Tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành công nghệ thông tin kinh nghiệm của đài loan tt - Pdf 54

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VIỆT DŨNGK

LÊ VIỆT DŨNG

THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN
CẦUNGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN:KINH
NGHIỆM CỦA ĐÀI LOAN

Chuyên ngành:
Mã số:

Kinh tế quốc tế
9 31 01 06

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. Nguyễn Bình Giang
2. PGS, TS. Nguyễn Duy Lợi

Hà Nội – 2019
1


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học xã hội,
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

CNTT của Đài Loan đã có những bước phát triển vượt bậc, từ công đoạn sản
xuất và cung cấp điện tử tiêu dùng, linh kiện điện tử, sang các sản phẩm công
nghệ cao hàng đầu thế giới với các sản phẩm như chất bán dẫn, quang học, máy
tính xách tay, máy tính bảng…Bằng cách xây dựng các chính sách hỗ trợ hợp lý
trong phát triển CNTT như thành lập các công viên công nghệ, phát triển nguồn
nhân lực, thu hút đầu tư nước ngoài, khuyến khích các doanh nghiệp CNTT phát
triển thương hiệu sản phẩm, Đài Loan đã tham gia ngày càng sâu vào các chuỗi
cung ứng toàn cầu (CCƯTC), thậm chí còn dẫn đầu một số chuỗi Trong khi đó,
ngành CNTT Việt Nam còn đang ở mắt xích thấp, chưa phát triển một cách bền
vững bởi nhiều lý do khác nhau như chất lượng nguồn nhân lực yếu và thiếu, hệ
thống các nhà cung cấp trong nước còn nhỏ bé, cơ sở hạ tầng CNTT lạc hậu….
Liệu kinh nghiệm của Đài Loan có thể áp dụng cho các nước khác như Việt Nam?
Cần phải có nghiên cứu hệ thống và tập trung để giải thích trường hợp thành
công của Đài Loan và tìm tòi những kinh nghiệm có khả năng áp dụng của họ.
Đây là động lực khuyến khích nghiên cứu sinh thực hiện luận án với đề tài "Tham
gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT: Kinh nghiệm của Đài Loan".
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích của nghiên cứu này là làm sáng tỏ cách thức mà Đài Loan đã thực
hiện để tham gia thành công vào các CCƯTC ngành CNTT và rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá có bổ sung và hoàn thiện luận cứ khoa học về CCƯTC, xây
dựng các khái niệm, khung tiêu chí đánh giá CCƯTC và các nhân tố ảnh hưởng
đến việc tham gia CCƯTC của ngành CNTT.
+ Phân tích các đặc điểm, chính sách, công cụ để tham gia CCƯTC của ngành
CNTT.
+ Phân tích, đánh giá quá trình tham gia CCƯTC của ngành CNTT Đài Loan;
những chính sách biện pháp chủ yếu giúp ngành CNTT Đài Loan tham gia
CCƯTC
+ Nghiên cứu những thành tựu và hạn chế của ngành CNTT Đài Loan khi

trí của Đài Loan trong chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu.
- Phương pháp chuyên gia: Luận án sẽ tiến hành tìm hiểu và lấy ý kiến của
một số chuyên gia Việt Nam chuyên nghiên cứu thương mại, xuất khẩu hàng hoá
CNTT, các chuyên gia nghiên cứu về kinh tế Đài Loan, Trung Quốc để tìm hiểu
các bài học kinh nghiệm có thể rút ra cho Việt Nam.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án đi sâu phân tích, làm rõ thực trạng tham gia CCƯTC ngành CNTT
Đài Loan, các chính sách, biện pháp của Đài Loan để ngành CNTT tham gia
CCƯTC; từ đó đánh giá vị trí, thứ bậc, thành công và hạn chế khi tham gia
CCƯTC của ngành CNTT Đài Loan.
4


Luận án đưa ra những điều kiện cần và đủ để tham gia CCƯTC của ngành
CNTT ở Đài Loan, so sánh với Việt Nam, phân tích tầm quan trọng của việc
nâng cấp CCƯTC của ngành CNTT Việt Nam; từ đó phân tích tác động của các
nhân tố này đối với Việt nam trong giai đoạn hiện nay rất khác xa với giai đoạn
Đài Loan thực hiện phát triển CNTT trước đây.
Phân tích, đánh giá thực tiễn tham gia CCƯTC ngành CNTT của Đài Loan
giúp làm sáng tỏ lý luận về CCƯTC ngành CNTT, giúp hiểu rõ hơn và vận dụng
tốt hơn lý luận trong việc phát triển CCƯTC ngành CNTT ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án mang ý nghĩa lý luận sâu sắc, góp phần hệ thống hoá các cơ sở lý
luận về CCƯTC và việc tham gia CCƯTC của ngành CNTT thông qua việc tiến
hành thống nhất các khái niệm, phân loại chuỗi cung ứng và chủ thể tham gia
chuỗi cung ứng, đưa ra các tiêu chí đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến CCƯTC;
các chính sách và công cụ để tham gia và nâng cấp CCƯTC của các ngành công
nghiệp, trong đó có ngành CNTT.
Luận án mang ý nghĩa thực tiễn cao bởi việc nghiên cứu sự tham gia và nâng
cấp CCƯTC của ngành CNTT Đài Loan sẽ giúp Việt Nam có thêm các bài học

giá, luận cứ, luận chứng, giúp tác giả luận án có cơ sở để phân tích chính sách,
thực trạng tham gia CCƯTC ngành CNTT của Đài Loan, những thành công và
hạn chế trong việc tham gia CCƯTC ngành CNTT của Đài Loan.
Nghiên cứu về việc tham gia CCƯTC ngành CNTT của Việt Nam được trình
bày qua nhiều báo cáo, tài liệu nghiên cứu khác nhau, với những số liệu và cách
tiếp cận khác nhau. Các nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu về các biện pháp,
chính sách phát triển ngành CNTT của Đài Loan, thực trạng phát triển của ngành
CNTT Đài Loan, vai trò và vị trí của ngành CNTT Đài Loan trong nền kinh tế
và trong thứ hạng toàn cầu Qua các nghiên cứu này, tác giả luận án có cơ sở để
đánh giá thực trạng và vị trí của Việt Nam trong tham gia CCƯTC ngành CNTT.
1.2.2. Khoảng trống nghiên cứu và điểm mới của luận án
Thứ nhất, còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu về chuỗi cung ứng và đặc
điểm của chuỗi cung ứng trong ngành CNTT. Các nghiên cứu của nhóm lý thuyết
được liệt kê trên đây đã tiếp cận chuỗi cung ứng theo một hoặc số cách khác
nhau. Như đã liệt kê ở phần trên, các tài liệu nghiên cứu trong nước và ngoài
nước có rất nhiều, nhưng các công trình này đã chưa trả lời thấu đáo các câu hỏi
liên quan đến CCƯTC, CCƯTC trong ngành CNTT; đặc điểm của CCƯTC trong
ngành CNTT; cơ chế hoạt động của CCƯTC ngành CNTT; điều kiện cần và đủ
để tham gia CCƯTC ngành CNTT; các chính sách và biện pháp chủ yếu để các
nước tham gia CCƯTC ngành CNTT. Các câu hỏi nhỏ này đã không được các
công trình nghiên cứu trước đó giải quyết thấu đáo, thậm chí đã không có một
công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào giải quyết thấu đáo cơ sở lý luận về
CCƯTC trong ngành CNTT. Đây chính là “khoảng trống” cần tiếp tục được
nghiên cứu để hình thành khung phân tích và tiêu chí đánh giá cho đề tài.
Thứ hai, cách tiếp cận và quan điểm nghiên cứu về thực trạng tham gia
CCƯTC ngành CNTT của Đài Loan còn khác nhau. Số liệu, tư liệu và những
nhận định đánh giá còn khá rời rạc, đa quan điểm, chưa lô gic, chưa hệ thống và
chưa cập nhật. Hơn nữa, không có một công trình nghiên cứu nào trả lời hoàn
chỉnh các câu hỏi: Đài Loan đã tham gia CCƯTC trong ngành CNTT bằng cách
6

7


cấp đầu tiên đến khách hàng tiêu dùng cuối cùng. Chuỗi cung ứng một mặt hàng
là một quá trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo ra sản phẩm cuối cùng
và được phân phối tới tay người tiêu dùng cuối cùng.
- Chuỗi cung ứng toàn cầu:
CCƯTC được hiểu là một mạng lưới cung ứng trên toàn thế giới khi một công
ty mua hoặc sử dụng hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài. CCƯTC liên quan đến
việc kết nối tất cả các bên đối tác, nguồn lực, doanh nghiệp liên quan đến việc
sản xuất, xử lý và phân phối nguyên liệu, thành phẩm hoặc cung cấp dịch vụ đến
tay người tiêu dùng cuối cùng.
- Phân biệt chuỗi cung ứng toàn cầu và chuỗi giá trị toàn cầu:
CCƯTC và chuỗi giá trị toàn cầu có sự khác nhau về mặt khái niệm. CCƯTC
hàm ý đến tất cả các hoạt động liên quan đến sự kết nối các hoạt động thu mua,
sản xuất, logistics của sản phẩm trên phạm vi toàn cầu; trong khi đó chuỗi giá trị
liên quan đến một loạt các hoạt động sản xuất, tạo ra giá trị gia tang cho sản phẩm
thông qua người tiêu dùng. Chuỗi cung ứng liên quan đến quản trị các hoạt động
của doanh nghiệp, để từ đó sản phẩm được di chuyển từ nơi này sang nơi khác,
trong khi đó chuỗi gía trị liên quan đến quản trị kinh doanh của doanh nghiệp.
- Mạng sản xuất quốc tế và chuỗi cung ứng toàn cầu:
Mạng sản xuất toàn cầu là các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ ở nhiều quốc
gia khác nhau trên thế giới liên kết chặt chẽ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau, cùng
tham gia vào việc sản xuất, phân phối, cung cấp các dịch vụ bảo dưỡng, bảo hành
trong quá trình sử dụng một sản phẩm.
2.1.2. Cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và các chủ thể tham gia chuỗi
cung ứng toàn cầu
2.1.2.1. Cấu trúc chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng liên kết nhiều doanh nghiệp độc lập với nhau, mỗi doanh
nghiệp có một cấu trúc và tổ chức riêng bên trong tương ứng với đặc điểm hoạt

vào CCƯTC.
2.2. Tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT
2.2.1. Chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT
- Chuỗi cung ứng ngành CNTT: Chuỗi cung ứng ngành CNTT bao gồm mọi
hoạt động liên quan đến việc cung cấp, sản xuất và phân phối một sản phẩm
CNTT hoặc một dịch vụ CNTT hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến
khách hàng tiêu dùng cuối cùng.
Đặc điểm chính của các sản phẩm CNTT là tính quy mô, phức tạp và các quy
trình sản xuất bị phân mảnh trong CCƯTC. Ngành CNTT bao gồm nhiều lĩnh
vực và sản phẩm khác nhau từ máy tính và thiết bị ngoại vi, đến các thành phần
linh kiện trong sản phẩm ô tô và hàng không, do vậy nó có tính phân khúc thị
trường rất lớn trong tiêu dùng, kinh doanh và thiết bị công nghiệp. Các sản phẩm
CNTT cũng có những đặc điểm tương đồng về mô đun, được tiêu chuẩn hoá và
dễ dàng trao đổi trên thị trường.
2.2.2. Các chủ thể tham gia chuỗi cung ứng ngành CNTT
Chuỗi cung ứng của ngành CNTT thường được đặc trưng bởi mức độ gia
công và thuê ngoài rất cao. Điểm bắt đầu tự nhiên của chuỗi cung ứng ngành
CNTT cũng bắt đầu từ vật tư, nguyên liệu => các công đoạn làm gia công => các
nhà sản xuất thiết kế gốc => các công đoạn sản xuất thiết bị gốc => các công ty
có thương hiệu => kênh phân phối => khách hàng cấp 1,2,3,..n và người tiêu
9


dùng cuối cùng. Mỗi một ngành có thể có nhiều CCƯTC khác nhau. Mỗi một
chuỗi toàn cầu bao gồm nhiều công ty thành viên tham gia cung ứng cho nhau.
Một công ty có thể đồng thời tham gia nhiều CCƯTC.
2.2.3. Điều kiện để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT
- Điều kiện về con người: Hoạt động của chuỗi cung ứng ngành CNTT đòi
hỏi chi phí nhân công thấp trong giai đoạn đầu tham gia chuỗi cung ứng bởi hầu
hết các các hoạt động lắp ráp đều sử dụng rất nhiều lao động, và chi phí lao động

10


- Ở giai đoạn đầu: đây là giai đoạn chủ yếu các doanh nghiệp tập trung vào
khâu cung ứng các sản phẩm và linh kiện lắp ráp có giá trị gia tăng thấp. Chính
phủ các nước thường tập trung vào huy động nguồn nhân lực đông, chi phí thấp,
cơ sở hạ tầng thuận lợi, môi trường đầu tư ưu đãi để thu hút các doanh nghiệp
FDI trong các ngành CNTT. Tuy nhiên, các chính phủ đã phải thực hiện các
chính sách hỗ trợ tiếp theo để các doanh nghiệp sẵn sàng tham gia vào giai đoạn
tiếp theo của chuỗi cung ứng, đó là: tăng chi tiêu R&D cho các doanh nghiệp và
các dự án đầu tư CNTT, khuyến khích xây dựng các phòng thí nghiệm, các trung
tâm nghiên cứu các sản phẩm CNTT; tạo dựng môi trường tài chính thuận lợi để
phát triển quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ; cải thiện môi trường nghiên cứu khoa học;
hỗ trợ tài chính và tư vấn cho các doanh nghiệp CNTT.
- Ở giai đoạn tiếp theo: các doanh nghiệp tập trung tham gia vào khâu cung
ứng các sản phẩm, linh kiện CNTT được lắp ráp và và sản xuất có giá trị gia tăng
thấp và trung bình. Kỹ năng người lao động, các hoạt động R&D là rất quan
trọng đối với các doanh nghiệp muốn tham gia chuỗi cung ứng của ngành. Các
nước thường tập trung phát triển nguồn nhân lực, xây dựng các trường/viện
nghiên cứu để đào tạo nhân tài cho ngành CNTT, phát triển các chiến lược dài
hạn để ưu tiên chuyển giao công nghệ và phát triển khoa học công nghệ.
- Ở giai đoạn cuối cùng: các doanh nghiệp tập trung tham gia vào khâu cung
ứng các sản phẩm được sản xuất và thiết kế có giá trị gia tăng cao, có thương
hiệu. Để tham gia chuỗi cung ứng trong giai đoạn này, các doanh nghiệp đã đạt
đến trình độ công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Các doanh nghiệp
thường có xu hướng tìm kiếm các kênh thị trường, các nhà cung ứng ở nước
ngoài để chuyển giao công nghệ, dịch chuyển dần các khâu cung ứng thấp hơn
ra nước ngoài để tiết kiệm chi phí.
2.3. Bối cảnh hình thành và phát triển chuỗi cung ứng toàn cầu ngành
CNTT ở Đông Á và cơ hội tham gia của các quốc gia trong khu vực

tử, chế tạo các mạch tích hợp, tiến tới trở thành các ODM, sản xuất ra các máy
tính xách tay với thương hiệu riêng. Giai đoạn tiếp theo, các nhà cung cấp tại
châu Á đã tiến tới các hoạt động phát triển công nghệ, phát triển năng lực thiết
kế, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ toàn cầu và sử dụng hệ thống thông tin số hoá có
hiệu quả. Mỗi quốc gia đã có cách thức riêng để tham gia vào chuỗi cung ứng và
ở Đông Á hình thành hai loại doanh nghiệp cung ứng, đó là các nhà cung ứng
bậc cao và các nhà cung ứng bậc thấp.
- Cơ hội tham gia CCƯTC ngành CNTT cho các quốc gia: Cuộc cách mạng
4.0 đang tác động mạnh mẽ đến CCƯTC ngành CNTT: Nhà máy thông minh;
Internet of Services; Dữ liệu lớn (Big data); Nguồn nhân lực chất lượng cao. Và
để đối phó với những thay đổi này, các nhà quản lý chuỗi cung ứng cần phải tập
trung: Quản lý nhà cung cấp; Thực hiện chuỗi cung ứng minh bạch; Hoạch định
nhu cầu; Thiết kế mạng lưới cung ứng.
Chương 3
THỰC TIỄN THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH
CNTT CỦA ĐÀI LOAN
3.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế khi Đài Loan tham gia chuỗi cung
ứng toàn cầu ngành CNTT
3.1.1. Bối cảnh trong nước
12


Lịch sử phát triển kinh tế Đài Loan trải qua 5 giai đoạn phát triển chủ yếu: (1)
Cải cách điền địa trong thập niên 1950s để hình thành nền kinh tế nông nghiệp
quy mô vừa và nhỏ; (2) Phát triển các ngành xuất khẩu sử dụng nhiều lao động
trong thập niên 1960 như dệt may, công nghiệp nhẹ; (3) Do bị tác động của khủng
hoảng dầu lửa Trung Đông (1970s), Đài Loan chuyển hướng tập trung phát triển
các ngành công nghiệp hóa chất; (4) Từ đầu thập niên 1980 bắt đầu chuyển hướng
sang chế biến và xuất khẩu hàng điện tử và bán dẫn; (5) Trong những năm đầu
2000s, hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, lấy CNTT và công nghệ kỹ thuật



lưới sản xuất toàn cầu. Sự phát triển nhanh mạnh của ngành công nghệ điện tử
thông tin trên thế giới đã buộc các nước Đông Á, trong đó có Đài Loan, phải linh
hoạt trong việc đầu tư vào các doanh nghiệp điện tử thông tin của nước này, đa
dạng hóa sản xuất các loại sản phẩm, mở rộng mạng lưới cung cấp linh kiện và
gia công hàng hóa cho các hãng nước ngoài, đồng thời phải dung hóa lợi ích giữa
các OEM và các nhà sản xuất theo hợp đồng, từ đó nắm bắt các bí quyết công
nghệ và các kỹ năng quản lý, dần dần nâng cấp ngành CNTT của nước mình dưới
sự hỗ trợ chính sách tích cực của chính phủ.
3.2. Các chính sách và biện pháp phát triển CNTT của chính quyền Đài
Loan để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
3.2.1. Phát triển cơ sở hạ tầng cho chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT
Tính đến thời điểm năm 2011, Đài Loan có khoảng 19 viện nghiên cứu công
nghệ do nhà nước thành lập, trong đó có 8 viện nghiên cứu có chức năng thiết kế
chính sách công nghiệp, công nghệ, và 11 viện nghiên cứu có chức năng thực
hiện công nghiệp, công nghệ.Trong số các viện nghiên cứu đó, có các viện
chuyên về chức năng nghiên cứu công nghệ thong tin như Viện nghiên cứu công
nghệ công nghiệp, Viện nghiên cứu CNTT, Công viên khoa học Hsinchu.
3.2.2. Chính sách liên quan đến tự do hoá thương mại và mở cửa kinh tế:
Cùng với khu chế xuất Cao Hùng, các khu chế xuất khác đã được Đài Loan thiết
lập để phục vụ xuất khẩu, tập trung đầu tư R&D, sản xuất các sản phẩm CNTT
giá trị cao, thử nghiệm và đóng gói các chip điện tử, các module LCD và các sản
phẩm công nghệ quang điện tử học. 3 khu chế xuất Nantze, Kaohsiung và
Taichung là địa điểm thu hút FDI lớn nhất ở Đài Loan. Cho đến nay, ở Đài Loan
có tất cả 8 khu chế xuất, được xây dựng ở miền Trung và miền Nam Đài Loan.
3.2.3. Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ để tham gia hiệu quả vào
chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT
Theo thống kê của Bộ quan hệ kinh tế, vào năm 2010 Đài Loan có khoảng 1,24
triệu doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm 97,77% tổng các doanh nghiệp của Đài Loan.

Sang thập niên 1970, do Đài Loan thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu,
nên các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất được chú trọng phát
triển, nên hầu hết các lĩnh vực công nghiệp điện tử ở Đài Loan vẫn do các doanh
nghiệp nước ngoài nắm giữ. Trong giai đoạn này, trên 50% các doanh nghiệp
điện và điện tử ở Đài Loan là doanh nghiệp nước ngoài, chiếm 2/3 kim ngạch
xuất khẩu của Đài Loan. Năm 1973, Viện Kỹ thuật công nghiệp được thành lập
và năm 1974, Viện công nghiệp điện tử được thành lập, nằm trong ITRI, tập
trung nghiên cứu sản phẩm bán dẫn. Năm 1978, nhà máy vi mạch đầu tiên được
thành lập tại ITRI và năm 1979 ITRI phát triển thành công con chíp vi mạch
thương mại cho đồng hồ và bắt đầu đặt hàng cho các nhà công nghiệp trong nước
sản xuất, thúc đẩy tiến trình sản xuất đồng hồ điện tử trong nước. Với các sản
phẩm này, Đài Loan bắt đầu chính thức bước chân vào CCƯTC ở giai đoạn sản
xuất gia công toàn cầu (CM) và sản xuất thiết bị gốc (OEM). Trong giai đoạn
này, cách thức tham gia của các doanh nghiệp Đài Loan là: một nhà sản xuất các
sản phẩm CNTT của Đài Loan tiến hành sản xuất và lắp ráp sản phẩm phù hợp
với những yêu cầu chi tiết và chính xác về sản phẩm do bên đặt hàng yêu cầu.
3.3.2. Từ thập niên 1980 đến nay:
Đầu thập niên 1980, ngành CNTT Đài Loan phát triển mạnh các sản phẩm
OEM. Trong giai đoạn này, sản xuất và xuất khẩu hàng hóa CNTT của Đài Loan
15


chủ yếu liên quan đến hàng hóa trung gian như vi mạch điện tử, đóng gói và kiểm
định sản phẩm vi mạch điện tử, màn hình tinh thể lỏng,... Nhìn chung trong suốt
thập kỷ 1980, các doanh nghiệp Đài Loan tập trung tham gia CCƯTC dưới hình
thức OEM, trở thành các nhà chế tạo gia công theo đơn đặt hàng.
Trong thập niên 1990, chính phủ Đài Loan đã nỗ lực đầu tư cho CNTT,
chuyển sự phát triển của ngành này từ giai đoạn tập trung sản xuất sang giai đoạn
tập trung đầu tư, dẫn đến sự phát triển nhanh mạnh của ngành CNTT từ năm
1992. Lúc này, Đài Loan đã trở thành nước sản xuất CNTT lớn thứ 3 trên thế


nghiệp CNTT của Đài Loan đã tập trung đều tư vào R&D và đầu tư vào các kênh
thị trường chính để tránh sự cạnh tranh thương hiệu với các hãng nước ngoài
khác, đồng thời có thể định vị được thương hiệu của mình trên thị trường thế giới.
3.4. Đánh giá việc tham gia chuỗi cung ứng ngành CNTT của Đài Loan
3.4.1. Thành công
Thứ nhất, Đài Loan ở vị trí cao trong CCƯTC ngành CNTT. Ngành CNTT
Đài Loan hiện nay đang có vị trí quan trọng trong CCƯTC. Đài Loan đang là
nhà sản xuất máy tính xách tay số 1 thế giới với sản lượng trung bình hằng tháng
hơn 14 triệu đơn vị sản phẩm. Đài Loan đang nỗ lực trở thành người khổng lồ
công nghệ cao của thế giới. Tính đến cuối năm 2013, tổng giá trị sản lượng thiết
kế vi mạch toàn cầu đạt 81,36 tỷ USD thì Đài Loan đạt 16,32 tỷ USD, đứng thứ
hai trên thị trường thế giới về thiết kế vi mạch toàn cầu. Trong khâu đóng gói và
kiểm định vi mạch, Đài Loan đứng thứ nhất toàn cầu với doanh thu đạt 4,35 tỷ
USD năm 2013. Trong khâu dịch vụ sản xuất chất bán dẫn, Đài Loan đứng thứ
nhất thế giới với doanh thu đạt 25,5 tỷ USD. Ngoài ra, Đài Loan cũng đứng thứ
hạng cao trong CCƯTC ở lĩnh vực sản xuất hệ vi điện cơ (Micro Electro
Mechanical Systems – MEMS), LED và nhiều sản phẩm khác. Các doanh nghiệp
CNTT Đài Loan đã tập trung đầu tư R&D, tham gia quản lý chuỗi cung ứng
xuyên biên giới, các dịch vụ hậu cần và các dịch vụ sau bán hàng.
Thứ hai, Đài Loan tham gia sâu vào chuỗi cung ứng ODM và OEM cả
trong sản phẩm CNTT phần cứng và phần mềm
Trong vài năm trở lại đây, các sản phẩm CNTT của Đài Loan luôn đạt tốc độ
tăng trưởng cao về kim ngạch xuất khẩu. Nhiều sản phẩm có giá trị xuất khẩu
cao và chiếm vị trí quan trọng trên thị trường thế giới, đặc biệt là các sản phẩm
notebook và netbook (NB PC), tablet, bo mạch chủ (motherboard – MB), máy
chủ (server) và màn hình tinh thể lỏng (LCD MTR). Năm 2014, hàng notbook
và netbook chiếm 84,9% thị phần thế giới, hàng bo mạch chủ chiếm 85%, máy
chủ chiếm 85,9% và LCD MTR chiếm 66,5% thị phần thế giới. Trong lĩnh vực
công nghệ phần mềm, các doanh nghiệp Đài Loan gần đây đã thiết kế và tung ra

hãng), Trung Quốc (1 hãng). 5 hãng thiết kế sản phẩm CNTT lớn nhất của Đài
Loan là Media Tek, Novatek, Reatek, Avago và MStar.
Thành công của Đài Loan trong việc tham gia chuỗi cung ứng CNTT toàn
cầu nhờ vào 3 đặc trưng cơ bản: 1) tạo ra các sản phẩm chi phí thấp và trở thành
nhà cung cấp chiến lược cho các doanh nghiệp nước ngoài; 2) sử dụng các kênh
công nghệ khác nhau để trở thành sản phẩm make in Taiwan; 3) chấp nhận sự có
mặt của các công ty xuyên quốc gia trong các ngành công nghiệp chiến lược.
3.4.2. Hạn chế
Thứ nhất, Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng chủ yếu là các sản phẩm
CNTT phần cứng, đang gặp phải sự cạnh tranh với các nước khác, đặc biệt là
Trung Quốc: Khi tham gia chuỗi cung ứng ở công đoạn OEM và ODM, ngành
CNTT chủ yếu quan tâm đến hai loại hình kinh doanh, đó là tận dụng lợi thế về
giá và kiểm soát số lượng sản phẩm. Vì vậy, khi tham gia chuỗi cung ứng sản
phẩm ra thị trường bên ngoài, các sản phẩm CNTT của Đài Loan gặp phải một
số thách thức như: mất nhiều thời gian chờ đợi, sản phẩm xuất đi mang tính chất
lặp đi lặp lại (không có tính mới) và buộc phải duy trì những lợi thế về giá cả.
Mặc dù các sản phẩm CNTT của Đài Loan có lợi thế to lớn liên quan đến thiết
kế sản phẩm và chế tạo, nhưng những thách thức này đã khiến sản phẩm của Đài
18


Loan phải cạnh tranh với một số đối thủ, đặc biệt là Trung Quốc – nơi có các sản
phẩm CNTT cùng loại với giá rẻ hơn rất nhiều. Đây cũng chính là lý do trong
thời gian gần đây các doanh nghiệp CNTT của Đài Loan đã chọn Trung Quốc là
cơ sở sản xuất của Đài Loan ở nước ngoài, tăng cường FDI vào Trung Quốc
trong các lĩnh vực CNTT, đưa Trung Quốc trở thành địa bàn gia công các sản
phẩm CNTT cho Đài Loan nhằm tận dụng lợi thế về nhân công và đất đai ở
Trung Quốc.
Thứ hai, hiệu ứng Bullwhip trong chuỗi cung ứng ngành CNTT Đài Loan:
Hiệu ứng Bullwhip (hiệu ứng cái roi da) cho rằng, thông tin nhu cầu không chính


công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới với các chi nhánh mạng lưới doanh nghiệp
rộng khắp trên toàn cầu như các doanh nghiệp lớn thường làm.
Thứ ba, các doanh nghiệp CNTT của Đài Loan hiện nay đang phải đối mặt
với áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt, không chỉ từ Trung Quốc, mà còn từ
các nền kinh tế mới nổi khác trong khu vực châu Á.
Thứ tư, do những bất đồng mang tính lịch sử giữa Đài Loan và Trung Quốc
đại lục, Đài Loan rất khó khăn trong việc tham gia các hiệp định thương mại tự
do (FTA) song phương và khu vực.
Chương 4
TRIỂN VỌNG THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU
NGÀNH CNTT CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH
4.1. Sự tham gia của ngành CNTT của Việt Nam trong chuỗi cung ứng
toàn cầu
4.1.1. Quá trình hình thành và phát triển CNTT của Việt Nam
Từ đầu thập niên 1990 Việt Nam đã bắt đầu phát triển ngành điện tử. Từ một
số ít các xí nghiệp lắp ráp điện tử dân dụng, liên doanh với các công ty điện tử
Nhật Bản như SONY, NATIONAL, SANYO… của những năm 1990, đến cuối
năm 2008 Việt Nam đã có 909 doanh nghiệp sản xuất lắp ráp và kinh doanh các
mặt hàng này. Chủng loại sản phẩm, phương thức sản xuất kinh doanh được đa
dạng hóa với tốc độ cao, điển hình ở các mặt hàng điện tử dân dụng, điện tử công
nghiệp và máy tính.
Từ hình thức nhập khẩu SKD sang nhập khẩu IKD, các doanh nghiệp trong
nước đã hình thành ý tưởng chiến lược xây dựng thương hiệu riêng cho các sản
phẩm điện tử sản xuất tại Việt Nam. Các doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử như
Viettronic Thủ Đức, Biên Hòa, Đống Đa, Tân Bình, Hanel là những minh chứng
thực tiễn cho sự phát triển này.
Những năm gần đây, ngành điện tử Việt Nam chiếm vị trí quan trọng trên thị
trường khu vực và thế giới. Đầu những năm 1990 toàn ngành chỉ có khoảng 50
doanh nghiệp điện tử, thì hiện nay đã có khoảng 500 doanh nghiệp, thu hút khoảng

đây đã đạt tốc độ tăng trưởng rất nhanh, có những đóng góp lớn cho xuất khẩu,
là ngành đem lại giá trị ngoại tệ cao và thu hút lực lượng lớn lao động trong nước,
được đánh giá là biểu tượng của sự hội nhập kinh tế Việt Nam, nhưng các doanh
nghiệp nội địa Việt Nam trong ngành CNTT gần như đứng ngoài chuỗi cung
ứng. Các doanh nghiệp nội địa chỉ cung ứng được ở khâu sản xuất bao bì, thùng
carton, ốc vít và đóng gói, khó tham gia sâu hơn vào các khâu cung ứng có giá
trị gia tăng cao.
4.1.3. Thuận lợi và khó khăn của ngành CNTT Việt Nam khi tham gia
chuỗi cung ứng toàn cầu
* Thuận lợi
Thứ nhất, Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong khu vực có nền công
nghiệp phát triển nhanh và năng động, trong đó có ngành CNTT. Đây là một
thuận lợi lớn bởi vị trí địa lý là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt
động của chuỗi cung ứng.
Thứ hai, lợi thế về lao động và tài nguyên cho ngành CNTT.
Thứ ba, Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, tạo đà thuận lợi
cho việc tham gia vào CCƯTC ngành CNTT.
21


* Khó khăn
Một là, doanh nghiệp nội yếu thế, chỉ có thể tham gia ở các vị trí thấp trong
CCƯTC.
Hai là, Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào các hợp đồng gia công ngành
CNTT trong CCƯTC. Do chưa tự cung cấp được nguyên liệu cho chính mình,
phải nhập khẩu từ bên ngoài, nên Việt Nam phụ thuộc vào chính nguồn cung đó.
Năng lực sản xuất của ngành còn nhiều hạn chế.
Ba là, trình độ công nghệ của ngành CNTT Việt Nam còn thấp, có khoảng
cách công nghệ quá xa so với các nước trong khu vực, vì vậy rất khó tham gia
sâu hơn vào CCƯTC.

các hãng CNTT lớn của nước ngoài, các doanh nghiệp CNTT Đài Loan đã biết
chọn lựa các sản phẩm riêng biệt, vừa lòng khách hàng cả về giá cả và chất lượng,
tạo ra sự khác biệt của sản phẩm CNTT Đài Loan giữa hàng trăm sản phẩm
CNTT trên thị trường thế giới.
Bài học 5: thận trọng trong phát triển thương hiệu để tránh những đứt gãy
đáng tiếc trong CCƯTC.Đài Loan đã gặp phải những đứt gãy đó khi đánh giá
không đúng tiềm năng thị trường thế giới về CNTT phần cứng, dẫn đến hiệu ứng
Bullwhip trong CCƯTC. Để tránh sự đứt gãy không đáng tiếc này, việc phát triển
các thương hiệu toàn cầu của các doanh nghiệp CNTT Đài Loan đã diễn ra hết
sức thận trọng . Do công nghệ trong ngành điện tử thay đổi rất nhanh, nên các
công ty xuyên quốc gia sẵn sàng chuyển giao những công nghệ không còn mới
nhất cho các nước đang phát triển để tập trung sức vào công nghệ mới. Bài học
rút ra là: cần cân nhắc về chiến lược đặt chuỗi cung ứng của mình như thế nào
để kiểm soát rủi ro và đạt được trạng thái cân bằng về lợi nhuận tiềm năng cho
các bên. Các giải pháp này bao gồm từ việc xác định chiến lược cơ bản về cung
ứng cho thị trường đến việc quyết định các chiến thuật phù hợp. Mặt khác, các
các doanh nghiệp CNTT Đài Loan dù có tiềm lực về tài chính dồi dào tới đâu
cũng khó tự mình xây dựng hoàn toàn riêng biệt một hệ thống chuỗi cung ứng,
mà cần phải hợp tác, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài khác.
4.3. Kiến nghị chính sách cho Việt Nam
Thứ nhất, chú trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành CNTT.
Để thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành CNTT, cần
thực hiện 4 nhóm giải pháp sau đây:
- Rà soát kỹ lưỡng và bổ sung các chính sách, giải pháp phát triển công nghiệp
hỗ trợ ngành CNTT, trong đó ưu tiên rà soát và bổ sung các chính sách, giải pháp
về thuế, đất đai, thủ tục hành chính nhập khẩu linh kiện, hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ
tiêu thụ sản phẩm, xúc tiến đầu tư…
- Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, thành lập các khu công nghiệp, các trung tâm
giao dịch chuyên về công nghiệp hỗ trợ ngành CNTT, tạo đầu mối, chương trình
liên kết và thông tin giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước với các doanh

- Xây dựng các viện nghiên cứu, ứng dụng và các tổ chức trong lĩnh vực
CNTT.
- Cần áp dụng mô hình đào tạo liên kết 3 bên: doanh nghiệp - viện, trường cơ quan quản lý nhà nước để đào tạo nguồn nhân lực tay nghề cao theo yêu cầu
của doanh nghiệp.
- Tích cực hợp tác nghiên cứu, thu hút chuyên gia nước ngoài chuyển giao,
hỗ trợ phát triển CNTT.
Thứ ba, phát triển các cụm liên kết ngành CNTT.
- Nhà nước cần có biện pháp quy hoạch tổng thể phát triển ngành CNTT, từ
đó xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, công viên công nghệ trọng
điểm để thu hút sự quy tụ, đầu tư của các doanh nghiệp, tạo ra sự liên kết, nâng
cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp CNTT.
- Hình thành các cụm công nghiệp điện tử (cluster): Hình thành các cụm công
nghiệp điện tử thúc đẩy sự quy tụ, đầu tư của các doanh nghiệp nhằm tạo ra sự
liên kết, nâng cao hiệu quả hoạt của các doanh nghiệp điện tử. Cần nghiên cứu
xây dựng chính sách, hỗ trợ thành lập cụm công nghiệp điện tử.
24


Thứ tư, chủ động phát triển mạnh các liên kết sản xuất trong nước và quốc tế
để kiểm soát được hoạt động của chuỗi cung ứng.
- Các doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm thông tin thị trường, ngành hàng
tiềm năng và các chuẩn mực quốc tế, trên cơ sở đó định hướng và xây dựng kế
hoạch phát triển dài hạn, tập trung hình thành một mảng sản xuất chuyên biệt
trong ngành công nghiệp điện tử toàn cầu.
- Các doanh nghiệp cần đẩy mạnh liên kết cả theo chiều ngang và chiều dọc.
- Tăng cường vai trò của các tổ chức ngành hàng trong ngành CNTT để kết
nối liên kết doanh nghiệp.
- Chủ động liên kết các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước
ngoài để sản xuất linh kiện, chi tiết, sản phẩm trung gian…
Thứ năm, coi trọng vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chú trọng xây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status