KHOA LUẬT
PHẠM KIM THOA
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC Ở
VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa
Hµ néi - 2007
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG
Nguyên nhân khách quan
18
1.4.2.
Nguyên nhân chủ quan
25
1.4.2.1. Về phía ngân hàng thương mại nhà nước
25
1.4.2.2. Nguyên nhân do chủ quan của khách hàng
29
1.4.2.3. Những nguyên nhân khác
31
1.5.
Hậu quả của nợ xấu
32
Chương 2: GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU, THÀNH TỰU VÀ MỘT
2.1.4.
Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng (DATC)
45
2.1.5.
Cấp bổ sung vốn
46
2.1.6.
Cơ cấu lại tổ chức và hoạt động của các ngân hàng thương
mại nhà nước
48
2.1.7.
Quỹ dự phòng rủi ro
50
2.2.
Kết quả xử lý nợ xấu
68
2.3.5.
Pháp luật về phá sản doanh nghiệp liên quan đến xử lý nợ
xấu
69
2.3.6.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 liên quan đến xử lý
nợ xấu
70
2.4.
Các khó khăn trong quá trình xử lý nợ xấu
71
Chương 3: KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT
75
VỀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LUẬT VỀ
XỬ LÝ NỢ XẤU NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ
NƯỚC
82
3.3.3.
Cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước
84
3.3.4.
Xử lý tốt công nợ
84
3.3.5.
Cải cách ngân hàng thương mại nhà nước và môi trường chính
sách vĩ mô
85
3.3.6.
Phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
85
3.3.7.
90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
93
PHỤ LỤC
98
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nợ xấu ngân hàng trong những năm gần đây tăng nhanh. Sự tồn đọng
và phát triển của nợ xấu đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nợ xấu gia
tăng sẽ có tác động tiêu cực đến hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước và
cho toàn bộ hệ thống tài chính của Việt Nam. Chính vì vậy, nghiên cứu các
căn nguyên cũng như thực trạng của nợ xấu sẽ khiến cho việc giải quyết bài
toán về nợ có thể trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn.
Tuy vậy, hiện nay có rất nhiều điểm bất cập trong quá trình xử lý nợ
xấu ngân hàng, đặc biệt là ở khối các ngân hàng thương mại nhà nước. Quy
định về lộ trình, các biện pháp xử lý nợ và các văn bản hướng dẫn thi hành
còn thiếu nhiều quy định cần thiết, nhiều điểm còn chưa hợp lý, bất cập, các
văn bản luật chuyên ngành khác còn quá cứng nhắc, không phù hợp với thực
tiễn. Chính vì vậy, dù đã nỗ lực rất nhiều và đã có những thành tựu đáng kể
trong tiến trình làm lành mạnh hóa ngân hàng trong những năm qua, dư nợ
giảm mạnh nhưng số nợ xấu tuyệt đối vẫn tiếp tục tăng lên. Điều này khiến
cho ngành ngân hàng, cũng như cả nền kinh tế không tránh khỏi lo âu. Đặc
biệt, vào tháng 12 năm 2006, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức
vn cú tớnh lý lun v thc tin cao:
- Phng phỏp bin chng, lch s.
- Phng phỏp phõn tớch, tng hp.
- Phng phỏp so sỏnh, thng kờ.
- Phng phỏp phõn tớch, tng hp.
- Phng phỏp iu tra xó hi hc, hi tho v chuyờn gia.
- Phng phỏp mụ hỡnh húa, h thng húa.
5. Đóng góp của luận văn
* V t liu: H thng húa t liu, ti liu, vn bn phỏp lý v hot
ng x lý n xu ti cỏc ngõn hng thng mi nh nc.
* V ni dung khoa hc:
Th nht, ln u tiờn vn x lý n xu c nghiờn cu mt cỏch
ton din v h thng v lý lun cng nh thc tin.
Th hai, lun vn tip cn vic tỡm hiu, nghiờn cu v n xu, x lý
n xu, nguyờn nhõn thc trng n xu v cỏc phng ỏn cng nh kt qu x
4
lý nợ xấu. Từ đó đề ra một số giải pháp hoàn thiện để nâng cao chất lượng và
hiệu quả của hoạt động xử lý nợ xấu các ngân hàng thương mại nhà nước nói
riêng và của cả hệ thống ngân hàng nói chung.
Thứ ba, luận văn góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của
việc xử lý tốt các vấn đề liên quan đến nợ xấu, trên cơ sở phù hợp với thông
lệ quốc tế.
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về pháp
luật xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại nhà nước. Kết quả nghiên cứu của
luận văn có giá trị tham khảo trong công tác xây dựng, nghiên cứu và áp dụng
pháp luật nhất là trong bối cảnh chúng ta tiến hành cổ phần hóa các ngân hàng
thương mại nhà nước lớn trong năm 2007 và trong quá trình cải cách ngân
ở mức rất thấp. Các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam chỉ ở mức
trung bình khá so với các nước ở khu vực châu Á như Thái Lan, Singapore…
"Tỷ trọng vốn tự có / tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro hiện ở mức trên 5 %
trong khi các nước trong khu vực luôn lớn hơn hoặc bằng 8 %; chi phí nghiệp
vụ / tổng tài sản Có cao hơn tỷ lệ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy
động bình quân 1,5 lần trong khi các nước trong khu vực luôn nhỏ hơn 1" [27].
Hệ quả là, các ngân hàng thương mại nhà nước không phát huy được khả
năng sử dụng vốn, chất lượng phục vụ được cải tiến với tốc độ chậm, nếu
không nói là tương đối yếu so với thế giới. Có thể nói, các ngân hàng thương
mại nhà nước có chất lượng và hiệu quả hoạt động không cao. Do đó, xử lý
nợ xấu, nâng cao năng lực phòng ngừa và quản trị rủi ro là việc rất cần thiết.
Hơn nữa, việc gia nhập WTO đem đến cho đất nước chúng ta nhiều cơ
hội và thách thức hơn. Rõ ràng, khi bước vào sân chơi chúng ta phải có bản
6
lĩnh và năng lực thì mới có thể trở thành một người chơi xuất sắc. Trong một
sân chơi quá rộng và có nhiều anh tài, ngân hàng thương mại nhà nước Việt
Nam phải tự cải biến nội lực và nâng cao khả năng cạnh tranh. Xử lý nợ xấu
giúp ngân hàng có năng lực tài chính và sự lành mạnh trong hoạt động ngân
hàng, kéo theo là niềm tin của giới đầu tư và các đối tác. Trên nền tảng tài
chính vững mạnh, không có quá nhiều rủi ro, việc nhận được nhiều vốn từ
kênh quốc tế với ngành ngân hàng sẽ trở thành hệ quả tất yếu.
Vì hoạt động chủ yếu dựa trên vốn vay của người có tiền nhàn rỗi
trong dân cư nên kinh doanh ngân hàng luôn chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn.
Các ngân hàng thương mại nhà nước là "bà đỡ" cho nền kinh tế, là kênh rót
vốn đặc biệt quan trọng (phần lớn tổng nguồn tín dụng của 4 ngân hàng
thương mại nhà nước hàng đầu là dành cho doanh nghiệp nhà nước). Rủi ro
trong kinh doanh ngân hàng, gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ
dõi và xử lý. Theo quan điểm của Ngân hàng Liên minh Châu Âu thì có thể
xác định nợ xấu trong hoạt động của các ngân hàng thương mại như sau:
a. Nợ xấu là những khoản nợ không thể thu hồi được
- Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ
không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ;
- Người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích, không có gia tài
hoặc tài sản giữ lại để thanh toán nợ;
- Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán
trong quá khứ nhưng phần còn lại không thể được đền bù, những
khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nợ nhưng giá
trị còn lại không đủ để trang trải toàn bộ nợ;
- Những khoản nợ mà người mắc nợ kết thúc hoạt động kinh
doanh hoặc thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản
còn lại không đủ để trang trải toàn bộ nợ;
- Những khoản nợ mà người mắc nợ kết thúc hoạt động kinh
doanh hoặc thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản
còn lại không đủ để trả nợ.
b. Nợ có thể thanh toán đầy đủ cho ngân hàng
8
Những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa
ra để thế chấp nhưng không đủ.
c. Nợ có thể không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng
Đó là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài
sản đưa ra để thế chấp nhưng không đủ để trả nợ (ngân hàng không
thể thu hồi đầy đủ món nợ vì người mắc nợ rất khó kiếm được lợi
nhuận đầy đủ món nợ từ công việc kinh doanh) hoặc việc kinh
doanh đang bị thua lỗ trong một vài năm hoặc người mắc nợ không
Có rất nhiều cách định nghĩa về nợ xấu. Có nhiều khái niệm có liên
quan nhưng không đồng nhất, như nợ xấu (bad debt), nợ quá hạn (non performing loans), nợ có vấn đề (doubtful debt). Chúng đều là các khoản nợ
gần như không có khả năng thanh toán và bắt buộc phải xử lý bằng bút toán
xóa nợ. Theo Điều 13, Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách
hàng, ban hành kèm theo Quyết định 1627/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001, "khi
đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi, nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn và
không được điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi hoặc không được gia hạn nợ
gốc hoặc lãi thì tổ chức tín dụng chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn".
Định nghĩa này vẫn tập trung ở sự phân tích về nợ xấu, dưới góc độ thời gian
mà chưa chú ý đến bản chất khoản nợ.
Hiện nay nợ xấu được định nghĩa trong Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN
ngày 22 tháng 4 năm 2005 (sau đây gọi tắt là Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN)
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy định về phân loại nợ, trích
lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
của các tổ chức tín dụng và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 04
năm 2007, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ,
trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân
hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN.
Theo đó, nợ xấu (bad debt) hay còn gọi là nợ không hoạt động (non performing loans) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4 và 5 quy định tại Điểm 3,
khoản 1, Điều 1 Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 04 năm 2007,
về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập
10
và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của
tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN và Điều 7
của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín
dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng được ban hành theo
Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, nợ xấu được phân loại theo phương pháp "định
chức và nhân sự để đáp ứng các yêu cầu thực tế. Ngân hàng Nhà nước sẽ có
những thông tin chính xác hơn về nợ xấu, chất lượng hoạt động tín dụng của
từng tổ chức tín dụng và toàn hệ thống tổ chức tín dụng, đồng thời ngân hàng
Nhà nước có thể chủ động và có tầm nhìn bao quát hơn trong đánh giá khả
năng quản lý, kiểm soát nội bộ và khả năng chịu đựng rủi ro của các chủ thể
này. Không những thế, Ngân hàng Nhà nước cũng có khả năng quản lý, thanh
tra, giám sát các tổ chức tín dụng tốt hơn. Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN
ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý
rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng còn là một công cụ hỗ trợ thực hiện
đánh giá tổ chức tín dụng theo CAMELS. Sau hai năm ban hành Quy định về
việc phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng (Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN), vừa qua ngân hàng Nhà nước
đã sửa đổi, bổ sung một số điều trong văn bản pháp luật này bằng Quyết định
18/2007/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 04 năm 2007, về việc sửa đổi, bổ sung một
số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi
ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết
định số 493/2005/QĐ-NHNN. Cụ thể, rõ ràng và phù hợp với điều kiện thực tế
của các tổ chức tín dụng là những tiêu chí mà Ngân hàng Nhà nước hướng đến
khi soạn thảo và ban hành. Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 04
năm 2007, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ,
trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân
hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN
đã quản lý rủi ro chặt chẽ hơn đối với các cam kết ngoại bảng.
Theo Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 04 năm 2007, về
việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử
dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức
tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN , các khoản bảo
13
thống ngân hàng thương mại cổ phần và hợp tác xã tín dụng ở nước ta, gây
14
nên sự bất bình, thiếu tin tưởng vào hệ thống ngân hàng trong suốt thập kỷ 90.
Nhờ có sự xử lý mạnh mẽ, hệ thống ngân hàng và nền kinh tế bắt đầu có
những sự phát triển mới, tuy vậy tỷ lệ nợ xấu vẫn rất cao.
Tình hình nợ xấu của hệ thống ngân hàng /Tổng dư nợ (Phụ lục 1):
Trong năm 1995, để xử lý các khoản nợ của các doanh nghiệp
mà xét thấy không thể thu hồi được, Chính phủ đã phải tính đến
giải pháp khoanh nợ và xóa nợ. Tổng số nợ quá hạn của các doanh
nghiệp tại các ngân hàng thương mại nhà nước được Chính phủ
khoanh lại từ năm 1995 trở về trước để xử lý trong đợt tổng thanh
toán nợ giai đoạn 2 là 2233, 2 tỷ đồng. Cơ cấu như sau: Nợ xấu lên
lưới thanh toán tại Ngân hàng Ngoại thương là 1606 tỷ đồng, bằng
18,2% so với tổng vốn huy động, bao gồm: 570 tỷ đồng đủ điều kiện
được xóa, chiếm 35,5 % tổng số nợ lên lưới thanh toán; nợ xấu tại
Ngân hàng Công thương là 472 tỷ đồng, bằng 3,6 % tổng số vốn
huy động, bao gồm: 421 tỷ đồng đủ điều kiện được xóa, chiếm
89,2% tổng số nợ lên lưới thanh toán; nợ xấu tại Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển là 117 tỷ đồng, bằng 7,1% vốn huy động, bao gồm:
87,5 tỷ đồng đủ điều kiện được xóa, chiếm 74,7% tổng số nợ lên
lưới thanh toán; Nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn là 38,2 tỷ đồng, bằng 0,2% tổng số vốn huy động, bao
gồm: 38,2 tỷ đồng đu điều kiện được xóa, chiếm 100% tổng số nợ
lên lưới thanh toán [33].
Dù có nhiều biện pháp xử lý nhưng nợ xấu ngân hàng thương mại nhà
nước ở Việt Nam vẫn tăng tốc độ phi mã.
Trong giai đoạn từ năm 1996 - 1998, nếu theo tiêu chuẩn Việt Nam tỷ
3.5
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
4.08
5.3
3.1
1.72
Ngân hàng Đầu tư - Phát triển
3.51
4.63
4.71
4.49
Ngân hàng Ngoại thương
11.16
5.8
3.03
đồng nợ đọng của ngành mía đường, hàng nghìn tỷ đồng thua lỗ của Tổng Công
ty Cà phê, hàng chục nghìn tỷ đồng nợ đọng trong xây dựng cơ bản và khó khăn
của các doanh nghiệp xây lắp, hàng nghìn tỷ đồng nợ tài sản chưa thi hành án
của các vụ án điểm như EPCO - Tăng Minh Phụng, thời điểm Tòa án tuyên án
số nợ là 6.479.386 triệu đồng, dư nợ năm 2003 là 6.117.624 triệu đồng thì có
thể khẳng định, số nợ xấu sẽ lớn hơn những công bố mà chúng ta đã biết.
Theo bà Susan Adams, đại diện thường trú cao cấp của IMF tại Việt
Nam và ông Klaus Roland, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt
Nam thì nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam khoảng 45-60 nghìn tỷ
đồng, chiếm khoảng 7 - 10 % GDP. Theo đánh giá của những chuyên gia kinh
tế thì tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể lên đến 30%.
Theo số liệu giám sát quý 4/2006, tỉ lệ nợ xấu của các ngân hàng tiếp
tục giảm, chỉ chiếm 2,48% tổng dư nợ, giảm 3,88% so với quý 3. Như vậy,
tính từ đầu năm 2006 đến giữa năm này, tỉ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân
hàng thương mại liên tục giảm. Tuy nhiên, không đi cùng với xu hướng của tỉ
lệ nợ xấu, tỉ lệ nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại lại tăng lên. Tính
đến hết quý 3/2006, chỉ tiêu này là 10,3% trong khi đó, đến hết quý 4/2006,
chỉ tiêu này là 11,26%, tăng 9,32%. Như vậy, việc tỉ lệ nợ xấu giảm nhưng tỉ
lệ nợ quá hạn vẫn tăng lên là một dấu hiệu xấu của tăng trưởng dư nợ. Ngày
31/12/2006, khi BIDV công bố tỷ lệ nợ xấu ở mức 9,1%, gấp khoảng 3 lần so
với các ngân hàng thương mại nhà nước khác, không chỉ là điều đáng nghi
ngờ mà còn thực sự gây sốc cho không ít người. Vì BIDV phân loại nợ theo
17
Điều 7của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, nghĩa là gần với chuẩn mực
quốc tế hơn. Một chuyên viên Ngân hàng Nhà nước tiết lộ: Từ trước tới nay,
việc các ngân hàng thương mại nhà nước gia hạn nợ cho các khoản nợ quá
hạn đã là chuyện bình thường. Khi qui chế mới về cách tính nợ xấu được ban
Một nguyên nhân khách quan khác gây ra nợ xấu ngân hàng còn đến
từ chính sách vĩ mô. Chính sách có nhiều thay đổi gây ra cho người đi vay
những gánh nặng nợ nần không đáng có. Thực tế, khối doanh nghiệp nhà
nước ta gặp rất nhiều khó khăn như: mất thị trường tiêu thụ sản phẩm, biến
động giá cả, thị trường, do sắp xếp lại doanh nghiệp, sáp nhập, giải thể, phá
sản nhưng không có khả năng trả nợ hoặc không còn đối tượng để thu hồi nợ.
Rủi ro, mất mát do những nguyên nhân này gây ra cũng nằm ngoài ý chí và cố
gắng của những người đi vay.
Chính sách và cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước đang trong quá
trình đổi mới và hoàn thiện nên thường có sự điều chỉnh, thay đổi, nhiều
doanh nghiệp không theo kịp nên dự báo nhu cầu thị trường không sát, ví dụ
trường hợp cho vay xi-măng, mía đường, gạch gốm sứ… Sự thay đổi thường
xuyên của chính sách làm cho doanh nghiệp có vay vốn ngân hàng bị đảo lộn
kế hoạch kinh doanh cũng như kế hoạch trả nợ ngân hàng. Ví dụ: Chính phủ
đột ngột tăng thuế suất thuế xuất nhập khẩu ở một số mặt hàng mà trước đó
ngân hàng đã mở L/C bảo lãnh nhập khẩu hoặc cho vay. Một số trường hợp
thay đổi chính sách điều hành đã trực tiếp tạo ra các khoản nợ xấu cho ngân
hàng thương mại nhà nước như chương trình di dân, đóng cửa rừng, ngừng
xuất khẩu gỗ, gạo, thay đổi cơ chế sử dụng đất đai … hay tăng giá một số mặt
hàng độc quyền như giá xăng…. Lãi suất cho vay của ngân hàng giảm và ở
mức thấp (thấp hơn so với vay ngoài hay vay Quỹ tín dụng nhân dân) nên
người vay có tâm lý là thà để nợ quá hạn dù lãi suất phạt nợ quá hạn 150%
vẫn cứ lợi hơn. Hơn thế, khi trả nợ rồi thì khó có thể vay tiếp được do không
đủ các điều kiện mới theo quy định về thủ tục vay vốn ngân hàng. Rõ ràng,
trong thời gian chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, chính sách của chúng ta đang điều
tiết và thay đổi nhanh chóng. Điều này dẫn đến rủi ro lớn cho cả hai phía:
ngân hàng và khách hàng, và do những rủi ro này ngoài tầm kiểm soát nên
cuối cùng ngân hàng cho vay phải gánh chịu tổn thất nặng nề.
ty của một số ngân hàng thương mại nhà nước đã là hồi chuông báo động đỏ
về chất lượng tín dụng, điển hình là các tổng công ty thuộc ngành xây dựng
20
và giao thông vận tải, với con số công nợ lên tới 11.000 tỷ đồng, trong đó
theo báo cáo của Bộ Tài chính có tới hơn 90% khoản nợ này là thuộc vốn vay
ngân hàng thương mại nhà nước. Trong khi đó, khu vực dân doanh đã có bước
phát triển vững mạnh không ngừng, làm ăn thực sự có lãi nhưng gặp rất nhiều
khó khăn khi tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Sự phân biệt đối
xử trong cho vay tuy đã có giảm song nỗi bức xúc của doanh nghiệp ngoài
quốc doanh vẫn còn. Khi cho vay, các ngân hàng đã phân biệt người vay có
tài sản hay không có tài sản và mặc nhiên bỏ qua các yếu tố khác như uy tín,
hiệu quả sử dụng vốn, với thói quen ưu đãi doanh nghiệp nhà nước và nghi
ngại doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Việc phân biệt dẫn đến sự nhầm lẫn
trong việc lựa chọn khách hàng để cho vay và hậu quả của nó là sự dây dưa,
chây ỳ, không có khả năng trả nợ. Hệ quả là, các doanh nghiệp muốn vay thì
phải thiếu trung thực, các ngân hàng sẽ bị suy giảm khả năng kiểm soát tình
trạng sử dụng vốn vay của khách hàng. Tuy vậy chính sự yếu kém của khối
doanh nghiệp nhà nước mới là hiểm họa. Theo cảnh báo của IMF, số nợ của
các ngân hàng thương mại nhà nước có thể sẽ lại trên 4% GDP. Rủi ro tín
dụng rất dễ xảy ra.
Hai là, các ngân hàng thương mại nhà nước chưa có sự quản trị rõ
ràng về danh mục cho vay. Một số ngân hàng thương mại nhà nước chưa có
Ủy ban quản lý tài sản nợ (tài sản Nợ - tài sản Có), trong danh mục cho vay hiện
nay đều hiện diện hầu hết các nhóm hàng và dịch vụ. Cạnh tranh giành thị phần
ở các ngành, các nhóm khách hàng mà chính ngân hàng mình không có sở
trường đã mang đến rủi ro bất thường ở một số ngân hàng thương mại. Trong
chính sách cho vay còn có điểm chưa rõ ràng là quy định về nhóm khách hàng