THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM (VAMC) - Pdf 42

1


MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với việc hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam
chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng với sự ra đời một số
lượng lớn các ngân hàng thương mại với tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh chóng.
Tuy nhiên, chính việc tăng trưởng nhanh chóng thường đi đôi với tăng trưởng thiếu
bền vững, tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro về việc nợ xấu tăng cao khiến các
ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản.
Nợ xấu khi chưa ở mức nghiêm trọng, đe dọa đến sự an nguy của hệ thống
thì đó là vấn đề nội bộ của mỗi ngân hàng và thường được xử lý bằng các biện pháp
truyền thống như phân loại, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro. Nhưng khi nợ xấu ở
mức cao, có nguy cơ đe dọa hệ thống thì Chính phủ các nước phải đóng vai trò chủ
đạo trong việc tổ chức, triển khai quá trình xử lý. Một trong các biện pháp xử lý
hiệu quả là thành lập nên các tổ chức chuyên nghiệp có chức năng xử lý nợ xấu – đó
là Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng.
Tại Việt Nam, dù mới hoạt động gần 4 năm, nhưng Công ty quản lý tài sản
của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã có vai trò quan trọng trong công
cuộc xử lý nợ xấu, đặc biệt trong nỗ lực đưa nợ xấu của ngành ngân hàng xuống
dưới 3% giai đoạn vừa qua. Làm thế nào VAMC có thể thực hiện mục tiêu đó? Quy
định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động xử lý nợ xấu có tác động như thế nào
đối với hoạt động (tích cực hoặc tiêu cực) của VAMC? Cũng như những giải pháp
nào cần thiết nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý trong hoạt động của VAMC.
Đó là nội dung chính của bài tiểu luận của chúng tôi.

2


CHƯƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ
NỢ XẤU

nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, Ủy ban Basel xác định việc khoản nợ
1 Đinh Thị Thanh Vân ( 2012), So sánh nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Việt
nam và thông lệ quốc tế, Tạp chí ngân hàng (số 19), tr.5

3


không có khả năng thu hồi nợ khi một trong hai khả năng sau xảy ra: (i) ngân hàng
thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa có hành động
gì để cố gắng thu hồi; (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Như vậy, nợ xấu
được các định trên hai yếu tố: quá hạn 90 ngày và khả năng không trả được nợ của
người vay2.
Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): tương tự như quan điểm của
Ủy ban Basel, trong hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc
gia, Quỹ tiền tệ quốc tế đưa ra khái niệm về nợ xấu như sau: “Một khoản cho vay
được coi là nợ xấu khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày
trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu
hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có các
nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”3.
Như vậy, các quan điểm về nợ xấu của các tổ chức khác nhau có sự khác biệt
về tiêu chí, tuy nhiên về cơ bản có một điểm chung, nợ xấu trên thế giới được xác
định dựa trên những yếu tố cơ bản sau: (i) thời gian quá hạn trả nợ; hoặc (ii) dựa
trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng (khả năng trả nợ của khách hàng); (iii) hoặc
cả hai yếu tố trên.
1.1.2

Quan điểm về nợ xấu của Việt Nam

Tiếp thu các quan điểm về nợ xấu trên thế giới, Việt Nam đã đưa ra một định
nghĩa về nợ xấu như sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3

năng và điều kiện tiến hành phân loại nợ theo Điều 6 hay Điều 7 của Quyết định
493/2005/QĐ-NHNN của các TCTD. Trên thực tế ở Việt Nam các TCTD chủ yếu
phân loại dựa trên Điều 6 (yếu tố định lượng) trong khi thông lệ quốc tế đã áp dụng
yếu tố định tính. Hơn nữa, việc áp dụng yếu tố định lượng ở Việt Nam chưa thực sự
chuẩn xác, thời hạn trả nợ nhiều khi được biến tướng dưới nhiều hình thức như cơ
cấu lại nợ, đảo nợ, mức độ chủ quan trong đánh giá là cao, khiến rủi ro đạo đức tăng
cao4.
Đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và đảm bảo tiến gần với thông lệ quốc tế,
ngày 27/5/2013, NHNN đã ban hành Thông tư 02/2013/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung
Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN (Thông tư 02), Thông tư này được đánh giá sẽ
4 Phạm Thị Bích Thủy (2016), Pháp luật về xử lý nợ xấu của các TCTD từ thực tiễn Công ty quản lý tài sản
của các TCTD Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, tr. 12

5


khiến các TCTD công bố tỷ lệ nợ xấu cao hơn trước đây, làm căn cứ cho việc trích
lập dự phòng rủi ro tín dụng nhiều hơn. Thông tư 02 có một số tiêu chí khắt khe hơn
trong việc phân loại nợ:
Thứ nhất, các khoản nợ gia hạn lần đầu sẽ đưa vào nhóm 3 thuộc nhóm nợ
xấu thay vì nếu gia hạn nợ trong thời hạn trả nợ sẽ được đưa vào nhóm 2 như trước.
Thứ hai, nợ được miễn giảm lãi do khách hàng không có khả năng trả lãi
theo hợp đồng tín dụng cũng được đưa vào nợ xấu.
Thứ ba, hoạt động cấp tín dụng cho những đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng
hoặc cấp tín dụng có điều kiện như (kiểm toán viên, kế toán trưởng, cổ đông lớn, cổ
đông sáng lập, v.v.). Việc cấp tín dụng với đối tượng này được đưa vào nhóm 3 “ nợ
dưới tiêu chuẩn” trong nhóm chỉ tiêu nợ xấu.
Thứ tư, hoạt động cho vay, cầm cố cổ phiếu của các TCTD hoặc các công ty
con của TCTD này để góp vốn vào TCTD khác trong hệ thống các ngân hàng
thương mại cũng là khoản vay được liệt kê vào nhóm nợ xấu.

Nợ xấu tiềm ẩn kể từ khi TCTD bắt đầu cấp tín dụng cho khách hàng. Do đó,

để phòng tránh nợ xấu, pháp luật cần điều chỉnh kể từ giai đoạn nợ xấu chưa phát
sinh đến giai đoạn xử lý nợ xấu, cụ thể:
1.2.1

Nhóm quy định mang tính phòng ngừa, ngăn chặn bao gồm:

Các quy định về phân loại nợ, phân loại tài sản có, phương pháp trích lập
dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý rủi ro trong hoạt động tín
dụng. Theo đó, TCTD phải thực hiện phân loại nợ vào các nhóm nợ theo các tiêu
chí nhất định và phải trích lập dự phòng rủi ro. Tỷ lệ trích lập dự phòng sẽ theo mức
độ của từng nhóm nợ. Khi nợ xấu không thể thu hồi được thì TCTD phải sử dụng
chính nguồn trích lập này để xử lý. Xử lý nợ xấu bằng trích lập dự phòng là một
phương pháp truyền thống và là một sự đảm bảo chắc chắn nhất từ phía các TCTD
trong việc xử lý nợ xấu.
Các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng nhằm kiểm soát, hạn chế rủi
ro cho các TCTD. Theo đó, các TCTD phải duy trì các tỷ lệ an toàn trong suốt quá
trình hoạt động của mình. Đồng thời, để nâng cao chất lượng quản trị nội bộ của
TCTD, TCTD phải ban hành các loại quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền
vay để bảo đảm việc sử dụng vốn vay đúng mục đích; về đánh giá chất lượng tài sản
có và tuân thủ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; về quản lý thanh khoản như phân cấp, ủy
5 Đinh Thị Thanh Vân ( 2012), So sánh nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Việt
nam và thông lệ quốc tế, Tạp chí ngân hàng (số 19), tr.7

7


quyền, chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận liên quan trong việc quản lý tài sản
Có, tài sản Nợ, v.v. Khi các tiêu chuẩn an toàn này được các TCTD tuân thủ, nguy


8


Nhóm các quy định về mua bán nợ của TCTD điều chỉnh hoạt động mua bán
các khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo
lãnh theo hợp đồng cấp tín dụng. Đây là hình thức xử lý nợ xấu hiệu quả nhất, giúp
các TCTD làm sạch bảng cân đối tài chính, có thêm nguồn vốn tiếp tục hoạt động
sản xuất kinh doanh. Hoạt động mua bán nợ giúp luân chuyển vốn từ chủ thể này
sang chủ thể khác, tạo một thị trường với sự tham gia của nhiều chủ thể, huy động
sức mạnh tài chính trong xã hội, điều này góp phần xử lý nhanh và hiệu quả nợ xấu.
Nhóm các quy định về xử lý tài sản bảo đảm, quy định cụ thể về trình tự, thủ
tục, quyền và nghĩa vụ các bên trong việc xử lý tài sản bảo đảm. Xử lý tài sản bảo
đảm gần như là sự lựa chọn cuối cùng khi mà TCTD không có khả năng thu hồi nợ
và khách hàng vay đã không còn khả năng trả nợ sau khi đã được cơ cấu lại hoặc
được sử dụng các biện pháp hỗ trợ khác.
Nhóm các quy định về khởi kiện, thi hành án, áp dụng khi khách hàng vay cố
tình không trả nợ, không thực hiện những biện pháp bảo đảm.
Như vậy, về mặt lý luận chung các quy định về xử lý nợ xấu ở Việt Nam thực
chất mới chỉ dừng lại ở khâu xử lý các khoản nợ xấu, theo đó khởi kiện là bước cuối
cùng.
1.2.3

Xử lý nợ xấu qua công ty quản lý tài sản của các TCTD

Việc xử lý nợ xấu tại Việt Nam trước hết là nhiệm vụ của mỗi TCTD, nhưng
sau đó cần có một thiết chế đứng ra với vai trò trung gian. Đặc biệt, trong hoạt động
mua bán nợ, cần phải có những thiết chế chuyên nghiệp để làm cầu nối trong thị
trường mua bán nợ.
Tại Việt Nam, mua bán nợ vẫn là một thị trường mới mẻ và đang từng bước

HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC
TÍN DỤNG VIỆT NAM (VAMC)
2.1

Tình hình nợ xấu tại Việt Nam trước thời điểm thành lập VAMC
Nợ xấu tại các NHTM Việt Nam không phải mới phát sinh trong những năm gần

đây, mà thực chất đã tích tụ từ nhiều năm trước. Khi tình hình kinh tế vĩ mô xấu đi, hoạt
động sản xuất kinh doanh trì trệ, thì cũng là lúc nợ xấu nảy nở như nấm sau mưa. Dựa
vào số liệu tổng hợp, thì nợ xấu có xu hướng gia tăng từ năm 2007 và được quan tâm đặc
biệt từ cuối năm 2011.
Năm 2010, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM chưa tính nợ của Vinashin thì chỉ
2,52%, tương đương khoảng 58.000 tỉ đồng. Con số khá nhỏ và trong tầm kiểm soát, mặc
dù gia tăng khá nhiều so với năm 2009 là 2,05%. Trong thời gian này, nợ xấu vẫn chưa
được đánh giá là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng gây ra bất ổn tài chính quốc gia. Các
NHTM phải tự xử lý nợ xấu thông qua trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định
hoặc phát mãi tài sản bảo đảm hoặc tái cơ cấu lại nợ vay.
Năm 2011, nợ xấu bắt đầu gia tăng về giá trị lên 85.000 tỉ đồng, chiếm 3,3% tổng
dư nợ. Đồng thời, các NHTM bắt đầu gặp khá nhiều trục trặc về thanh khoản và kết quả
hoạt động kinh doanh chững lại. Đây là hậu quả tất yếu của: (i) chính sách tiền tệ chặt
chẽ, thận trọng và có phần thắt chặt; (ii) nợ xấu tích tụ từ nhiều năm trước được bùng
phát; (iii) và tình trạng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trở nên phổ biến. Điều này ảnh
hưởng rất lớn tới hệ thống ngân hàng thương mại ở 3 phương diện: Một là, gia tăng quỹ
dự phòng rủi ro tín dụng; hai là, giảm tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu; ba là, rủi ro thanh
khoản, kỳ hạn, rủi ro đổ vỡ hệ thống ngân hàng. Và các giải pháp được sử dụng để xử lý
nợ xấu năm 2011 phân tán ở từng ngân hàng thông qua siết chặt thẩm định khách hàng
vay vốn; hay đảo nợ, giãn/ hoãn/ giảm nợ; và tuân thủ quy định, điều kiện cho vay với
doanh nghiệp nhà nước.
Năm 2012, kết quả tất yếu là bùng nổ tỷ lệ nợ xấu, đồng thời xuất hiện “hỏa mù”
về số liệu nợ xấu. Trong giai đoạn, 2008 – 2011, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân là



hệ thống ngân hàng và ổn định tài chính quốc gia. Nợ xấu đã ngày càng xấu lẫn vượt tầm
kiểm soát của từng ngân hàng6.
Theo kinh nghiệm của thế giới, khi nợ xấu quá 5%, sự an toàn của hệ thống đã bị
đe dọa, việc xử lý nợ xấu bằng phương pháp truyền thống thông qua trích lập dự phòng
và dùng dự phòng rủi ro để xử lý của các TCTD không thể đáp ứng.
2.2

Sự cần thiết thành lập công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam
Trước tình hình nợ xấu ngày càng gia tăng, cần phải có một tổ chức độc lập,

chuyên nghiệp với quy mô hoạt động lớn, có khả năng tiếp nhận và xử lý tập trung các
khoản nợ xấu của các TCTD, tối đa hóa giá trị thu hồi vốn, khơi thông một khối lượng
lớn vốn, tài sản đang bị đọng dưới dạng các khoản nợ xấu của các TCTD.
2.2.1

Mô hình áp dụng tại Việt Nam

Công ty TNHH mua bán nợ Việt Nam (DATC) trực thuộc Bộ Tài Chính
DATC là một doanh nghiệp nhà nước được thành lập ngày 12/12/2003 trên cơ sở
Quyết định số 109/2003/QĐ - TTg ngày 05/06/2003 của Thủ tướng Chính phủ Công ty
chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2004, được công nhận Doanh nghiệp Nhà
nước hạng đặc biệt theo Quyết định số 55/2004/QĐ - TTg ngày 06/04/2004 của Thủ
tướng Chính phủ, trực thuộc sự quản lý của Bộ Tài Chính, với mục tiêu xử lý các khoản
nợ tồn đọng và tài sản không cần dùng, chờ thanh lý, vật tư ứ đọng kém, mất phẩm chất
(gọi tắt là nợ và tài sản tồn đọng), thúc đẩy tái cơ cấu doanh nghiệp, góp phần lành mạnh
hoá tình hình tài chính doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình sắp xếp và chuyển đổi các
DNNN7. Đây là mô hình công ty quản lý tài sản quốc gia của Chính phủ được thiết kế
theo mô hình tập trung.

khiến đơn vị này không hỗ trợ được triệt để các doanh nghiệp tái cơ cấu đang gặp khó
khăn về tài chính, khả năng phục hồi của doanh nghiệp mất nhiều thời gian. Điều lệ của
DATC quy định: Đối với các khoản nợ mà khách nợ là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước
gắn với việc thực hiện sắp xếp, chuyển đổi sở hữu thì mức lãi suất điều chỉnh không được
thấp hơn mức lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước công bố trong từng thời kỳ.
Đối với các khoản nợ của các đối tượng khác, mức lãi suất điều chỉnh không thấp hơn
mức lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước công bố trong từng thời kỳ cộng (+)
1%/năm.
Đối với việc giảm trừ nghĩa vụ trả nợ gắn với phương án chuyển nợ thành vốn góp
thì mức xóa tối đa không quá số âm vốn chủ sở hữu trên báo cáo tài chính của khách nợ.
Các quy định trên đã làm hạn chế, giảm hiệu quả của phương án tái cơ cấu doanh nghiệp
vì nhiều doanh nghiệp thua lỗ, âm vốn chủ sở hữu thì việc xóa nợ bằng số âm vốn chủ sở
hữu không giải quyết được triệt để khó khăn của doanh nghiệp. Dù được xóa nợ nhưng
doanh nghiệp vẫn tiếp tục duy trì số lỗ lũy kế phát sinh trước thời điểm tái cơ cấu và vẫn
8 Theo http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/datc-mau-thuan-ngay-tu-muc-tieu-hoat-dong2730681.html

14


phải chịu mức lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của nhà nước. Mức lãi suất này chỉ thấp
hơn lãi suất thương mại từ 2-3% nên các doanh nghiệp này sẽ gặp rất nhiều khó khăn
trong phục hồi sản xuất kinh doanh, không thể tiếp cận được nguồn vốn tín dụng vì báo
cáo tài chính vẫn phản ánh các chỉ tiêu tài chính yếu kém.
Một vấn đề khác, trong một số trường hợp, để giải quyết dứt điểm khoản nợ tồn
đọng, doanh nghiệp khách nợ mong muốn chủ nợ hỗ trợ giảm một phần nợ. Nếu đạt được
thỏa thuận, khách nợ sẽ bố trí nguồn vốn để trả nợ dứt điểm. Kỹ thuật này gọi là chiết
khấu để khách nợ trả hết nợ và được các Công ty quản lý và khai thác tài sản của các các
tổ chức tín dụng (AMC) trên thế giới sử dụng phổ biến. Theo đó, các bên cùng có lợi
thông qua việc thể hiện thiện chí của mình. Không ít doanh nghiệp lo ngại việc không trả
được nợ sẽ ảnh hưởng đến xếp hạng tín dụng và khó khăn trong việc vay nợ mới, triển


Ngoài ra, năng lực, trình độ chuyên môn về định giá, xử lý, cơ cấu nợ và tài sản
của các công ty này cũng rất hạn chế. Thực chất, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
là đơn vị chuyên môn xử lý nợ của ngân hàng thương mại. Nợ xấu chuyển sang các công
ty này chưa được coi là đã được xử lý. Do đó, về cơ bản các công ty quản lý nợ và khai
thác tài sản không đáp ứng được yêu cầu xử lý nợ xấu.
Mặt khác, thị trường tài chính, thị trường mua bán nợ ở Việt Nam chưa phát triển
để tạo điều kiện giúp cho các công ty quản lý tài sản có thêm phương tiện huy động
nguồn lực và xử lý. Khuôn khổ pháp lý về mua bán nợ chưa hoàn thiện, chưa tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động mua bán nợ phát triển.
16


Từ những nhận định trên đây, có thể thấy rằng, trước 2013, Việt Nam chưa có
công ty quản lý tài sản theo mô hình tập trung theo đúng nghĩa để có khả năng xử lý
nhanh nợ xấu với quy mô lớn. Do đó, cần thiết phải có mô hình xử lý nợ xấu có hiệu quả
và phù hợp hơn với đặc thù của lĩnh vực ngân hàng, đồng thời có đủ năng lực tiếp nhận,
xử lý nợ xấu nhanh và có quy mô lớn.
Mặt khác, kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng
cần có sự hỗ trợ tài chính của Chính phủ. Tuy nhiên, tại thời điểm năm 2013, ngân sách
nhà nước còn nhiều khó khăn (thâm hụt khá lớn và kéo dài, nợ công cao và tăng nhanh)
do đó không có điều kiện hỗ trợ tài chính trực tiếp cho việc xử lý nợ xấu của hệ thống
ngân hàng. Thành lập công ty quản lý tài sản với phương thức hoạt động rủi ro thấp nhất
và cơ chế chia sẻ giá trị thu hồi nợ hợp lý giữa các bên liên quan sẽ hạn chế tác động đến
chi tiêu ngân sách nhà nước nhiều hơn là xử lý trực tiếp qua DATC.
Trước tình hình thực tiễn này, Việt Nam đã cân nhắc đến việc thành lập công ty
quản lý tài sản quốc gia mà theo kinh nghiệm xử lý tại nhiều nước khác nhau, đây là mô
hình cần thiết phải có để xử lý nợ xấu.
2.2.2


TCTC vừa bảo đảm được hiệu quả hoạt động của Công ty. Sau khi mua lại, KAMCO
nhóm các khoản nợ xấu này lại để phát hành các chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản
dựa trên các khoản nợ xấu đã mua hoặc bán cho các nhà đầu tư thông qua đấu giá quốc tế
cạnh tranh. Luật Chứng khoán có bảo đảm bằng tài sản đã được ban hành để thúc đẩy
việc bán các khoản nợ cho các công ty có chức năng chứng khoán hóa các khoản xấu và
bán lại cho các nhà đầu tư. Hàn Quốc đã rất thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư vào xử lý nợ xấu thông qua mua các trái phiếu được bảo đảm bằng các
khoản nợ xấu cũng như mua các khoản nợ xấu thông qua đấu giá. Chính sự thành công
trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đã khuyến khích các nhà đầu tư trong nước
đầu tư vào các chứng khoán cũng như các khoản nợ xấu này. Bên cạnh đó, KAMCO
cũng tịch thu tài sản thế chấp của các khoản nợ có đảm bảo để bán thu hồi lại tiền.
KAMCO nắm giữ các khoản nợ xấu và cố gắng tái cơ cấu nợ, tái tài trợ hay chuyển đổi
nợ thành vốn chủ sở hữu nếu công ty đó có khả năng hồi phục, giảm lãi suất, giãn nợ…
18


Ngoài ra, còn có các biện pháp khác như truy đòi lại chủ nợ ban đầu của khoản nợ xấu,
bán khoản nợ cho các công ty quản lý tài sản, công ty tái cơ cấu doanh nghiệp để mua lại
cổ phiếu của các công ty này và tiến hành tái cơ cấu lại hoạt động của công ty… 11
KAMCO được đánh giá là công ty xử lý nợ thành công nhất ở châu Á, không một
công ty nào có thể xử lý nợ nhanh như KAMCO đã làm. Thời điểm tháng 3/1998, nợ xấu
của Hàn Quốc là 118 nghìn tỷ won, tương đương 18% tổng dư nợ và bằng 27% GDP Hàn
Quốc năm 1998. Đến tháng 4/2003, KAMCO đã mua được 110,1 nghìn tỷ won nợ xấu
theo giá trị sổ sách với giá 39,4 nghìn tỷ won và bán được 65,9 nghìn tỷ won nợ theo giá
trị sổ sách với giá 31,1 nghìn tỷ won. Số nợ xấu còn lại khi đó ước tính là khoảng 44,2
nghìn tỷ won theo giá trị sổ sách và 12,8 nghìn tỷ won theo giá thị trường.
Đến thời điểm năm 2006, KAMCO đã khôi phục gần 95% số tiền mà các quỹ
công đã bơm vào các doanh nghiệp gặp khó khăn sau khủng hoảng tài chính. Đồng thời,
KAMCO cũng đã có được 7.200 tỷ won lợi nhuận. Các tổ chức tài chính Hàn Quốc cũng
hồi phục được doanh thu, tỷ lệ nợ xấu thấp.

từ các hoạt động của TAMC. Các công ty này, với tổng nợ vào khoảng 50 tỷ baht, đã
hoàn thành tái cấu trúc nợ, tăng vốn thêm 30 tỷ baht thông qua cổ phần hóa trên sở giao
dịch chứng khoán Thái Lan. Một số công ty còn có thể vay thêm khoảng 12 tỷ baht từ các
tổ chức tài chính để sử dụng như vốn lưu động. Động thái này đã giúp tăng cường sức
mạnh cho các doanh nghiệp này và cho thấy hiệu quả của quá trình tái cơ cấu nợ của
TAMC.
TAMC cũng giúp giảm nợ công bằng cách mua lại gần 52 tỷ baht trái phiếu trước
hạn. Triết lý của TAMC là cung cấp cho “con nợ” cơ hội để khôi phục hoạt động sản xuất
kinh doanh, thay vì thực hiện thu hồi tài sản thế chấp. Việc thu hồi tài sản thế chấp sẽ là
lựa chọn cuối cùng của TAMC, chỉ khi các con nợ không hợp tác hay có thái độ không
trung thực13.
Công ty quản lý tài sản Danaharta của Malaysia
Do khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997, đồng Ringgit mất đến 50% giá trị,
niềm tin tiêu dùng suy giảm trầm trọng. Nếu như các khoản nợ xấu tại thời kỳ ngay trước
khủng hoảng dao động từ 2-3% thì khi bong bóng vỡ ra, tỷ lệ nợ xấu tăng lên hai con số,
12 Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc đã giải quyết nợ xấu như thế nào? Web: http://nfsc.gov.vn/nghien-cuu-traodoi/cong-ty-quan-ly-tai-san-han-quoc-da-giai-quyet-no-xau-nhu-the-nao
13 Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc đã giải quyết nợ xấu như thế nào? Web: http://nfsc.gov.vn/nghien-cuu-traodoi/cong-ty-quan-ly-tai-san-han-quoc-da-giai-quyet-no-xau-nhu-the-nao

20


đỉnh điểm vào tháng 8/1998 khi nợ xấu lên đến 11.4%. Đối mặt với khủng hoảng kinh tế,
Chính phủ Malaysia buộc phải lập ra ba (03) tổ chức để giảm nợ xấu, lành mạnh hệ thống
tài chính và khôi phục lại đà tăng trưởng: Danaharta để xử lý nợ xấu, CDRC để thỏa
thuận với các ngân hàng có nợ xấu, SPV để bơm vốn cho hệ thống tài chính. Trong đó
Danahara là trung tâm của kế hoạch.
Danaharta được thành lập vào tháng 6/1998 nhằm loại bỏ các khoản nợ xấu (nonperforming loans) khỏi bảng kế toán của các định chế tài chính với mức giá hợp lý và tối
đa hóa giá trị có thể phục hồi của các khoản nợ. Hoạt động này giúp cho các tổ chức tài
chính thoát khỏi gánh nặng nợ đang ngăn cản chức năng trung gian tài chính.
Đây là mô hình kết hợp hai phương thức xử lý nợ xấu: một là mua đứt nợ xấu và

hành trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh hoặc có thể là hình thức khác như trái phiếu tái cấp
vốn của Ngân hàng Trung ương17.
Thứ ba, việc xử lý nợ nên thực hiện dưới các phương thức như sau: (i) Phát hành
trái phiếu để mua các khoản nợ, (ii) Hoán đổi các khoản nợ thành vốn cổ phần (chứng
khoán hóa các khoản nợ). Điều này rất hữu ích cho các doanh nghiệp trong quá trình tự
phục hồi và tại Việt Nam việc gia tăng sở hữu nhà nước sẽ thuận lợi cho việc đẩy nhanh
quá trình tái cơ cấu các TCTD 18, (iii) Mua đứt các khoản nợ theo giá thị trường và bán lại
điều này đòi hỏi phải phát triển một thị trường mua bán nợ thật tốt.
Thứ tư, cần thiết phải xây dựng cơ sở pháp lý đầy đủ để cơ quan này có thể thực
hiện tốt việc xử lý nợ xấu của mình tránh những vướng mắc tất yếu sẽ gặp phải từ các yếu
tố pháp lý khác như vướng mắc từ thị trường bất động sản, chứng khoán, cơ chế xử lý tài
sản bảo đảm, v.v..
Thứ năm, phát triển thị trường trái phiếu, mở rộng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
vào khu vực ngân hàng như một kênh huy động vốn hữu hiệu hiện nay 19.
Trên cơ sở đó, vào ngày 24/7/2013 Công ty TNHH một thành viên quản lý tài sản
của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã chính thức được thành lập với mã số
doanh nghiệp 010623885220. Cơ sở pháp lý cho việc thành lập này được thể hiện tại các
văn bản sau: Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập,
tổ chức và hoạt động của công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam, Quyết định
843/QĐ-TTg ngày 31/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án xử lý nợ xấu của
16 Tô Ngọc Hưng (2012), Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam,
Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng (số 125, ) tr.8
17 Tô Ngọc Hưng (2012), Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam,
Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng (số 125, ) tr.8
18 Tô Ngọc Hưng (2012), Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam,
Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng (số 125, ) tr.8
19 Phạm Thị Bích Thủy (2016), Pháp luật về xử lý nợ xấu của các TCTD từ thực tiễn Công ty quản lý tài sản của
các TCTD Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, tr. 33
20 Theo nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp – Công ty TNHH một thành viên quản lý tài sản của các
tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) công bố trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia https://dangkykinhdoanh.gov.vn



Theo đó, VAMC có 09 đơn vị trực thuộc (bao gồm 08 Ban và 01 Văn phòng giúp việc HĐTV):









Ban Mua và Quản lý nợ của các tổ chức tín dụng Nhà nước (gọi tắt là Ban 1);
Ban Mua và Quản lý nợ của các tổ chức tín dụng cổ phần (gọi tắt là Ban 2);
Ban Bán và Xử lý nợ;
Ban Pháp chế;
Ban Kiểm tra – Giám sát;
Ban Công nghệ thông tin;
Ban Tài chính – Kế toán;
Ban Hành chính – Nhân sự;
Văn phòng.
Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, VAMC được thực hiện các hoạt

động kinh doanh sau đây22:

Mua nợ xấu của các TCTD;

Thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm;

Cơ cấu lại nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ, chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần

Bảo lãnh cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn của tổ chức tín dụng
Đầu tư tài chính, góp vốn, mua cổ phần; và
Hoạt động khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Công ty Quản lý tài sản sau

2.4

khi được Thống đốc NHNN cho phép.
Chức năng của VAMC

22 Theo nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp – Công ty TNHH một thành viên quản lý tài sản của các
tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) công bố trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia https://dangkykinhdoanh.gov.vn

24


VAMC ra đời với chức năng chính là xử lý nợ xấu, giải quyết vấn đề mấu chốt tạo
tiền đề cho tái cơ cấu các TCTD và phân loại chất lượng theo thông lệ quốc tế mà không
phải sử dụng vốn ngân sách của nhà nước [8].
2.5

Hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC
Về bản chất, sự ra đời của VAMC đồng nghĩa với việc Chính phủ bỏ tiền mua lại

khoản nợ xấu của các TCTD và sau đó, tìm cách xử lý nợ xấu này để thu hồi (ví dụ như
cơ cấu lại doanh nghiệp, bán doanh nghiêp, hoặc tài sản của doanh nghiệp...). Như vậy,
hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC gồm hai giai đoạn nối tiếp nhau:
Giai đoạn 1: Mua nợ xấu của các TCTD: VAMC mua nợ xấu của TCTD (i) theo
giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành; hoặc (ii) theo giá thị trường
bằng nguồn vốn không phải trái phiếu đặc biệt.
Giai đoạn 2: Xử lý nợ xấu: Sau khi mua nợ, VAMC tiến hành đánh giá, phân loại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status