I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
CAO TH THY
PHáP LUậT Về Xử Lý Nợ XấU
CủA NGÂN HàNG THƯƠNG MạI Từ THựC TIễN TạI
NGÂN HàNG Cổ PHầN NGOạI THƯƠNG VIệT NAM (VIETCOMBANK)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
CAO TH THY
PHáP LUậT Về Xử Lý Nợ XấU
CủA NGÂN HàNG THƯƠNG MạI Từ THựC TIễN TạI
NGÂN HàNG Cổ PHầN NGOạI THƯƠNG VIệT NAM (VIETCOMBANK)
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN TRNG IP
H NI - 2015
1.2.
Một số vấn đề lý luận về pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân
hàng thƣơng mại ............................................................................. 22
1.3.
Kinh nghiệm quốc tế trong việc xử lý nợ xấu .............................. 39
1.3.1.
Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Malaysia .......................................... 40
1.3.2.
Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Hàn Quốc ........................................ 42
1.3.3.
Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Thái Lan .......................................... 43
1.3.4.
Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam ........................................ 45
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM
(VIETCOMBANK) ......................................................................... 47
2.1.
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT
VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG
MẠI Ở VIỆT NAM ......................................................................... 74
3.1.
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu
tại các ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam ................................... 74
3.1.1.
Một số định hướng trong việc giải quyết nợ xấu tại các ngân
hàng thương mại ở Việt Nam............................................................ 74
3.1.2.
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu tại
các ngân hàng thương mại ở Việt Nam ............................................ 75
3.2.
Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng giải quyết nợ
xấu tại ngân hàng Vietcombank .................................................... 84
KẾT LUẬN .................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 91
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 95
Vietcombank:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại
thương Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Bảng phân tích chất lượng dư nợ tín dụng từ năm
Bảng 2.2:
2009 – 2014
59
Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu từ năm 2009 - 2014
59
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi đổi mới chuyển sang mô hình hai cấp, hệ thống ngân hàng Việt
pháp xử lý nợ và các văn bản hướng dẫn thi hành còn thiếu, chưa hợp lý và
các văn bản chuyên ngành còn khá cứng nhắc, không phù hợp với thực tiễn.
Ngân hàng Vietcombank là ngân hàng hàng đầu Việt Nam với vai trò
tiên phong trong việc thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất, góp phần ổn định thị
trường tiền tệ, kinh tế vĩ mô. Ngân hàng Vietcombank cũng là ngân hàng có
hoạt động kinh doanh tương đối ổn định, có lợi thế về vốn, thế mạnh về hoạt
động dịch vụ và kinh doanh thẻ. Bên cạnh đó Vietcombank có quan điểm thận
trọng trong việc phân loại nợ xấu và khá quyết liệt trong công tác xử lý nợ xấu.
Theo đánh giá của nhiều tổ chức tài chính, ngân hàng Vietcombank đang giữ
một vị thế rất tốt trên thị trường bởi những kết quả tăng trưởng cao, vững vàng
trong khi tình trạng nợ xấu khá thấp lại được xử lý rất thận trọng và hiệu quả.
Chính vì vậy, để có đủ cơ sở cho việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam thì việc
nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp luật về xử lý nợ xấu là hết sức cần thiết.
Đặc biệt, nghiên cứu thực tiễn xử lý nợ xấu tại một ngân hàng lớn, có bề dày
lịch sử như Vietcombank là rất có ý nghĩa, nhằm đưa ra các giải pháp nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý nợ xấu tại ngân hàng này.
2. Tình hình nghiên cứu
Xử lý nợ xấu ngân hàng là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học.
Mỗi nhà khoa học có một cách khai thác đề tài ở những góc độ khác nhau. Ví
dụ: Luận văn Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoài Phương (2013) “Quản lý nợ xấu tại
ngân hàng thương mại Việt Nam” – Đại học kinh tế Quốc dân; Luận văn thạc
sĩ Tài chính và ngân hàng Đặng Thị Thanh Nga (2014) “Nợ xấu tại Ngân
hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam” – Đại học Kinh tế -
2
ĐHQGHN; một số bài viết trên báo, tạp chí như: “Những điểm nghẽn cần
giải quyết để xử lý nợ xấu một cách triệt để và có hiệu quả” - Theo Tạp chí
nợ chưa mang lại kết quả tốt đẹp theo như mong muốn của các bên có liên
quan. Ở góc độ luật pháp, hiện nay có rất ít công trình khoa học nghiên cứu
cụ thể vấn đề nợ xấu của một ngân hàng thương mại cụ thể nào dù đây là vấn
đề gây bức xúc, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh toàn diện và cụ thể của các nhà
làm luật. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng
thương mại từ thực tiễn Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương
Việt Nam (Vietcombank)” làm luận văn thạc sĩ với mong muốn góp phần làm
sáng tỏ các vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về xử lý nợ
xấu của ngân hàng thương mại (ngân hàng Vietcombank), từ đó đề xuất một
vài ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trên cơ sở tiếp thu, học hỏi
kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong lĩnh vực này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng các luận cứ lý luận và
thực tiễn cho các giải pháp nhằm nâng cao khả năng xử lý nợ xấu của ngân
hàng thương mại có vốn của nhà nước nói chung, ngân hàng Vietcombank nói
riêng trong tiến trình hội nhập và phát triển của các định chế ngân hàng với
các tiêu chuẩn quốc tế.
Với mục đích trên, đề tài đặt các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận khái niệm nợ xấu, phân loại nợ xấu.
- Phân tích, đánh giá một cách khoa học và đầy đủ về nguyên nhân,
biện pháp xử lý nợ xấu và nguyên tắc xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương
mại trong những năm qua.
- Phân tích trực trạng xử lý nợ xấu tại ngân hàng Vietcombank từ đó
đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý nợ xấu, cũng như xác định nhu cầu
thực tiễn phải hoàn thiện xử lý nợ xấu đối với các ngân hàng thương mại.
- Kinh nghiệm quốc tế trong việc giải quyết nợ xấu của ngân hàng
thương mại.
4
Vietcombank nói riêng. Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo
trong công tác xây dựng, nghiên cứu và áp dụng pháp luật nhất là trong bối
cảnh chúng ta tiến hành cổ phần hóa các ngân hàng thương mại lớn và quá
trình cải cách ngân hàng theo cam kết khi gia nhập WTO.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các qui định hiện hành của pháp
luật điều chỉnh hoạt động xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt
Nam, các qui chế và thực tiễn về xử lý nợ xấu của Vietcombank.
Trong luận văn này, chúng tôi không đi sâu tìm hiểu tất cả các vấn đề
về xử lý nợ xấu mà chỉ tập trung nghiên cứu khía cạnh pháp lý, cơ sở lý luận,
thực tiễn và nội dung pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở
Việt Nam, và đi sâu tìm hiểu hoạt động xử lý nợ xấu của ngân hàng
Vietcombank, đồng thời tham khảo các qui định xử lý nợ xấu của một số quốc
gia trên thế giới. Trên cơ sở phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra những
khuyến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý nợ xấu của
ngân hàng thương mại nói chung và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu
của ngân hàng Vietcombank nói riêng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên những chủ trương, đường lối của
Đảng, Nhà nước. Những chủ trương đó được thể hiện nhất quán trong các văn
kiện của Đại hội Đảng, đặc biệt là Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung
ương. Luận văn vận dụng rất nhiều phương pháp khác nhau trong quá trình
nghiên cứu, chủ yếu là sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử. Ngoài ra, để hoàn thành luận văn, người viết còn sử dụng phối hợp
nhiều phương pháp khác, để luận văn có tính lý luận và thực tiễn cao:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp so sánh, thống kê.
6
trong đi đó các tiêu chuẩn kế toán lại sử dụng thuật ngữ như “non-accrual
loans” (US GAAP) hay “impaired loans” (IAS 39). NHNN Việt Nam sử dụng
thuật ngữ NPLs nhưng dịch thành “nợ xấu” trong Quyết định 493/2005/QĐNHNN ngày 20/4/2005 ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử
dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức
tín dụng. Nghiên cứu dưới góc độ pháp lý nên bài luận văn sẽ sử dụng thuật
ngữ “nợ xấu” với nghĩa của từ “non – performing loans”.
Nợ xấu được hiểu là một khoản nợ khó có thể thu hồi được và/hoặc trở
nên không còn khả năng sinh lời với các chủ nợ khi mà tất cả những nỗ lực để
thu hồi khoản nợ được thực hiện. Nợ xấu thường là sản phẩm của các con nợ
không trả được nợ (đúng hạn hoặc phá sản) hay các chi phí bỏ ra cho việc thu
hồi nợ còn nhiều hơn khoản nợ mà chủ nợ có thể thu hồi được. Các khoản nợ
xấu này sẽ được chủ nợ xử lý rủi ro tín dụng (write-off).
8
Quan điểm về nợ xấu khác nhau ở mỗi quốc gia và khác nhau dưới góc
nhìn của các chủ thể. Có thể nhắc tới một số khái niệm như sau:
+ Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS):
Dù chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về nợ xấu, nhưng trong các hướng dẫn
về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác
định: Khoản nợ được coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai
hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: Ngân hàng thấy người vay không có khả
năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu
hồi nợ; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày [1]. Dựa trên hướng dẫn này,
nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu
hiệu người đi vay không trả được nợ.
+ Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) [18]:
Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như: Những
khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi
vay (trong tổng thể nhiều khoản vay khác) phát sinh quá hạn, hoặc được điều
chỉnh kỳ hạn nợ, hoặc gia hạn nợ thì toàn bộ dư nợ này của khách hàng đó
phải chuyển sang nhóm nợ xấu. Như vậy, nợ xấu theo pháp luật Việt Nam
được xác định theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 91 ngày hoặc (ii) khả năng trả
nợ đáng lo ngại.
Từ những định nghĩa trên cho thấy có sự tương đồng trong cách nhận
thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới. Theo đó, một khoản
nợ được coi là nợ xấu nếu nó xuất hiện một hoặc cả hai dấu hiệu sau: Quá
hạn trả nợ gốc và lãi; khi khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng hoặc ngân
hàng coi là không có khả năng trả nợ. Song cũng cần phân biệt giữa hai khái
niệm nợ xấu và nợ khó đòi. Nợ xấu (NPLs) và nợ khó đòi (Doubtful debt) là
hai khái niệm khác biệt nhau. Nợ xấu là khoản phải thu đặc biệt mà được
xác định rõ ràng là không thể thu hồi được và cần phải xử lý rủi ro, nợ xấu là
nợ khó thu hồi bị xóa khỏi danh sách các khoản nợ phải thu. Trong khi đó
10
nợ khó đòi là một khoản thu mà có thể trở thành nợ xấu ở một thời điểm
trong tương lai khi không còn cách nào để thu hồi lại được khoản nợ. Nợ
khó đòi được ghi dưới dạng chi phí của các ngân hàng và sẽ ảnh hưởng đến
lợi nhuận của ngân hàng.
* Bản chất của nợ xấu
Xét về bản chất, nợ xấu như một khoản cho vay bắt nguồn từ quan hệ
hợp đồng giữa các đối tượng dân sự, mối quan hệ cho vay giữa chủ nợ (ngân
hàng) và con nợ (khách hàng). Các mối quan hệ đi vay – cho vay này dựa
trên các công cụ nợ. Thông thường, hợp đồng cho vay quy định các nghĩa vụ
cơ bản nhất của hai bên: bên cho vay có nghĩa vụ cho vay trong một khoảng
thời gian cụ thể và ngược lại người đi vay có nghĩa vụ trả nợ gốc và trả lãi
đúng thời hạn.
quy định hành chính, các quy tắc, thông báo hoặc hướng dẫn.
* Phân loại nợ xấu và trích lập dự phòng nợ xấu
Phân loại nợ xấu được hiểu là quá trình các ngân hàng xem xét các
danh mục cho vay và đưa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro
và điểm tương đồng của khoản vay [24]. Việc xem xét và phân loại nợ giúp
các ngân hàng có thể kiểm soát chất lượng danh mục cho vay và trong trường
hợp cần thiết, sẽ có các biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong chất lượng
tín dụng các danh mục cho vay.
Hiện nay, vẫn chưa có tiêu chuẩn về phân loại nợ xấu mà được áp dụng
thống nhất trong tất cả các nước trên thế giới. Có chăng là một số thông lệ
được nhiều nước sử dụng và một số hướng dẫn do các tổ chức quốc tế (BIS,
IMF) khuyến cáo. Do vậy, phân loại nợ xấu chủ yếu phụ thuộc vào cơ chế,
khuôn khổ pháp lý của các nước. Hầu hết các định chế tài chính trên thế giới,
phân loại nợ xấu theo 2 tiêu chí sau: Dựa vào tính chất quá hạn của khoản nợ
và dựa vào khả năng trả nợ đáng lo ngại. Ngân hàng thế giới phân loại nợ xấu
thành các loại sau [22]:
12
Nợ đạt tiêu chuẩn: Là có tài sản thế chấp theo nghĩa đầy đủ hoặc
không quá hạn.
Nợ cận chuẩn: Là có tài sản thế chấp đầy đủ nhưng có biểu hiện các
điểm yếu tín dụng. Những điểm yếu tín dụng này bao gồm các yếu tố chậm
trễ đến việc trả nợ có thể hơn 30 ngày nhưng chưa đến 90 ngày. Nguồn vốn
của người vay có biểu hiện không đủ đáp ứng cho các cam kết trả nợ, cần
phải có thêm nguồn vốn vay lưu động.
Nợ có vấn đề: Khoản vay được đánh giá là có vấn đề bao gồm tất cả
các khoản vay cận chuẩn kèm theo các đặc điểm sau: dựa trên thực tiễn, các
điều kiện và giá trị hiện tại sẵn có, việc thu đủ nợ là không chắc chắn và rất
hợp đồng tín dụng. Các khoản nợ được phân loại theo phương pháp định tính
và nợ xấu thuộc nhóm 3, 4, 5 bao gồm các khoản nợ dưới chuẩn (nhóm 3): nợ
được đánh giá không có khả năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn; nợ nghi ngờ
(nhóm 4): nợ được đánh giá có khả năng tổn thất cao; và nợ có khả năng mất
vốn (nhóm 5): nợ được đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
Cho dù phân loại nợ theo phương pháp định lượng hay phương pháp
định tính thì các khoản nợ từ nhóm 3 tới nhóm 5 đều được xếp vào danh mục
nợ xấu của ngân hàng. Về cách xếp loại nhóm nợ cho thấy Việt Nam có sự
thống nhất với nhiều quốc gia trên thế giới (Mỹ, Nhật, Singapore, Hồng
Kong, Trung Quốc). Việc chia làm năm nhóm nợ và giải thích cơ bản từng
nhóm là tương đồng với các nhóm nợ ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Các khoản tín dụng được phân loại theo 5 nhóm nợ, căn cứ từng nhóm
các ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro. Theo Thông tư số 02/2013/TT –
NHNN yêu cầu trích lập 2 loại dự phòng là dự phòng cụ thể và dự phòng
chung. Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn
thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể. Dự phòng chung là số tiền
được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác
định được khi trích lập dự phòng cụ thể. Cụ thể, nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn)
14
trích dự phòng 0%, nhóm 2 (nợ cần chú ý) trích dự phòng 5%, nhóm 3 (nợ
dưới tiêu chuẩn) trích dự phòng 20%, nhóm 4 (nợ nghi ngờ) trích 50%, nhóm
5 (nợ có nguy cơ mất vốn) trích dự phòng 100%. Ngoài ra, ngân hàng còn
phải trích dự phòng rủi ro chung bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ.
Dự phòng rủi ro là một nguồn quan trọng để các ngân hàng sử dụng để
xử lý nợ. Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là phương pháp các ngân hàng sử
dụng để ghi nhận tổn thất so với giá trị ghi nhận ban đầu của khoản vay [3].
Và mức trích lập dự phòng càng lớn thì lợi nhuận ngân hàng càng giảm và
ngược lại. Thông thường thì tỷ lệ nợ xấu tốt nhất ở mức dưới 3%. Tuy nhiên,
tỷ lệ này đôi khi cũng chưa phản ánh hết chất lượng tín dụng của một ngân
hàng. Bởi vì bên cạnh những ngân hàng có được tỷ lệ nợ xấu hợp lý do đã
thực hiện tốt các khâu trong quy trình tín dụng, còn có những ngân hàng có
được tỷ lệ nợ xấu thấp thông qua việc cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá
hạn theo đúng quy định...
* Nguyên nhân của nợ xấu
Phân tích nguyên nhân nợ xấu là một trong những điều quan trọng cần
phải làm để từ đó đưa ra được chiến lược cũng như phương pháp quản lý, xử
lý có khả thi và hiệu quả tình trạng nợ xấu của các ngân hàng thương mại.
- Nhóm nguyên nhân từ môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng và
cơ chế xử lý nợ xấu: Có thể nói rằng lĩnh vực hoạt động ngân hàng luôn tiềm
ẩn rủi ro cao và để giúp giảm thiểu rủi ro thì luôn đòi hỏi sự hậu thuẫn của hệ
thống pháp luật. Nếu hệ thống pháp luật đồng bộ và hoàn thiện sẽ tạo tiền đề
cho sự hoạt động an toàn lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Còn ngược lại,
nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, thiếu tính khả thi thì luôn tiềm ẩn rủi
ro rất cao đối với hệ thống ngân hàng. Chính vì vai trò quan trọng của môi
trường pháp lý, nên tất cả các nước đều rất chú trọng, đồng bộ hóa và hoàn
thiện các văn bản pháp luật trong hoạt động ngân hàng.
Đối với Việt Nam, mặc dù trong những năm qua chúng ra đã rất chú ý
16
xây dựng và từng bước hoàn thiện các văn bản pháp lý về hoạt động ngân
hàng, nhưng nhìn tổng thể có thể thấy hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng
bộ, chưa hoàn thiện và tính khả thi chưa cao. Pháp luật hiện hành đã có khung
pháp lý cơ bản trong việc hạn chế cũng như giải quyết nợ xấu của các tổ chức
tín dụng như: quy định về phân loại nợ, quy định về trích lập dự phòng rủi ro,
quy định về xử lý tài sản bảo đảm nợ, quy định về hoạt động mua bán nợ…
dụng quá nóng [6]. Một số ngân hàng nhỏ, năng lực quản trị tín dụng yếu kém
đã tìm mọi cách tăng vốn huy động, thúc đẩy tín dụng bằng cách nới lỏng tiêu
chuẩn cho vay, cho vay dễ dãi, thiếu các điều kiện đảm bảo cần thiết... Thực
tế, luôn có sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại để dành dật thị phần,
đặc biệt là ở các ngân hàng thương mại nhỏ, mới được thành lập. Các ngân
hàng này có xu hướng mở rộng thị phần tín dụng bằng mọi giá, bỏ qua quy
trình tín dụng, hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng, tìm cách lần tránh hàng rào kiểm
soát của Chính phủ.
+ Năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại, tổ chức tín
dụng yếu kém: Hiện nay, việc xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng của tổ
chức tín dụng mang tính chất chủ quan. Các ngân hàng chưa xây dựng được
thước đo lượng hóa rủi ro nên chưa tính toán chính xác được yếu tố này dẫn
đến quyết định cho vay, phân loại nợ chưa chính xác. Những khoản rủi ro to
được làm bé đi, khoản vay bé thì làm cho nó to lên.
Theo kết quả khảo sát năm 2013 của Trung tâm nghiên cứu kinh tế và
chính sách – Đại học Quốc gia Hà Nội thì mới chỉ có 47% các ngân hàng
thương mại tiếp cận với Basel 2 và chỉ có 40% các ngân hàng thương mại đã
tiếp cận với Basel 3 [7]. Khuôn khổ quản trị hiện hành này chưa bảo vệ được
quyền cổ đông đối với tất cả các cổ đông. Vai trò và nhiệm vụ của hội đồng
quản trị chỉ tuân theo một phần hoặc chưa tuân thủ các nguyên tắc quản trị của
OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) [8] và Basel. Khả năng quản trị
rủi ro còn yếu dẫn đến đánh giả khả năng xảy ra rủi ro tín dụng thấp hơn so với
thực tế cũng như khả năng ngăn ngừa rủi ro thị trường và tác nghiệp yếu.
18