÁC BẢNG

giai đoạn 2013-2017

66

Biểu đồ 2.2.

Kết quả xử lý nợ xấu của VAMC, TCTD năm 2016

73

Sơ đồ 1.1.

Những cơ quan tham gia giám sát hoạt động của các
AMC ở Trung Quốc trên thị trường thứ cấp

26

Sơ đồ 1.2.

Mối quan hệ nghiệp vụ giữa DICJ và RCC ở Nhật Bản

30

Sơ đồ 2.1.

Cơ cấu, tổ chức của VAMC

47

Sơ đồ 2.2.

mua bán nợ xấu của các NHTM, một trong số đó phải kể đến Công ty VAMC.
Ngày 18/5/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số
53/2013/NĐ-CP quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động của Công ty
quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC).
Hiện nay, Chính phủ cũng đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp
luật quy định về hoạt động của VAMC cũng như hoạt động xử lý nợ xấu của
1


công ty như: Nghị định số 53/2013/NĐ-CP quy định về việc thành lập, tổ
chức, hoạt động của Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam; Thông
tư số 19/2013-TT-NHNN ngày 06/9/2013 của Thống đốc NHNN quy định về
việc mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC; Thông tư số 14/2015-TT-NHNN
sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2013-TT-NHNN ngày
06/9/2013; Thông tư số 18/2015/TT-NHNN ngày 22/10/2015 của NHNN về
cho vay tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt của Công ty quản lý tài sản
của các TCTD Việt Nam; Thông tư số 08/2016/TT-NHNN về việc sửa đổi, bổ
sung một số điều của Thông tư số 19/2013-TT-NHNN ngày 06/9/2013.
Có thể nói, việc ban hành các văn bản pháp luật đã tạo cơ sở pháp lý
cho hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu của VAMC. Chính vì vậy, dù mới được
thành lập, VAMC đã có vai trò quan trọng trong việc xử lý nợ xấu tại các
NHTM ở Việt Nam. Vậy VAMC đã hoạt động như thế nào để xử lý nợ xấu
tồn đọng trong những năm qua? Pháp luật Việt Nam hiện hành có những quy
định nào về hoạt động của VAMC? Ý nghĩa của việc thành lập VAMC là gì?
Bên cạnh đó, thực trạng các quy định pháp luật về hoạt động xử lý nợ
xấu cho thấy còn phân tán, thiếu tính thống nhất, trùng lặp, mâu thuẫn dẫn tới
việc thực tiễn triển khai áp dụng vẫn còn những hạn chế, khó khăn, chẳng hạn
quy định về công tác về xử lý và thu hồi nợ xấu vẫn còn nhiều vướng mắc cần
nghiên cứu lý giải về lý luận và thực tiễn. Như vậy, việc hoàn thiện pháp luật
có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình xử lý nợ xấu cũng như tốc độ phát

Cao Thị Thúy, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội…. Bên cạnh đó, có một
số sách chuyên khảo, bài báo trên các tạp chí, bài nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo
được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trao đổi về nội dung
liên quan đến pháp luật về hoạt động xử lý nợ xấu tại VAMC như: “VAMC và
xử lý nợ xấu: Một số vấn đề đặt ra và khuyến nghị chính sách”, Sách Tài
chính Việt Nam, của Lê Thị Thùy Vân và Vương Duy Lâm năm 2015, NXB
Tài chính, Hà Nội “Hoạt động mua bán nợ của VAMC thời gian qua – thực
trạng và kiến nghị”, của Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Văn Thọ và Nguyễn Ngọc
Linh năm 2014, Tạp chí Ngân hàng số 18; “Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn
hoạt động của VAMC” của PGS.TS Kiều Hữu Thiện, Học viện Ngân hàng

3


năm 2014; “Hoàn thiện mô hình và cơ chế xử lý nợ xấu cho VAMC – Kinh
nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam” của Nguyễn Thị Việt Nga
năm 2017, Tạp chí Tài chính Quốc tế, số 5…. Các công trình nghiên cứu nói
trên là những góc nhìn khác nhau về hoạt động xử lý nợ xấu, khái quát tình
hình nợ xấu,… nhưng cũng chưa tập trung phân tích, đánh giá, tổng hợp triệt
để về lý luận và các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt
động xử lý nợ xấu của VAMC tại NHTM một cách toàn diện để đưa ra những
giải pháp có tính đồng bộ và thống nhất, đặc biệt trong bối cảnh, tình trạng nợ
xấu tuy đã được kiểm soát nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần được giải
quyết như hiện nay. Chính vì vậy, luận văn này sẽ là tài liệu có giá trị tham
khảo giúp các nhà làm luật có cái nhìn mới về vấn đề này góp phần hoàn thiện
hơn những quy định của pháp luật về hoạt động xử lý nợ xấu của NHTM tại
VAMC trong tương lai.
3.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

mới đóng góp cho khoa học pháp lý như sau:
Thứ nhất, luận văn làm rõ khái niệm, đặc điểm, các biện pháp xử lý nợ
xấu của NHTM tại VAMC và pháp luật về hoạt động xử lý nợ xấu của NHTM
tại VAMC.
Thứ hai, làm rõ những bất cập và nguyên nhân của nó trong thực tiễn
thực thi pháp luật về hoạt động xử lý nợ xấu tại VAMC.
Thứ ba, phân tích một số mô hình công ty xử lý nợ xấu trên thế giới và
bài học áp dụng cho Việt Nam.
Thứ tư, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu
của NHTM tại VAMC.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật Việt
Nam về hoạt động xử lý nợ xấu của một trong những chủ thể mua bán nợ xấu
của NHTM ở Việt Nam hiện nay là Công ty Quản lý tài sản của các TCTD
Việt Nam (VAMC), thực tiễn xử lý nợ xấu bởi VAMC hiện nay.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Như tên đề tài đã chỉ rõ, là nghiên cứu về hoạt động xử

5


lý nợ xấu của NHTM tại VAMC theo quy định của pháp luật Việt Nam. Tuy
nhiên, trong phạm vi hẹp của đề tài, đề tài tập trung vào một số hoạt động xử
lý nợ xấu của NHTM tại VAMC, đó là hoạt động mua bán nợ xấu, cơ cấu lại
nợ, xử lý TSBĐ tại VAMC. Bên cạnh đó, trong nghiên cứu so sánh, luận văn
nghiên cứu pháp luật về xử lý nợ xấu của một số nước trên thế giới. Việc đưa
ra số liệu và phân tích dựa trên phạm vi cả nước.
Về thời gian: Luận văn phân tích về những vấn đề phát sinh từ hoạt
động xử lý nợ xấu của NHTM tại Công ty Quản lý tài sản của các TCTD

những quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động xử lý nợ xấu tại NHTM
với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới; tham khảo kinh nghiệm thực
tiễn, qua đó rút ra những ưu điểm, xem xét tính phù hợp với điều kiện Việt
Nam nhằm hướng tới việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về
hoạt động xử lý nợ xấu của NHTM tại VAMC.
6.3. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động xử lý nợ xấu của các NHTM trên cả nước.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nợ xấu và pháp luật về hoạt động
xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại tại VAMC.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động xử lý nợ xấu của NHTM
tại VAMC.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động
xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại tại VAMC ở Việt Nam.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ PHÁP LUẬT
VỀ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TẠI VAMC
1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại nợ xấu của NHTM
1.1.1. Khái niệm nợ xấu của NHTM
Nợ xấu luôn là vấn đề nhức nhối, vấn đề thường trực tại các NHTM. Việc
giải quyết nợ xấu luôn được các ngân hàng quan tâm hàng đầu. Thông qua việc
giải quyết nợ xấu giúp hệ thống ngân hàng phát triển ổn định, tránh lạm phát, ổn
định thị trường tài chính, tạo hàng lang an toàn pháp lý cho doanh nghiệp, động

90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ
được thực hiện đầy đủ [65].
Về cơ bản, nợ xấu theo quan điểm của IMF được định nghĩa dựa trên
hai yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày, hoặc (ii) khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Với
quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả
năng trả nợ của khách hàng. Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn
toàn không trả được nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ.
Như vậy, so với quan điểm của ECB, thì quan điểm về nợ xấu của IMF
cũng dựa trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng, nhưng có bổ sung thêm yếu
tố về thời gian quá hạn trả nợ. Đây được coi là định nghĩa hiện đang được áp
dụng phổ biến trên thế giới.
Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê - Liên hợp quốc:
Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả
lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày
trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả
thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày
nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ
được thanh toán đầy đủ.

9


Như vậy, nợ xấu về cơ bản được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn
trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây được coi là định nghĩa của
IAS (Hệ thống kế toán quốc tế) đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên
thế giới [35].
Khái quát từ quy định của pháp luật Việt Nam: Nợ xấu là những khoản
nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và
nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn), cụ thể:
(i) Nợ dưới tiêu chuẩn: bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến

Nợ xấu của NHTM là khoản vay của khách hàng tại NHTM đã quá hạn
trên 90 ngày và có đầy đủ dấu hiệu cho rằng khách hàng không có khả năng
thanh toán nợ. Tại Việt Nam, việc xác định một khoản nợ được coi là nợ xấu
hay con số nợ xấu gặp nhiều khó khăn, vẫn chủ yếu dựa vào phương pháp
định lượng là chủ yếu, điều này dẫn tới hiện tượng đảo nợ, cơ cấu lại khoản
nợ, khía cạnh đạo đức…. Dẫn đến có sự chênh lệch về con số nợ xấu trong
báo cáo và con số thật về nợ xấu ngân hàng trên thực tế.
1.1.2. Đặc điểm nợ xấu của NHTM
Từ việc phân tích khái niệm về nợ xấu, nợ xấu có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, nợ xấu gắn chặt với quy mô phát triển của NHTM, ảnh
hưởng đến quy mô hoạt động của ngân hàng. Nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản,
chỉ tiêu tập trung nhất phản ánh chất lượng, hiệu quả hoạt động của một
NHTM cũng như sự phát triển của cả hệ thống ngân hàng [22, tr.3]. Hoạt
động chính mang lại nguồn thu lớn nhất cho NHTM là hoạt động tín dụng.
Việc không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các khoản phí) làm cho nguồn gốc
của các NHTM bị thất thoát, trong khi đó các ngân hàng vẫn phải chi trả tiền
lãi cho nguồn vốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút. Nếu lợi nhuận
không đủ thì ngân hàng còn phải dùng chính vốn tự có của mình để bù đắp
thiệt hại. Hơn nữa, các khoản nợ xấu thường là các khoản nợ mang giá trị cao,
khoản vay lớn. Điều này, càng thêm phần bất lợi cho hoạt động ngân hàng, hệ
quả làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính của ngân hàng bị suy
11


giảm, giảm khả năng huy động vốn của ngân hàng, nghiêm trọng hơn có thể
dẫn đến rủi ro thanh khoản và đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản.
Thứ hai, đặc trưng của nợ xấu chính là các khoản nợ dưới chuẩn. Tức là
khoản nợ quá hạn trên 90 ngày mà khách hàng có dấu hiệu không trả được nợ.
Các khoản nợ phải có dấu hiệu rõ ràng cho việc khách hàng không có khả năng
trả được nợ, ví dụ như quá trình kinh doanh bị thua lỗ, có nguy cơ phá sản…

nhóm sau đây:
- Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
- Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.
- Nợ quá hạn trên 360 ngày.
(ii) Theo số lần gia hạn nợ:
- Nợ được gia hạn lần đầu.
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180
ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.
- Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo
thời hạn đã được cơ cấu lại.
(iii) Theo số lần mua, bán nợ:
- Nợ xấu được mua, bán một lần.
- Nợ xấu được mua, bán nhiều lần.
(iv) Theo mô hình xử lý nợ xấu, nợ xấu được phân thành các loại sau đây:
- Nợ xấu được xử lý bởi công ty xử lý nợ xấu theo mô hình tập trung.
Ví dụ, ở Việt Nam là Công ty quản lý tài sản của các TCTD (VAMC). Ở Hàn
Quốc là Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc – Korean Asset Management
Corporation (KAMCO). Bản chất của KAMCO là một tổ chức xử lý nợ xấu
quốc gia, tập trung xử lý nợ xấu của ngân hàng, được Chính phủ Hàn quốc
thành lập và trao quyền rất lớn trong việc xử lý nợ xấu. Với quyền năng được
Chính phủ Hàn Quốc trao cho, KAMCO ưu tiên mua lại các khoản nợ xấu có

13


khả năng phát mãi, các khoản được coi là điều kiện sống còn để phục hồi tổ
chức tài chính và các khoản nợ xấu có nhiều chủ nợ. Nguyên tắc xử lý nợ xấu
của KAMCO là “minh bạch, công bằng” và “nhanh chóng, hiệu quả, tối đa

khoản nợ); Thực hiện các hoạt động thẩm định giá, đấu giá trên cơ sở đảm
bảo đầy đủ các điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật; Dịch vụ quản
lý nợ và thu nợ; Kinh doanh những ngành nghề khác hỗ trợ ngành nghề kinh
doanh chính theo quy định của pháp luật [78].
1.2. Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu của NHTM
Trên thế giới có khá nhiều các nghiên cứu về nguyên nhân gây ra nợ
xấu của NHTM.
Đối với các nguyên nhân gây ra nợ xấu và sự ảnh hưởng của nợ xấu
đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng, phải kể đến nghiên cứu của
Keeton, William và Morris (1987). Đề tài đã thực hiện nghiên cứu trên các
NHTM bị thua lỗ tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1979-1985 đồng thời sử dụng tỷ
lệ nợ xấu làm thước đo chính cho việc đo lường rủi ro tín dụng tại các ngân
hàng này. Mô hình kiểm định đã chỉ ra rằng các điều kiện kinh tế riêng biệt
địa phương cùng với sự yếu kém trong hoạt động quản lý ngân hàng là các
nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín dụng. Nghiên cứu này cũng cho thấy
rằng các NHTM sẵn sàng cho vay những món mạo hiểm thường có rủi ro vỡ
nợ cao hơn so với các ngân hàng khác.
Theo Mr. William và Morris (1987) cũng lý giải tương tự về các yếu tố
gây ra nợ xấu đối với các khoản cho vay tại Mỹ. Ví dụ nghiên cứu của Sinkey,
Joseph. F và Greenwalt (1991) thực hiện trên các NHTM lớn ở Mỹ lập luận rằng
cả hai yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng đều là tác nhân gây ra sự đổ vỡ
tín dụng. Nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ nợ xấu trong các
khoản cho vay với các yếu tố chủ quan của ngân hàng như cho vay với lãi suất
cao, hay cho vay nhiều quá mức…. Tương tự như các nghiên cứu trước đó,
Sinkey, Joseph. F và Greenwalt (1991) cũng cho rằng các điều kiện kinh tế vĩ

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status