BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ HUY HOÀNG
THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC ĐẠI HỌC
(Tài liệu Bồi dưỡng Nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên dạy đại học, cao đẳng)
Hà Nội, tháng 12 năm 2008
MỤC LỤC
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC 3
1.1. Một số khái niệm cơ bản 3
1.2. Phân loại 3
1.3. Vai trò của phương tiện trong quá trình dạy học 4
1.4. Yêu cầu đối với phương tiện dạy học 5
1.5. Sử dụng phương tiện dạy học theo hướng tích cực hóa người học 5
2. SỬ DỤNG THIẾT BỊ NGHE NHÌN TRONG DẠY HỌC 8
2.1. Máy chiếu bản trong (Transparent Projector) 8
3. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC 13
3.1 Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 14
3.2. Thiết kế nội dung hỗ trợ bài dạy bằng phần mềm Microsoft PowerPoint 14
3.3. Sử dụng các phần mềm ứng dụng để thiết kế tài nguyên bài dạy 22
3.4. Khai thác và tìm kiếm thông tin trên Internet 23
3.5 Mô hình đào tạo e-learning 26
PHẦN THỰC HÀNH 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ LỤC A: Giới thiệu chung về phần mềm PowerPoint 41
PHỤ LỤC B: Xây dựng bài dạy trên mạng 45
PHỤ LỤC C: Giới thiệu về phần mềm Lectora 50
2
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Phương tiện dạy học
công nghệ thành phần này phải được kết hợp với nhau theo quan điểm hệ thống, nghĩa là chúng
phải tạo thành một hệ toàn vẹn trong sự tương tác lẫn nhau.
1.2. Phân loại
Có nhiều cách phân loại khác nhau tùy thuộc vào tiêu chí, dấu hiệu phân loại khác nhau.
Dưới đây xin giới thiệu một số cách phân loại phương tiện dạy học.
1.2.1. Theo tính chất của phương tiện dạy học
Theo tính chất, phương tiện dạy học được chia ra hai nhóm: phương tiện mang tin và
phương tiện truyền tin.
- Nhóm phương tiện mang tin là nhóm mà tự bản thân mỗi phương tiện đều chưa đựng một
khối lượng tin nhất định. Đó là các loại như tài liệu in, băng đĩa âm thanh hoặc cả âm thanh và
hình ảnh, tranh vẽ, phim ảnh, mô hình, vật thật v.v
3
- Nhóm phương tiện truyền tin là nhóm phương tiện được dùng để truyền tin tới học sinh
như hệ thống tăng âm, loa, micro; ti vi và các đầu đọc VIDEO, VCD, DVD; các loại máy chiếu
phim dương bản, máy chiếu qua đầu, máy chiếu đa phương tiện, máy vi tính v.v
1.2.2. Theo cách sử dụng phương tiện dạy học
Theo cách sử dụng, có thể chia phương tiện dạy học ra các loại:
- Phương tiện được dùng trực tiếp để dạy học, gồm hai loại nhỏ:
+ Phương tiện dạy học truyền thống: là những phương tiện đã được dùng từ xưa tới nay
trong dạy học như tranh vẽ, mô hình, vật thật,…
+ Phương tiện dạy học hiện đại: là những phương tiện dạy học mới được đưa vào nhà
trường như camera số, máy chiếu đa phương tiện,…
- Phương tiện được dùng để chuẩn bị và điều khiển lớp học, gồm các loại như:
+ Phương tiện hỗ trợ: giá đặt phương tiện, thiết bị ánh sáng,
+ Phương tiện ghi chép, in ấn,
1.2.3. Theo mức độ chế tạo phương tiện dạy học
Cách chia này căn cứ theo một số tiêu chí về cấu tạo, vật liệu, giá thành, tuổi thọ của thiết bị,
chia ra hai loại:
- Chế tạo đơn giản: cấu tạo đơn giản, vật liệu chế tạo rẻ tiền, giá thành thấp, thường có tuổi
thọ ngắn.
- Tỉ lệ kiến thức nhớ được sau khi học: 20% qua những gì mà ta nghe được; 30% qua những
gì mà ta nhìn được; 50% qua những gì mà ta nghe và nhìn được; 80% qua những gì mà ta nói
được; 90% qua những gì mà ta nói và làm được (Tô Xuân Giáp).
- Cũng theo Tô Xuân Giáp, ở Ấn độ, người ta cũng tổng kết: tôi nghe – tôi quên; tôi nhìn –
tôi nhớ; tôi làm – tôi hiểu.
Những số liệu trên cho thấy, để quá trình nhận thức đạt hiệu quả cao cần phải thông qua quá
trình nghe – nhìn và thực hành. Muốn vậy, phải có phương tiện (thiết bị, công cụ) để tác động và
hỗ trợ.
1.3.2. Vai trò đối với giáo viên
- Hỗ trợ hiệu quả cho giáo viên trong quá trình tổ chức các hoạt động nhận thức cho người
học bởi đảm bảo quá trình dạy học được sinh động, thuận tiện, chính xác.
- Rút ngắn thời gian giảng dạy mà vẫn bảo đảm người học lĩnh hội đủ nội dung học tập một
cách vững chắc.
- Giảm nhẹ cường độ lao động của giáo viên, do đó nâng cao hiệu quả dạy học.
1.3.3. Vai trò đối với người học
- Kích thích hứng thú học tập cho người học, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lĩnh hội
kiến thức của người học.
- Giúp người học tăng cường trí nhớ, làm cho việc học tập được lâu bền.
- Là phương tiện giúp người học hình thành và rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo cả thao tác trí
tuệ lẫn thao tác vật chất. Cung cấp thêm kiến thức, kinh nghiệm trực tiếp liên quan đến thực tiễn
xã hội và môi trường sống.
1.4. Yêu cầu đối với phương tiện dạy học
Để thực hiện tốt vai trò của mình, phương tiện phải đáp ứng được một số yêu cầu dưới đây:
- Phù hợp với nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp dạy học mới và khả năng lĩnh hội
của người học; - Đảm bảo tính nhân trắc học; - Dễ sử dụng, đảm bảo độ tin cậy cao, chắc chắn, có
độ bền cao; - Kích thước, màu sắc phù hợp; - Đảm bảo an toàn trong vận chuyển, bảo quản, sử
dụng; - Đảm bảo tính kinh tế; - Có tài liệu hướng dẫn cụ thể.
1.5. Sử dụng phương tiện dạy học theo hướng tích cực hóa người học
1.51. Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học
a) Đảm bảo an toàn: Đây là một nguyên tắc quan trọng khi sử dụng thiết bị dạy học. Các thiết
c) Đảm bảo tính hiệu quả
Bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ và trọn vẹn về nội dung dạy học (sử dụng kết hợp nhiều
loại phương tiện dạy học một cách có hệ thống, đồng bộ và trọn vẹn; các phương tiện dạy học
không mâu thuẫn, loại trừ nhau.
Phù hợp với đối tượng học sinh; với nhân trắc và tiêu chuẩn Việt Nam.
Bảo đảm sự tương tác trong hệ thống dạy học
"Nói hay chưa phải là dạy, chỉ xem chưa phải là học”.
Nói đến tương tác là nói đến sự “hợp tác”, “cộng tác”, tác động qua lại giữa giáo viên, học
sinh với các thành tố của quá trình dạy học.
Phương tiện dạy học dù có hiện đại đến đâu thì bản thân nó cũng không thể thay thế được
vai trò của giáo viên mà trước hết là phương pháp dạy học của họ. Ngược lại, phương pháp dạy
học của giáo viên cũng lại chịu sự qui định của điều kiện, phương tiện dạy học cụ thể. Vì vậy,
giữa các yếu tố nội dung, phương tiện, phương pháp dạy học có mối quan hệ tác động qua lại lẫn
nhau và với chủ thể học tập (người học). Mối quan hệ đó chính là sự “tương tác” chủ yếu giữa các
yếu tố của hệ thống dạy học. Sự tương tác đa chiều này tạo nên hiệu quả, chất lượng của quá trình
dạy học.
1.5.2. Cách sử dụng một số loại hình phương tiện dạy học
a) Tranh giáo khoa
Tranh giáo khoa là loại thiết bị đơn giản, gọn nhẹ, dễ sử dụng. Nó được thiết kế theo những
ý tưởng sư phạm và được thẩm định chặt chẽ. Hình vẽ được thiết kế cẩn thận, đẹp. Mầu sắc hài
hòa và thể hiện được những yếu tố cần nhấn mạnh. Để sử dụng có hiệu quả tranh vẽ, cần chú ý tới
một số yếu tố sau đây:
Sử dụng theo hướng coi tranh giáo khoa là “nguồn” thông tin: theo cách này, thay vì dùng
tranh giáo khoa để minh họa cho lời giảng của mình, giáo viên dùng nó như một nội dung học tập
và được thiết kế dưới dạng một hoạt động dạy học. Khi đó, người học sẽ được quan sát, được
6
hướng dẫn quan sát và biết rõ cần trả lời câu hỏi gì sau khi quan sát. Tùy thuộc vào đặc điểm của
người học mà giáo viên có thể yêu cầu người học ở các mức độ tìm tòi khác nhau như mô tả, liệt
kê, so sánh, phân tích, tìm tòi từng phần, sáng tạo với sự trợ giúp hợp lí từ phía giáo viên.
Động hóa các tranh tĩnh: tranh giáo khoa thường là tranh tĩnh và chứa đầy đủ thông tin về
Đây là loại thiết bị khá sinh động và có tính thực tiễn cao. Vật thật thường được sử dụng
trong các bài dạy về cấu tạo của đối tượng, thực hành trên đối tượng (thiết bị máy móc, vật nuôi,
cây trồng, ). Tuy nhiên, vật thật thường có mầu sắc không nổi bật, khó hoặc không thể hiện được
những nội dung bên trong, khó bảo quản và điều khiển theo ý muốn (nhất là đối với các sinh vật).
Bên cạnh đó, vật thật thường bao gồm cả những yếu tố không được đề cập trong nội dung học tập.
Do vậy, giáo viên cần định hướng người học quan sát, tìm hiểu về đối tượng một cách rõ ràng và
phù hợp với nội dung học tập hạn chế giải thích những yếu tố không thuộc nội dung học tập hiện
tại.
7
2. SỬ DỤNG THIẾT BỊ NGHE NHÌN TRONG DẠY HỌC
Các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại khá phong phú (máy chiếu bản trong, máy chiếu
phản xạ, máy chiếu slide, camera, tivi và đầu video, máy chiếu đa phương tiện ) và chúng
thường được sử dụng kết hợp với nhau. Ở đây chỉ bàn đến việc sử dụng một số phương tiện kỹ
thuật dạy học thông dụng.
2.1. Máy chiếu bản trong (Transparent Projector)
a) Công dụng
Còn được biết với tên gọi máy chiếu qua đầu (Overhead Projector) được dùng để phóng to
và chiếu văn bản, hình ảnh tĩnh có trên phim nhựa trong suốt lên màn hình phục vụ việc trình bày.
b) Cấu tạo chung và nguyên lý làm việc
- Cấu tạo
Các bộ phận chính gồm:
1. Hộp máy
2. Giá đỡ
3. Núm chỉnh tiêu cự
4. Hệ thống thấu kính
5. Bóng đèn
6. Gương cầu lõm
7. Quạt làm mát
8. Gương hắt
- Nguyên lý làm việc
photocopy ra bản trong).
Các phim sau khi được chế tạo cần được bảo quản nơi khô ráo, giữa hai phim cần đặt một
tờ giấy mềm nhằm tránh ẩm, hư hỏng nội dung đồng thời dễ nhận biết nội dung của các bản
trong
- Một số chú ý khi sử dụng
+ Xác định vị trí đặt và kiểm tra các chức năng của máy chiếu
+ Đảm bảo có bóng đèn thay thế khi cần thiết
+ Điều chỉnh độ nét và khuôn hình tối ưu
+ Chỉ bật máy lên khi bản trong đã được đặt vào ở vị trí ngay ngắn
+ Muốn thay bản trong, trước hết phải tắt máy
+ Sau khi đã bật máy, GV nên rời ra vị trí khác đảm bảo học sinh quan sát tốt nhất
+ Không quay lưng lại về phía học sinh
+ Sử dụng bút hay que chỉ để tập trung sự chú ý của học sinh vào nội dung trình bày.
+ Dành thời gian cho học sinh quan sát những nội dung trên màn chiếu.
Hình ảnh một số máy chiếu qua đầu
2.2. Máy chiếu phản xạ (Opaque Projector)
a) Công dụng
Dùng để chiếu phóng to các tài liệu in ấn và những mẫu vật nhỏ, mỏng lên màn hình phục vụ
việc trình bày.
b) Cấu tạo chung và nguyên lý làm việc
- Cấu tạo
1. Thân máy
2. Giá để tài liệu
3. Bóng đèn
4. Gương cầu lõm
5. Quạt làm mát
6. Gương phản xạ
7. Thấu kinh Hình
2.2: Cấu tạo máy chiếu phản xạ
- Nguyên lý làm việc
1. Thân máy
2. Bóng đèn
3. Gương cầu lõm
4. Hệ thống thấu kính
5. Quạt làm mát
- Nguyên lý làm việc
Ánh sáng phát ra từ bóng đèn được định hướng bởi gương cầu lõm 3, qua thấu kính thứ
nhất, xuyên qua tấm phim slide, qua thấy kính thứ hai phóng to và in hình trong slide lên màn
chiếu. Giống như máy chiếu bản trong, ánh sáng cũng xuyên qua tấm phim slide. Tuy nhiên, hệ số
phóng đại của máy chiếu slide lớn hơn rất nhiều. Do vậy, muốn ánh sáng thu được trên màn chiếu
như nhau thì cường độ ánh sáng khi xuyên qua slide phải rất lớn, điều này sẽ làm cháy phim. Để
đảm bảo an toàn cho phim slide, người ta chấp nhận giảm cường độ sáng ở màn chiếu. Khi đó,
phòng học sử dụng máy chiếu slide phải che tối hoàn toàn.
Một số máy chiếu slide
c) Sử dụng máy chiếu slide
- Phạm vi sử dụng
Dùng cho các bài dạy cần minh hoạ bằng các hình ảnh thực tế:
+ Hình ảnh về phân xưởng, qui trình công nghệ, hướng dẫn sử dụng, máy móc, chi tiết
10
4
3
1
2
5
+ Các nội dung có tính chất hướng nghiệp.
+ Báo cáo về các chuyến đi thực tế, tham quan học tập
+ Hình ảnh các nhà khoa học, các sự kiện, tài liệu lịch sử kỹ thuật.
- Chế tạo slide
+ Chuẩn bị vật liệu, thiết bị:
Máy ảnh: là loại máy ảnh chụp phim.
2. Các kính lọc mầu (Red; Green; Blue)
2. Các màn tinh thể lỏng
4. Khối lăng kính kết hợp ánh sáng
5. Khối thấu kính quang học
11
- Nguyên lí làm việc
Tín hiệu điện đưa vào từ các thiết bị khác nhau được máy chiếu nhận dạng và xử lí, kết quả
hình ảnh được đưa tới và hiển thị tại các màn tinh thể lỏng. Nguồn sáng sau khi tách và lọc thành
3 mầu cơ bản Red; Green; Blue xuyên qua các màn tinh thể lỏng. Sau đó, kết hợp lại bởi khối
lăng kính và đưa tới hệ thống các thấu kính tới màn chiếu thể hiện hình ảnh với mầu sắc và độ
phân giải phù hợp với tín hiệu đưa vào.
Hình ảnh máy chiếu đa phương tiện của một số hãng
Sony nec hitachi epson
c) Ngoại diện đặc trưng của máy chiếu đa phương tiện
Hầu hết các loại máy chiếu đa phương tiện đều có một số chức năng chính và được điều
khiển giống nhau. Khi xem xét kỹ ngoại diện đặc trưng thì có thể điều khiển được các máy chiều
khác. Dưới đây là một số điểm cơ bản
- Hệ thống đèn báo (LED)
+ TEM indicator: Báo hiệu khi nhiệt độ trong máy cao quá giới hạn cho phép.
+ LAM indicator: Báo hiệu tình trạng của bóng đèn.
+ POWER indicator: Báo hiệu trạng thái hoạt động của máy chiếu (power-on; standby và
chế độ shutdown)
- Bảng điều khiển (control panel)
+ STANBY/ ON button: chuyển đổi giữa hai chế độ power-on và standby.
+ MENU button: hiện hay ẩn menu điều khiển trên màn hình.
+ VOLUME button: thay đổi âm lượng của âm thanh.
+ ZOOM/ FOCUS button: chuyển đổi giữa hai chế độ ZOOM hoặc FOCUS. (những máy
đời mới không sử dụng các nút chức năng này mà sử dụng các vòng xoay ở trước ống kính
của máy)
+ UP/ DOWN button: thay đổi giá trị của các tham số đã được lựa chọn.
- Tuổi thọ bóng đèn (có các mức: 1000, 1500, 2000, 3000 giờ)
- Độ lớn đường chéo màn hình (độ lớn đường chéo của khuôn hình chiếu; thường từ 20 đến
300 inches)
- Trọng lượng (thường từ 2,5 đến 22 kg)
e) Phạm vi ứng dụng
- Thay thế hoàn hảo cho các loại máy chiếu khác.
- Dùng cho dạy, học các nội dung cần minh hoạ nhiều
- Kết hợp với máy tính, dùng để thể hiện những nội dung trong thực tế khó hoặc không thể
biểu diễn được.
f) Một số chú ý khi sử dụng
- Kết nối toàn bộ các đường điện, tín hiệu trong trạng thái không có điện
- Tránh di chuyển máy khi đang ở chế độ power-on
- Bật máy: Kết nối các đường tín hiệu, bật công tắc nguồn chính (nếu có) -> nhấn nút
Power trên control panel hay trên điều khiển từ xa và chờ cho tới khi hình xuất hiện. Nếu hình
không xuất hiện, kiểm tra lại nguồn tín hiệu được đưa vào và có thể thay đổi bằng cách nhấn lần
lượt nút Input (mode; sourse). Với máy tính xách tay, cần điều khiển thêm bởi tổ hợp phím Fn+Fk
(Fn là phím chức năng – Function; Fk là các phím từ F1 đến F12 tùy thuộc vào từng hãng máy.
VD máy Compaq: Fn+F4; Dell:Fn+F10 )
- Tắt máy: Không được phép rút dây nguồn cấp điện, tắt công tắc nguồn cho máy chiếu.
Làm như vậy, quạt làm mát bên trong máy ngừng hoạt động trong khi nhiệt độ của bóng đèn còn
rất cao có thể gây hỏng đèn và các bộ phận khác của máy. Muốn tắt máy thực hiện theo qui trình
như sau: Nhấn nút Power trên bảng điều khiển hay trên điều khiển từ xa -> đèn báo chuyển sang
một chế độ khác với ở chế độ standby hay power-on (tuỳ thuộc loại máy) -> chờ đến khi quạt làm
mát dừng quay, đèn báo chuyển về chế độ standby lúc đó với cắt nguồn cho máy.
- Trong quá trình dạy học, khi cần thiết có thể tạm cắt tín hiệu chiếu bằng nút pict mute
(shuter; blank với một số máy khác) hoặc chuyển về chế độ standby.
3. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC
13
3.1 Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Trong những năm gần đây, công nghệ thông tin được coi là một trong những ngành khoa
tin toàn cầu Internet. Đó chính là những tiền đề giúp giáo viên và học sinh dễ dàng chia sẻ và khai
thác thông tin cũng như xử lý chúng có hiệu quả.
Thứ hai, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học có thể hỗ trợ cho nhiều hình thức
dạy học khác nhau như dạy học giáp mặt (face to face); dạy học từ xa (distance learning); phòng
đào tạo trực tuyến (online training lab); học dựa trên công nghệ web (web based training); học
điện tử (e-learning) đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng cao của các thành phần khác nhau
trong xã hội.
Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học dẫn đến việc giao cho máy tính thực
hiện một số chức năng của người thầy giáo ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học. Nhờ
đó, có thể xây dựng những chương trình dạy học mà ở đó máy thay thế một số công việc của
người giáo viên Cách dạy này đã thể hiện nhiều ưu điểm về mặt sư phạm như khuyến khích sự
làm việc độc lập của học sinh, đảm bảo mối liên hệ ngược và cá biệt hoá quá trình học tập.
3.2. Thiết kế nội dung hỗ trợ bài dạy bằng phần mềm Microsoft PowerPoint
a. Một số khái niệm cơ bản
14
+ MS PowerPoint: Là phần mềm ứng dụng trong bộ phần mềm Office của Microsoft. Dùng để
thiết kế và trình chiếu thông tin. Đây là một phần mềm phổ biến được phát triển cho hệ điều hành
Microsoft Windows và Mac. Được sử dụng rộng rãi trong giới doanh nhân, các nhà giáo dục đào
tạo và được coi là một dạng phổ biến nhất của công nghệ trình diễn. Theo nhà sản xuất, có
khoảng 30 triệu trình diễn được tạo ra mỗi ngày.
+ Presentation (trình diễn): Là sản phẩm được tạo ra từ MS PowerPoint. Trong mỗi Presentation
cũng bao gồm các slide, chúng được sắp xếp theo một trình tự nhất định theo ý đồ của người thiết
kế.
+ Slide: Chứa đựng các thông tin trình diễn. Mỗi slide có thể chứa nhiều loại thông tin khác nhau
như chữ (text), hình ảnh (image), tranh vẽ (picture), âm thanh (sound), hình hình (animation),
phim (movie)
+ Trong quá trình trình diễn thông tin, các slide có thể được xuất hiện một các tự động hay tuân
theo sự điều khiển của người dùng.
+ Với khả năng chứa đựng nhiều dạng thông tin trong một slide, với các hiệu ứng Animation kết
hợp với khả năng tương tác với từng đối tượng trong slide , phần mềm này khá phù hợp trong
- Cấu trúc bài dạy phải chặt chẽ, lôgic. Thông tin ngắn gọn, cô đọng, được bố trí và trình bày một
15
cách khoa học phù hợp với tiến trình lên lớp
- Thể hiện đồng bộ và hợp lí các đối tượng đa phương tiện để hỗ trợ các hoạt động nhận thức.
- Bài dạy cần khuyến khích sự trao đổi giữa giáo viên và học sinh; tăng cường trao đổi, hợp tác
giữa các học sinh; khích lệ tư duy, hoạt động độc lập, sáng tạo
- Nội dung bài dạy phải cuốn hút, đảm bảo học sinh tập trung vào nội dung, lôgic của kiến thức.
- Sử dụng bài dạy đúng kế hoạch, tiến trình với tư thế, cử chỉ, điệu bộ, giọng nói, ánh mắt của
giáo viên hợp lý.
Một số định hướng cụ thể
A. Cấu trúc thể hiện bài dạy
Thực tiễn cho thấy, ý tưởng và con đường thể hiện ý tưởng là những yếu tố quan trọng ảnh
hưởng tới chất lượng bài trình bày. Về cấu trúc thể hiện ý tưởng, có thể thực hiện theo một vài
cách tiếp cận sau:
+ Sử dụng cấu trúc đã được thiết kế sẵn:
PP cho phép thiết kế một trình diễn mới theo một số thiết kế với những cấu trúc mẫu. Một
vài trong số đó là generic (kiểu chung); training (đào tạo); Bussiness plan (kế hoạch kinh doanh);
Brainstorming (phương pháp công não)
+ Sử dụng lưu đồ:
Cách tiếp cận này thường được sử dụng nhiều bởi tính đơn giản và logic của nó. Theo đó,
bài trình bày được bắt đầu bằng cách công bố tóm tắt những nội dung (vấn đề) chính cần trình
bày, kế đến là lần lượt từng vấn đề được đề cập và giải quyết. Sau mỗi vấn đề thường có những
tóm tắt và kết luận. Cuối cùng là các nội dung để kết thúc phiên trình bày.
+ Sử dụng cấu trúc hình sao
Phần 1: kích thích
Mục đích của phần này là đưa học sinh vào trạng thái bị kích thích, các em sẽ hưng phấn,
tích cực, chủ động chuẩn bị cho việc lĩnh hội tri thức được thuận lợi và hiệu quả. Có nhiều kỹ
thuật khác nhau để kích thích người học, dưới đây là một số biện pháp mang lại hiệu quả cao:
logic.
Phần 5: Kết luận và hoạt động
Những kết luận quan trọng của bài dạy, những hoạt động để vận dụng hay kiểm tra sự hiểu
biết của học sinh trên cơ sở những kết luận đó là những nội dung chính cần được thể hiện trong
phần này. Cũng tại đây, giáo viên có thể đưa ra các hoạt động bước đầu đánh giá mức độ đạt được
mục tiêu của bài dạy.
+ Sử dụng biểu đồ dạng xương cá:
Theo cách tiếp cận này, bài trình bày không trực tiếp đề cập tới thông điệp chính cần
truyền đi mà nó được bắt đầu với những thông tin hỗ trợ, trên cơ sở đó, dẫn dắt, liên hệ và đi tới
kết luận vấn đề chính cần đề cập.
+ Một số kỹ thuật đảm bảo thể hiện rõ vị trí nội dung trong cấu trúc
- Sử dụng các biểu tượng đồ hoạ
Kết quả
Thông tin hỗ trợ 1
Thông tin hỗ trợ 3
Thông điệp chính
Thông tin hỗ trợ 2
17
Với cách này, người học dễ dàng nhận diện nội dung đang đề cập ở vị trí nào trong cấu trúc
tổng thể về nội dung. Sẽ hiệu quả hơn khi các slide đó được kết nối với nhau thông qua hệ thống
các liên kết được tạo ra bởi các biểu tượng đồ hoạ.
- Sử dụng các ghi chú khi một chủ đề thể hiện trên nhiều slide
Với cách này, người học dễ dàng theo dõi và nắm bắt được những chủ đề mà nội dung của
nó được trình bày trong nhiều slide. Có thể biểu diễn bằng nhiều cách khác như đánh số thứ tự sau
tiêu đề 1,2,3 hay sử dụng thuật ngữ (tiếp) sau tiêu đề bắt đầu từ slide thứ 2 thể hiện chủ đề đó
B. Nội dung thông tin
Không thể và không nên đưa tất cả các thông tin cần trình bày với học sinh trên slide mà
chỉ đưa những thông tin ngắn gọn, những từ khóa quan trọng. Trên cơ sở những thông tin ấy, giáo
viên và học sinh trao đổi, đàm thoại, hoạt động để hiểu sâu, hiểu rõ vấn đề. Do vậy, trên một
slide không trình bày quá nhiều ý, sử dụng các câu ngắn gọn, súc tích, đơn giản và dễ nhớ. Để cho
thông tin một cách rõ ràng trên màn chiếu. Có thể tham khảo tiêu chuẩn dưới đây:
Khoảng cách từ người quan sát
tới màn chiếu (m)
3 6 9 12 15 18 21 24
Chiều cao tối thiểu của chữ (mm) 12 25 40 50 60 75 80 100
Cần chú ý rằng, chiều cao của chữ trên màn chiếu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như kiểu
chữ, cỡ chữ, khoảng cách từ máy chiếu tới màn chiếu, khả năng phóng to, thu nhỏ của máy
chiếu Do vậy, tuỳ thuộc vào phòng học và trang thiết bị cụ thể mà chọn kiểu chữ và cỡ cữ để đáp
ứng được tiêu chuẩn trên. Trong thực tế, nên chọn cỡ chữ tối thiểu 20pt cho kiểu chữ .vnArial hay
tương đương; tối thiểu 24pt cho kiểu chữ .vntime hay tương đương.
Còn về kiểu chữ, nên sử dụng các kiểu chữ không chân vì đây là kiểu chữ dễ đọc. Nên lựa
chọn và sử dụng không quá hai kiểu chữ nhằm đảm bảo tính cân bằng và nhất quán trong bài trình
bày. Hạn chế sử dụng chữ in hoa vì nó sẽ làm mất hình dạng của ký tự gây khó đọc cho người
quan sát. Ví dụ
Nên dùng kiểu CHỮ KHÔNG CHÂN
Không nên dùng kiểu chữ có chân, hình dạng phức tạp
KHÔNG NÊN SỬ DỤNG NHIỀU NỘI DUNG BẰNG CHỮ IN HOA
+ Đảm bảo độ tương phản:
Để nội dung thông tin trên màn chiếu rõ ràng, dễ đọc, cần đảm bảo nguyên tắc phối hợp
giữa mầu nền và mầu chữ. Đó là, nếu màu nền là mầu sáng thì mầu chữ sẽ là mầu tối và ngược
lại. Có thể tham khảo một số cặp mầu chữ - nền sau:
Mầu nền Mầu vàng Mầu trắng Mầu xanh Mầu trắng Mầu đen
Mầu chữ Mầu đen Mầu đỏ, Xanh Mầu trắng Mầu đen Mầu vàng
Trong thực tế, có hai phong cách trình bày
Một là, mầu nền tối, mầu chữ sáng. Cách chọn này đảm bảo độ tương phản tốt, tuy nhiên,
lớp học có thể bị tối, gây khó khăn cho học sinh ghi chép các nội dung, kiến thức chính
Hai là, mầu nền sáng, mầu chữ tối. Cách chọn này cũng đảm bảo độ tương phản tốt, lớp
học sáng, học sinh có thể ghi chép tốt. Tuy nhiên, mầu nền sáng trong một thời gian dài có thể gây
ức chế cho người học.
+ Xác định vùng hiển thị thông tin quan trọng:
3
4
5
20
+ Mầu sắc và cấu trúc thông tin trong slide nhất quán:
Không nên sử dụng quá nhiều mầu sắc trong một trình diễn (không quá 3 mầu), điều này
có thể khiến người học mệt mỏi. Cách bố trí các nội dung trong slide, mầu nền, mầu chữ nên trình
bày đồng bộ.
+ Hoạt hình các đối tượng trong slide:
Hoạt hình các đối tượng trong slide là cách thức làm cho từng thông tin hiển thị phù hợp
với tiến trình dạy học của người thầy. PowerPoint cung cấp rất nhiều hoạt hình rất sinh động và
hấp dẫn. Tuy nhiên, để định hướng người học tập trung vào nội dung trình bày, cần thiết sử dụng
các hoạt hình đơn giản, chân phương.
+ Nhấn mạnh các thông tin trong slide
Nhấn mạnh nội dung thông tin nào đó là một sức mạnh của PP và cũng là yêu cầu quan
trọng khi thể hiện thông tin trong giờ dạy. Có nhiều cách thức để nhấn mạnh một nội dung nào đó
như sử dụng chức năng hoạt hình (animation). Với chức năng này, có thể tác động tới các đối
tượng thông tin trong slide theo 4 cách khác nhau đó là: Entrance (xuất hiện); Emphasis (nhấn
mạnh); Exit (biến mất) và Motionpath (chuyển động tới một vị trí mới). Ngoài ra có thể nhấn
mạnh một nội dung nào đó theo một số kỹ thuật sau:
- Nhấn mạnh theo vị trí, hình (a)
- Nhấn mạnh theo mầu sắc, (b)
- Nhấn mạnh theo kích thước, (c)
- Nhấn mạnh bởi yếu tố đồ hoạ, (d)
CƠ CẤU TRUYỀN VÀ BIẾN ĐỔI
CHUYỂN ĐỘNG
Khai thác ý nghĩa
của
Các biểu tượng
+ Sử dụng các biện pháp gây phấn chấn đúng lúc:
Trạng thái tinh thần của học sinh như hứng thú, tích cực nhận thức sẽ đóng vai trò quan
trọng tới chất lượng giờ dạy. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới trạng thái tinh thần của các em như
cấu trúc bài giảng, ánh mắt, giọng nói, điệu bộ của giáo viên. Bên cạnh đó, có một vài biện pháp
giáo viên có thể áp dụng để gây phấn chấn cho học sinh là kể các câu chuyện; nêu các con số
thống kê, tạo sự so sánh, đặt các câu hỏi, bắt chước, tạo sự chờ đợi hồi hộp và sử dụng các hiệu
ứng đặc biệt như âm thanh, hoạt hình
+ Khai thác tối đa các phương pháp dạy học tích cực:
Ứng dụng CNTT trong dạy học sẽ không mang lại hiệu quả cao nếu trong giờ dạy không
khai thác được các phương pháp dạy học tích cực. Cần quán triệt tư tưởng này ngay từ khi thiết kế
bài dạy. Cụ thể hơn, trong trường hợp này, CNTT chỉ đóng vai trò là phương tiện hỗ trợ để thực
hiện thuận lợi hơn các phương pháp dạy học tích cực.
3.3. Sử dụng các phần mềm ứng dụng để thiết kế tài nguyên bài dạy
Để thiết kế bài trình bày hỗ trợ quá trình dạy học hiệu quả, bên cạnh một ý tưởng sư phạm
phù hợp, cần thiết phải được thể hiện qua hệ thống các tài nguyên phong phú, sinh động. Đó là
tranh ảnh, hoạt hình, âm thanh, phim Tài nguyên cho bài giảng có thể được tìm kiếm trên
Internet, chia sẻ giữa các đồng nghiệp hay tự xây dựng và xử lí bằng các công cụ tin học. Dưới
đây một số phần mềm đồ hoạ có thể sử dụng để tạo tài nguyên bài giảng.
a Nhóm các phần mềm đồ hoạ
Quan sát đầu tiên
Quan sát tiếp theo
Quan sát tiếp theo
Quan sát đầu tiên
Quan sát
đầu tiên
Quan sát tiếp theo
Quan sát tiếp theo
Quan sát đầu tiên
(a)
(b)
học sinh hình dung rõ hơn đối tượng cần truyền tải. Có rất nhiều phần mềm khác nhau hỗ trợ thiết
kế hoạt hình, một vài trong số đó là:
STT Phần mềm Mô tả tóm tắt
1
Microsoft Gif Animator
(miễn phí)
Phần mềm của hãng microsoft cho phép thiết
kế hoạt hình dưới dạng ảnh gif động rất
nhanh và đơn giản.
2
GIF Movie Gear
(phần mềm bản quyền)
Có tính năng giống với Microsoft Gif
Animator và thêm một số tính năng mới như
khả năng biên tập các frame, tối ưu hoá hoạt
hình
3
Flash
(phần mềm bản quyền)
Sản phẩn của flash là một chuẩn đồ hoạ trên
Internet. Phần mềm cho phép thiêt kế những
hoạt hình phức tạp, đẹp mắt, cho phép tương
tác với người dùng với một dung lượng khá
nhỏ.
4
SolidWorks
(phần mềm bản quyền)
Có thể dùng để tạo các chi tiết cơ khí, lắp ráp
thành vật thể lắp và mô phỏng hoạt động của
hệ thống đó. Phần mềm hỗ trợ kết xuất ra
đó tên của account chính là địa chỉ email. Cấu trúc chung của địa chỉ email có dạng:
UserName@DomainName!: ví dụ Anguyenvan@ hnue .edu.vn (Anguyenvan: được gọi là user
name; hnue.edu.vn: được gọi là Domain Name
User name và Password: Được dùng để truy cập vào account. Khi muốn nhận và gửi email
thông qua account đã tạo trước đó, người truy cập phải cung cấp đủ thông tin về User name và
Password.
Email Client: Tại máy tính của người dùng, có những chương trình dùng để soạn thảo,
nhận, gửi thư điện tử, những chương trình như thế được gọi là Mail Client. Một vài email client
có thể kể tới như Eudora, Pine và Outlook Express.
- Telnet: Telnet là một chương trình cho phép người dùng truy nhập vào một máy tính khác trên
Internet như là đang dùng trực tiếp máy tính đó. Với Telnet, người dùng có thể truy cập được vào
các máy phục vụ, khai thác các thông tin lưu trữ trong đó. Tuy nhiên, chỉ khi được phép của quản
trị mạng (administrator) người dùng mới có thể truy nhập được máy phục vụ thông qua dịch vụ
Telnet.
- FTP (File Transfer Protocol): Là một trong những phương pháp phổ biến dùng để truyền file
thông qua Internet. Một máy tính lưu trữ thông tin có thể truy nhập được thông qua FTP được gọi
là FTP Server. Muốn truy nhập được tài nguyên của FTP server, người dùng cũng cần phải có
user name và password.
- World Wide Web: WWW hay còn gọi là Web là một dịch vụ trên Internet cho phép truy nhập
hầu hết các loại tài liệu trên mạng Internet, trong đó bao gồm cả âm thanh, hình ảnh, phim. Nó
hiển thị thông tin một cách nhanh chóng và dễ dàng. Trong dịch vụ WWW, thông tin hiển thị là
trang web (web page). Một trang web có thể chứa: Văn bản Text, Hình ảnh, Âm thanh, Video
điều này dẫn tới thông tin trên mạng Internet thêm hấp dẫn và dễ xử lí. Để có thể sử dụng được
dịch vụ WWW, hai thành phần sau là không thể thiếu được:
+ Web Server và địa chỉ: Trang web có thể được khai thác tại bất cứ đâu trên mạng Internet và nó
được đặt tại một máy tính đặc biệt được gọi là Web server. Mỗi một web server có một địa chỉ
24
duy nhất trên Internet. Định dạng chung của một địa chỉ web như sau:
www.nameofsite.typeofsite.countrycode. ví dụ: www. hnue .edu.vn
+ Browser (Trình duyệt):
- http://www.snap.com
- http://www.objectssearch.com
- http://www.vinaseek.com
+ Một số thủ thuật tìm kiếm với google
- Tìm kiếm định nghĩa: Trên mạng, có rất nhiều định nghĩa thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau được
đưa ra bởi nhiều tác giả khác nhau. Để tìm kiếm định nghĩa, thêm từ khóa “DEFINE:” trước từ
cần tìm. Ví dụ: muốn tìm định nghĩa về UNICEF, nhập cụm từ sau vào ô tìm kiếm:
“define:UNICEF”
- Giới hạn vùng tìm kiếm theo quốc gia: mỗi trang web thường đều có các kí tự cuối trong tên
miền thể hiện mã của một Quốc gia. ví dụ .vn (Việt Nam); .uk (Vương quốc Anh); fr (Cộng hòa
pháp) Để giới hạn vùng tìm kiếm, ta dùng từ khóa: “LOCATION”. Ví dụ: “Computer in
Education LOCATION:uk”
25