(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà thịt nuôi tại Công ty Japfa comfeed Việt Nam chi nhánh Sông Công Thái Nguyên - Pdf 54

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRIỆU THỊ LAN
Chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG VÀ
TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ THỊT NUÔI TẠI CÔNG TY JAPFA
COMFEED VIỆT NAM CHI NHÁNH SÔNG CÔNG THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Chăn nuôi Thú y

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học:

2013 - 2018

Thái Nguyên - năm 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Giảng viên hướng dẫn: ThS.Nguyễn Thị Minh Thuận

Thái Nguyên - năm 2018


i

LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em
đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình. Để có được kết quả này ngoài
sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhà
trường, thầy giáo, cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên, Công ty Japfa Comfeed Việt Nam và trang trại gà gia
công của anh Đào Xuân Thạch.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng chân thành cảm ơn tới sự giúp đỡ hướng
dẫn tận tình của cô giáo ThS. Nguyễn Thị Minh Thuận luôn giúp đỡ, động
viên và hướng dẫn chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp đại học này.
Do trình độ bản thân còn hạn chế và thời gian thực tập có hạn nên
chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng
góp của các thầy cô, các bạn để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Thái nguyên, ngày…tháng… năm 2018
Sinh viên

Triệu Thị Lan


ii


Cs

Cộng sự

FCR

Hệ số chuyển hóa thức ăn

ME

Năng lượng trao đổi

MG

Mycoplasma

MS

Mycoplasma synoviae

Nxb

Nhà xuất bản

SS

Sơ sinh

TN


2.2. Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước ............................. 7
2.2.1. Cơ sở khoa học .............................................................................. 7
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước................................... 20
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ........................ 27
3.1. Đối tượng và phạm vi thực hiện........................................................ 27
3.2. Địa điểm và thời gian thực hiện ........................................................ 27
3.3. Nội dung thực hiện ........................................................................... 27
3.4. Phương pháp thực hiện và các chỉ tiêu theo dõi ................................ 27
3.4.1. Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin..................................... 27
3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi ..................................................................... 27
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu ............................................................ 28


vi

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ....................................................... 29
4.1. Kết quả nuôi dưỡng và chăm sóc. ..................................................... 29
4.1.1 .Công tác chăm sóc ....................................................................... 29
4.1.2. Công tác vệ sinh phòng bệnh ....................................................... 31
4.2. Kết quả của chuyên đề ...................................................................... 33
4.2.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà .................................................................. 33
4.2.2.Khả năng sinh trưởng của gà thịt ................................................... 34
4.2.3. Khả năng chuyển hóa thức ăn ....................................................... 36
4.3. Kết quả điều trị bệnh trên gà .............................................................. 39
4.3.1. Tình hình mắc bệnh trên đàn gà thịt .............................................. 39
4.3.2. Hiệu quả điều trị bệnh trên gà thịt ................................................. 40
4.4. Tham gia các hoạt động khác............................................................. 41
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................ 42
5.1. Kết luận ................................................................................................. 42
5.2. Đề nghị .................................................................................................. 43

chăn nuôi khép kín và hệ thống mạng lưới chăn nuôi gia công do các công ty
nước ngoài triển khai đang phát triển hầu khắp cả nước. Quy trình chăm sóc
nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng các sản phẩm


2

của gia cầm.Vì vậy, việc thực hiện đúng qui trình chuẩn trong chăn nuôi là
hết sức quan trọng. Ngoài ra khi trực tiếp thực hiện qui trình chăn nuôi, kỹ
năng và thái độ nghề của sinh viên được bổ sung và hoàn thiện. Từ những lý
do đó, được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Minh
Thuận cùng với sự tiếp nhận của công ty Japfa em đã tiến hành chuyên đề:
“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà
thịt nuôi tại công ty Japfa comfeed việt nam chi nhánh Sông Công Thái
Nguyên”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1. Mục tiêu của chuyên đề
- Thực hiện được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt.
- Tham gia phòng và trị bệnh trên gà thịt.
- Xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt.
- Đưa ra phác đồ điều trị bệnh cho gà thịt.
1.2.2. Yêu cầu của chuyên đề
- Nắm được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng gà thịt.
- Biết cách phòng bệnh cho gà thịt.
- Biết được cách chẩn đoán và điều trị bệnh cho gà thịt.


3

PHẦN 2

Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.168 mm, tháng lớn nhất là

443 mm, tháng nhỏ nhất 22 mm.
Giao thông, thủy lợi
Thủy lợi: Sông Công bắt nguồn từ vùng Đèo Khế, tỉnh Thái Nguyên,
chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Sau khi ra khỏi hồ Núi Cốc ở phía


4

Tây thành phố Thái Nguyên, nó chia thành hai nhánh. Nhánh chính chảy qua
trung tâm thành phố Sông Công, qua thị xã Phổ Yên để hội lưu với sông Cầu.
Nhánh phụ nhỏ hơn chảy qua phía Bắc thành phố Sông Công, huyện Phú
Bình rồi chảy vào thị xã Phổ Yên để nối với sông Cầu. Sông này dài 96 km.
Diện tích lưu vực 951 km², cao trung bình 224 m, độ dốc trung bình 27,3%,
mật độ sông suối 1,20 km/km². Tổng lượng nước 0,794 km³ ứng với lưu
lượng trung bình năm 25 m³/s, môđun dòng chảy năm 26l/s.km². Mùa lũ từ
tháng 6 đến tháng 10, chiếm 74,7% lượng nước cả năm, tháng 8 có lượng
dòng chảy lớn nhất chiếm 19,30% lượng nước cả năm; tháng cạn kiệt nhất
chiếm 1,8% lượng nước cả năm.
Mạng lưới giao thông, các tuyến đường, phố chính:


Đường Cách mạng Tháng 10



Đường Thắng Lợi






Đường Nguyễn Văn Cừ



Đường Vũ Xuân



Đường Lý Thường Kiệt



Phố An Châu



Phố Tôn Thất Tùng



Phố Ngô Sĩ Liên



Phố Kim Đồng



Với sự đầu tư cơ sở vật chất hiện đại phục vụ cho quá trình sản xuất
nhằm nâng cao hiệu quả và giảm công sức lao động trang trại đã có những
đầu tư về cơ sở vật chất như sau:
- Trang trại được xây mới và hoạt động từ tháng 3 năm 2017. Trại
được thiết kế xa khu dân cư, có hàng rào bao quanh.


6

- Được lắp đặt, trang bị máng ăn, máng uống tự động, mỗi trại gồm 4
đường ăn và 6 máng nước. Nền trại bê tông và mái được lợp bằng tôn xốp
cách nhiệt.
- Có 2 kho cám, 2 xilo cám, 2 máy phát điện, 3 máy nén khí, mỗi
chuồng 10 quạt thông gió và mỗi trại có 1 lò sưởi.
- Trong mỗi chuồng có 3 nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ trong chuồng nuôi.
- Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng
bằng nước giếng khoan và có các bể chứa khử nước.
- Hệ thống điện trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh
báo mất điện.
- Sân trại được bê tông hóa và trang trại được lắp 8 camera xung
quanh theo dõi.
2.1.4. Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu của trại tổ chức như sau:
- Diện tích chuồng trại là 2.400m2 (2 dãy chuồng).
- 2 dãy chuồng (chuồng 1 có chiều dài 75m, chiều rộng 17m và chuồng
2 dài 75m, rộng 15m) mỗi chuồng nuôi khoảng 10.000 con.
- Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây tường rào bao quanh.
- Đội ngũ cán bộ, quản lý, kĩ thuật, công nhân gồm:
01 quản lý
01 kĩ sư

tuổi, gà thịt Broiler 1 ngày tuổi/mái đầu kỳ là 155 con.
2.2.1.2. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà
Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật
có vú. Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di
chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá. Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm
trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 – 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 – 42 cm.
Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn


8

được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với
động vật khác. Do đó để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có
hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế
biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội chăn nuôi Việt
Nam, 2001[5]).
* Tiêu hóa ở miệng
Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy
thức ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ. Vịt, ngỗng có các răng ngang ở
mép nhỏ chứa nhiều tận cùng dây thần kinh lâm ba, có tác dụng cảm giác.
Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các
tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt
là dịch nhầy. Trong nước bọt có chứa một số ít men amilaza nên có ít tác
dụng tiêu hóa.
Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh
của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào
thực quản. Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất
nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt.
*Tiêu hóa ở diều
Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực. Diều dự trữ và

phút: gà 11,3 ml, còn ở ngỗng là 24 ml, ở giờ thứ nhất sau khi ăn dịch vị tiết
nhiều hơn.
*Tiêu hóa ở ruột
Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm.
Các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh
tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn.
Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH
dao động trong những phần khác nhau của ruột.
Dịch ruột là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH = 7,42) với
tỷ trọng 1,0076. Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic,
aminolytic và lypolytic và cả men enterokinaza.


10

Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan
hoặc hơi kiềm (pH = 7,2 - 7,5). Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn
có các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl2, NaHCO3...).
Dịch tuỵ của gia cầm trưởng thành có chứa các men tripsin,
cacbosipeptidaza, amilaza, mantaza, invertaza và lipaza.
Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác
động của men dịch ruột enterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein
phức tạp ra các axit amin. Men proteolytic khác là các cacbosipeptidaza được
tripsin hoạt hoá cũng có tính chất này.
Các men amilaza và mantaza phân giải các polysacarit đến các
monosacarit như glucoza, lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipit thành
glyserin và axit béo.
Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực. Sự
phân giải các chất dinh dưỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở
khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá

- Khí quản chia ra làm hai phế quản ở xoang ngực phía sau xương
ngực. Mỗi phế quản dài 6 - 7 cm và có đường kính 5 - 6 mm. Một ống phế
quản nối với lá phổi bên trái, còn một ống nối với lá phổi bên phải. Thành phế
quản cấu tạo bởi màng nhầy (ở đó có nhiều tuyến nhỏ tạo ra các dịch nhầy,
màng xơ đàn hồi), có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngoài.
- Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí
quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phổi có màu dạng phế
quản. Ở ngày ấp thứ 9 phổi đang phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở
phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp. Phổi của gia cầm màu đỏ tươi,
cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi.
Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sống từ trục xương sườn thứ
nhất đến mép trước của thận. Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể
trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi và loài. Chức năng chính của phổi là làm
nhiệm vụ trao đổi khí.
- Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí. Các túi khí là sự mở
rộng và tiếp dài của phế quản. Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có 4


12

đôi xếp đối xứng, còn 1 túi khí đơn. Các đôi túi khí xếp đối xứng là đôi túi khí
xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng. Túi
khí đơn là túi khí cổ. Các túi khí thực ra không phải là xoang tận cùng của phế
quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ.
Theo Trần Thanh Vân và cs, (2015) [19] tần số hô hấp dao động trong
khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của
gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không
khí. Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định. Gia
cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ. Ban đêm tần số hô hấp giảm chậm
xuống 30 - 40 %. Nhiệt độ tăng tần số hô hấp cũng tăng. Nếu nhiệt độ tăng tới

nhưng những carbonhydrate quá phức tạp như cellulose thì gà không thể sử
dụng được. Mặc dù vậy nhưng gà cũng cần môt lượng cellulose nhất định để
làm chất đệm giúp quá trình tiêu hoá được dễ dàng. Tỷ lệ chất xơ trong khẩu
phần không được vượt quá 4%. Nhu cầu về năng lượng cho các mục đích trao
đổi rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các
quá trình sản xuất. Đối với gà nuôi lấy thịt nhu cầu năng lượng thường cao
hơn gà đẻ.
Protein: đây là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng có ảnh hưởng trực
tiếp đến sức khỏe, sức sản xuất và chất lượng sản phẩm. Người ta cho rằng 20
-25 % sức sản xuất của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp bởi dinh dưỡng protein.
Gà thịt cần tỉ lệ protein tương đối cao trong khẩu phần để hỗ trợ tăng trưởng
nhanh. Khối lượng của gà thịt thương phẩm sẽ tăng lên gấp 50 – 55 lần trong
6 tuần sau khi nở. Một phần lớn của việc tăng trọng này là tăng trưởng các mô
có nhiều protein.
Nước: chính là một thành phần dinh dưỡng quan trọng cho bất kỳ cơ
thể sống nào kể cả gia cầm. Nước không những là chất dẫn giúp vật nuôi hấp
thu chất dinh dưỡng tốt hơn mà nước còn giúp cơ thể đào thải độc tố, giúp các
tế bào hoạt động khỏe mạnh hơn… Hầu hết các động vật khác kể cả gà sẽ cần
một lượng nước khoảng 50ml/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày. Khi thời tiết
ấm áp, nhu cầu này có tăng lên một chút và tương tự, khi thời tiết lạnh, lượng
nước gà cần sẽ giảm hơn so với bình thường.


14

Khoáng chất: là phần vô cơ trong thành phần thức ăn chăn nuôi gia
cầm, thường chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong khẩu phần thức ăn, tuy nhiên
khoáng chất có một vai trò vô cùng quan trọng đối với gia cầm.
+ Khoáng đa lượng: Ca, P: trong cơ thể Ca chiếm 1,3 – 1,8% khối
lượng cơ thể, P chiếm 0,8 – 1% khối lượng cơ thể.

thục sinh dục. Gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thì sự thành thục về thể
trọng sớm và chất lượng thịt tốt hơn gia cầm mọc lông chậm.
- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng.
Dinh dưỡng là yếu tố ảnh hưởng lớn tới khả năng sinh trưởng, phát dục.
Không chỉ cần đủ mà còn phải cân đối tỷ lệ các chất thì khả năng tiêu hóa hấp
thu mới tốt.
Chanbers J. R, (1990) [22] cho biết, tương quan giữa khối lượng của
gà và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 – 0,9). Để phát huy khả năng
sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng, thức ăn
theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng protein, acid amin và năng
lượng. Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu
cầu của gia cầm.
- Ảnh hưởng của môi trường.
Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của
gia cầm. Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì
gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì tạo
điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe gia cầm.
Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại
kinh tế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp ở vùng khí hậu
nhiệt đới (Wesh Bunnr, 1992 [25]).
Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì gà rất
nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm.
Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như: độ
ẩm, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến
khả năng sinh trưởng của gia cầm.


16

Sinh trưởng của gia súc, gia cầm luôn gắn với phát dục, đó là quá trình


đoạn từ 15 - 45 ngày tuổi. Gà bị nhiễm do nuốt phải noãn nang cầu trùng có
trong thức ăn, nước uống. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng trầm trọng nhất là
vào vụ xuân hè khi thời tiết nóng ẩm.
- Triệu chứng: Gà bệnh ủ rũ, ăn ít, uống nhiều nước, xù lông, cánh sã,
chậm chạp, phân dính quanh hậu môn, phân loãng, sệt, có màu socola hoặc
đen như bùn. Nếu gà bị bệnh nặng thì phân lẫn máu tươi, gà mất thăng bằng,
cánh tê liệt, niêm mạc nhợt nhạt, da và mào tái nhợt do mất máu. Tỷ lệ ốm
cao, nhiều gà chết.
- Bệnh tích: Khi mổ khám
+ Cầu trùng manh tràng: manh tràng sưng to và chứa đầy máu.
+ Cầu trùng ruột non: ruột non căng phồng, xuất huyết bề mặt ruột có
nhiều đốm trắng xám, bên trong ruột có dịch nhầy màu hồng.
- Điều trị:
+ Dùng coxymax: liều 1g/1 lít nước hoặc 100g/500 kg P, dùng liên tục
trong 3 ngày, nghỉ 2 ngày sau đó dùng liệu trình mới nếu gà chưa khỏi.
+ Dùng colistin: liều 1g/2lít nước cho gà uống liên tục trong 4 - 5 ngày.
Kết hợp tiêm bắp vitamin chống mất máu và cho uống vitamin C để tăng sức
đề kháng cho gà.
Bệnh do E.coli (Colibacillosis)
- Nguyên nhân
Do vi khuẩn Escherichia coli (E.coli) gây ra.
- Triệu chứng: Gà bị bệnh thường ủ rũ, xù lông, gầy rạc. Một số con có
triệu chứng sốt, sổ mũi và khó thở. Sau vài ngày gà ỉa chảy, phân lỏng có dịch
nhầy màu nâu, trắng, xanh, đôi khi lẫn máu rồi chết hàng loạt. Đôi khi gà có
hiện tượng sưng khớp.
- Bệnh tích: Gan sưng và xuất huyết, gan sưng đỏ, gan và màng bao tim
có lớp nhầy trắng. Màng túi khí có nốt xuất huyết nhỏ. Niêm mạc ruột sưng
đỏ, ỉa phân trắng. Gia cầm ở thời kỳ đẻ, buồng trứng bị vỡ và teo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status