TIỂU LUẬN QUẢN lý CHẤT LƯỢNG TRONG xây DỰNG - Pdf 54

MỤC LỤC

Mục lục

1

Mở đầu

3

I. Các khái niệm

5

1. Khái niệm về khu đô thị

5

2. Khái niệm về chung cư

5

3. Khái niệm về dịch vụ nhà chung cư

7

3.1. Khái niệm về dịch vụ

7

3.2. Khái niệm về dịch vụ nhà chung cư

1. Thực trạng mô hình quản lý

11

2. Thực trạng giải pháp quản lý

12

2.1 Thực trạng giải pháp quản lý đường nội bộ

12

2.2 Thực trạng giải pháp quản lý rác thải

12

2.3 Thực trạng giải pháp quản lý hệ thống cấp nước

13

2.4 Thực trạng giải pháp quản lý hệ thống thoát nước

14

2.5 Thực trạng giải pháp quản lý hệ thống điện

16

3. Sự tham gia của cộng đồng



22

5.2. Quản lý vấn đề cấp nước

22

5.3. Quản lý vấn đề thoát nước

22

5.4. Quản lý thu gom rác, chất thải

23

5.5. Quản lý chống ô nhiễm không khí, bụi, tiếng ồn

23

5.6. Các biện pháp khác

23

Kết luận

24

2



chung cư 5-6 tầng được xây dựng mới, chủ yếu phục vụ công tác tái định cư, giải phóng
mặt bằng. Trong đó, cùng với những thành công của cả nước trong công tác xây dựng và
quản lý nhà chung cư cao tầng, đầu quí I-2004 Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và Đô
thị đã đưa vào vận hành 20 khối nhà chung cư cao tầng với tổng số 1.764 căn hộ.
Cùng với công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng thì công tác quản lý sau đầu tư đặc
biệt là công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật luôn là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa sống
3


còn đối với các khu đô thị. Kiểm điểm lại công tác quản lý sau đầu tư đối với hệ thống hạ
tầng kỹ thuật tại các khu đô thị trong những năm gần đây cho thấy, hầu như công tác này
chưa được chú trọng, quan tâm một cách đúng mức. Nhiều khu đô thị của Thành phố đều
có dấu hiệu xuống cấp nhanh chóng mặc dù thời gian đưa vào sử dụng chưa lâu. Có nhiều
nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên nhưng theo nhìn nhận khách quan thì nguyên nhân
chủ yếu là do công tác quản lý sau đầu tư tại các khu đô thị này chưa thực sự được chú
trọng.

4


I. CÁC KHÁI NIỆM:
1. Khái niệm về khu đô thị:
- Theo định nghĩa chung:
Đô thị hay khu đô thị là một khu vực có mật độ dân số cao và mật độ gia tăng các công
trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó. Đô thị bao gồm
thành phố, thị xã, trung tâm dân cư đông đúc nhưng thuật từ này thông thường không mở
rộng đến các khu định cư nông thôn như làng, xã, ấp.
Các đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá trình đô thị hóa. Đo đạt tầm rộng
của một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự mở rộng đô thị, và biết
được các số liệu về dân số nông thôn và thành thị.

truyền hình, thoát nước, bể phốt, thu lôi, cứu hoả và các phần khác không thuộc sở hữu
riêng của căn hộ nào;
+ Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài nhưng được kết nối với nhà chung cư đó.
* Phân loại chung cƣ:
Tại Hội nghị quốc tế về Kiến trúc năm 1972, nhà cao tầng (cao ốc) được phân thành 4
loại như sau:
+ Nhà cao tầng loại 1: 9~16 tầng ( cao nhất không quá 50 m).
+ Nhà cao tầng loại 2: 17~25 tầng ( cao nhất không quá 75 m).
+ Nhà cao tầng loại 3: 26~40 tầng ( cao nhất không quá 100 m).
+ Nhà cao tầng loại 4: > 40 tầng ( cao hơn 100 m).
- Về mặt sử dụng, chung cư cao ốc có 3 loại hình:
+ Cao ốc chỉ có căn hộ (chung cư đơn thuần).
+ Cao ốc hỗn hợp: mấy tầng dưới mở rộng làm cửa hàng, các tầng trên hình tháp gồm
các căn hộ.
+ Cao ốc đa năng: gồm có cửa hàng, văn phòng và căn hộ.
- Về mặt sở hữu, chung cư phân thành hai nhóm:
+ Chung cư cho thuê thuộc một chủ sở hữu
+ Chung cư sở hữu chung có nhiều chủ sở hữu.
Chung cư cao ốc sở hữu chung là dạng chung cư hiện đang được phát triển mạnh mẽ
tại nhiều đô thị nước ta.
- Nhà ở chung cư cao tầng tại Hà Nội: bao gồm nhà ở chung cư cao tầng thuộc sở hữu
nhà nước và nhà ở chung cư cao tầng thuộc khu đô thị mới.
+ Nhà ở chung cư cao tầng thuộc sở hữu nhà nước: xây dựng chủ yếu trong thời kỳ
thực hiện ở cơ chế bao cấp nhà ở. Đây là giải pháp để giải quyết nhu cầu bức bách về chỗ
ở cho người dân đô thị.
+ Nhà ở chung cư cao tầng tại các dự án xây dựng khu đô thị mới: được xây dựng để
bán hoặc cho thuê.

6


Đặc thù của công tác quản lý và cung cấp dịch vụ tại các chung cư là nhà cung cấp
dịch vụ bắt buộc phải cung cấp dịch vụ khi khách hàng đang có quyền sử dụng các căn hộ
trong khối nhà nhà cao tầng đó, nhưng làm thế nào để đáp ứng đa dạng các yêu cầu của
khách hàng là yếu tố rất quan trọng, điều đó đòi hỏi nhà cung cấp dịch vụ phải xây dựng
7


được chính sách dịch vụ đồng bộ và khoa học đáp ứng được tương đối các đối tượng
khách hàng. Bên cạnh đó không thể thiếu được những nội quy cam kết của nhà cung cấp
dịch vụ và khách hàng khi sinh sống và được sử dụng dịch vụ sau bán hàng tại các căn hộ
mà khách hàng đã mua.
- Cường độ công việc :
Vì nhân dân sinh sống tại các chung cư có cuộc sống bình thường như các hộ gia đình
khác, nên cường độ làm việc của nhân viên phục vụ dịch vụ tại các chung cư là rất cao,
phải đảm bảo cho dịch vụ hoạt động 24/24h điều đó đòi hỏi số lượng nhân viên tương đối
lớn mới có thể đáp ứng được công tác phục vụ.
- Sự đáp ứng khách hàng :
Khi khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ, họ không hề phân tích ra nhiều mặt. Họ
xét đoán cả cụm tổng thể, họ hình dung ra một ấn tượng chung và ít khi lưu ý đến mặt khá
trên một số phương diện cụ thể. Thậm chí khách hàng thường có xu hướng tập trung vào
khâu yếu nhất trong cả một chuỗi chất lượng và rồi họ sẽ chê bai toàn bộ dịch vụ. Do vậy,
điều quan trọng nhất trong chính sách chất lượng dịch vụ để làm thỏa mãn khách hàng là
phải đảm bảo độ đồng đều ở mức cao nhất giữa các yếu tố và tính nhất quán giữa khách
hàng. Vì vậy một dịch vụ thường sẽ thuận lợi hơn nhiều nếu như khách hàng nhận ra rằng
dịch vụ đó cũng được cung cấp tương tự như mình đối với khách hàng khác.
4. Khái niệm về chất lƣợng dịch vụ:
4.1. Các quan niệm về chất lƣợng:
- Theo tiêu chuẩn CLQT (ISO): Chất lượng của sản phẩm là sự không hỏng và những
tính chất thỏa mãn mong muốn của khách hàng.
- Theo quan niệm quản lý chất lượng đồng bộ: Chất lượng là tổng thể các đặc điểm,

doanh nghiệp mà chất lượng các sản phẩm và dịch vụ đó sẽ góp phần làm nên chất lượng
sản phẩm và dịch vụ cuối cùng của doanh nghiệp.
- Đội ngũ quản lý doanh nghiệp: đây chính là những người góp phần quyết định đến
việc nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Kinh nghiệm chỉ cho thấy rằng
80% các vấn đề về chất lượng đều xuất phát từ quản lý.
- Người lao động: những người trực tiếp tác động đến chất lượng. Họ thường xuyên
hàng ngày, hàng giờ đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ sản xuất ra đáp ứng nhu
cầu của khách hàng. Nghiên cứu chỉ cho thấy rằng hầu hết các vấn đề về chất lượng thì
người lao động trực tiếp gây nên chiếm khoảng 20%.
- Các yếu tố khác: nguyên vật liệu, công nghệ, quy trình sản xuất và máy móc thiết bị.
4.3. Chất lƣợng dịch vụ:
Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa và đo lường chất
lượng dịch vụ. Lấy ví dụ, Lehtinen & Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ phải
được đánh giá trên hai khía cạnh: quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ.
Gronroos (1984) cũng đề nghị hai thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là: chất lượng
kỹ thuật, đó là những gì mà khách hàng nhận được và chất lượng chức năng, diễn giải
dịch vụ được cung cấp như thế nào.

9


Tuy nhiên, khi nói đến chất lượng dịch vụ, chúng ta không thể nào không đề cập đến
đóng góp rất lớn của Parasuraman & ctg (1988, 1991). Parasuraman & ctg (1988, trang
17) định nghĩa chất lượng dịch vụ là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu
dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”. Các tác giả này đã khởi
xướng và sử dụng nghiên cứu định tính và định lượng để xây dựng và kiểm định thang đo
các thành phần của chất lượng dịch vụ (gọi là thang đo SERVQUAL). Thang đo
SERVQUAL được điều chỉnh và kiểm định ở nhiều loại hình dịch vụ khác nhau. Cuối
cùng thang đo SERVQUAL bao gồm 22 biến để đo lường năm thành phần của chất lượng
dịch vụ, đó là: độ tin cậy (reliability), tính đáp ứng (responsiveness), tính đảm bảo

cả hai hệ thống hè trên đều được bàn giao cả cho UBND Phường sở tại để quản lý về mặt
hành chính. Như vậy, sẽ dẫn đến tình trạng chồng chéo, thiếu kiểm soát, các đơn vị sẽ đổ
lỗi cho nhau hoặc trốn tránh trách nhiệm khi có sự cố xảy ra. Ngoài ra các hệ thống khác
như: cấp nước, thoát nước, cấp điện, mạng điện thoại, truyền hình, hệ thống PCCC,...Đều
được bàn giao cho các đơn vị chuyên ngành khai thác và đồng quản lý với các tổ chức
này là đơn vị quản lý nhà. Sự phối hợp cũng như mô hình quản lý của các đơn vị này
chưa thực sự mang lại hiệu quả, mỗi ngành, mỗi cơ quan chỉ biết thực hiện xong nhiệm
vụ của mình mà không suy xét đến lợi ích chung, công tác quản lý phân tán, chưa tập
trung vào một đầu mối, thiếu tính đồng nhất.
Đối với mô hình quản lý của UBND các phường chưa thật sự chuyên nghiệp, lực
lượng chuyên môn mỏng trong khi lại phải giải quyết một khối lượng cộng việc lớn nên
không thể đáp ứng được nhu cầu hiện tại.
Các tổ chức quản lý có sự tham gia của cộng đồng do các UBND phường sở tại lập
lên, đa số chỉ mang tính hình thức, không có sự kết nối, liên kết chặt chẽ và chưa phát huy
được hết nội lực trong dân.
Đối với mô hình quản lý của đơn vị quản lý nhà mới chỉ dừng lại ở công tác quản lý
tòa nhà chứ chưa thật sự chú trọng đến hệ thống hạ tầng của cả khu. Thậm chí đơn vị này
cũng chưa góp tiếng nói cũng như tham mưu cho các đơn vị cấp trên về các vướng mắc
trong khâu quy hoạch, quản lý, kế hoạch nâng cấp kịp thời các hệ thống hạ tầng. Ví dụ:
Rất nhiều khu đô thị ở Hà Nội khi lập quy hoạch và phê duyệt tổng mức đầu tư đều thiếu
máy phát điện dự phòng, thiếu chợ dân sinh, hệ thống giao thông tĩnh chưa phù hợp,...
Nắm được những bất cập đó nhưng đơn vị quản lý nhà vẫn chưa có một động thái tích
cực nào nhằm khắc phục vấn đề trên gây nhiều bức xúc cho cư dân sinh sống tại khu vực.
Mô hình quản lý chồng chéo nêu trên đã gây tác hại không nhỏ đến công tác vận hành
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Nếu như mô hình quản lý được tập trung, một đầu mối chính
thì chắc chắn các hệ thống này sẽ phát huy tối đa công năng cũng như tăng tuổi thọ phục
vụ cho người sử dụng.
11




12


Hình 1: Trạm biến áp thành bãi rác- Khu đô thị Trung Hoà-Nhân Chính
Chính vì các giải pháp không có chiều sâu như vậy nên sức khỏe người dân không
được đảm bảo và tình trạng rác thải tràn lan, nguyên vật liệu, phế thải xây dựng bừa bãi
vẫn song hành cùng quá trình sử dụng các khu tái định cư.
2.3 Thực trạng giải pháp quản lý hệ thống cấp nước:
Hệ thống cung cấp nước tại các khu đô thị ở Hà Nội đang rơi vào tình trạng thất thoát
vượt quá con số cho phép (>30%). Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do quá
trình phân cấp quản lý không tập trung và phương pháp quản lý kém hiệu quả của các đơn
vị có liên quan. Sau khi công trình được bàn giao đưa vào sử dụng, hệ thống cấp nước
sinh hoạt được bàn giao cho hai đơn vị: Đơn vị quản lý nhà (Quản lý, vận hành máy bơm,
bể chứa nước ngầm và bể trên mái), Đơn vị quản lý chuyên ngành, kinh doanh
nước (Quản lý hệ thống đường ống cấp nước và thu tiền theo đồng hồ của từng hộ).
Phương pháp quản lý của đơn vị Kinh doanh nước sạch là hàng tháng đi thu tiền thông
qua các đồng hồ tại các căc hộ và kiểm tra định kỳ các hệ thống đường ống. Nhưng trên
thực tế, tình trạng thất thoát nước và chất lượng nước vẫn không được đảm bảo, nguyên
nhân là do hai đơn vị đồng quản lý nhưng chưa tìm được tiếng nói chung về mô hình cũng
như phương pháp quản lý. Cụ thể, đơn vị Kinh doanh nước sạch chỉ được phép thu tiền
theo đồng hồ của từng hộ dân, còn lưu lượng nước theo đồng hồ tổng của cả tòa nhà
13


thường cao hơn nhiều so với tổng của các đồng hồ của từng hộ. Bên cạnh đó, đơn vị quản
lý nhà do lực lượng chuyên môn còn thiếu, yếu nên khi vận hành máy bơm đã không
kiểm tra sát sao dẫn đến tình trạng nước tràn lan trên bể nước mái. Thậm chí có một vài
nơi còn để cho một bộ phận không nhỏ người sử dụng, đặc biệt là các hộ kinh doanh cá
thể ở tầng 1 lấy nước trực tiếp từ bể ngầm gây thất thoát một lượng nước đáng kể và ảnh

Hình 3: Rãnh thoát nước- Khu đô thị Trung Hoà-Nhân Chính

15


Hình 4: Hệ thống thoát nước để “ lộ thiên” ở khu đô thị Hoàng Mai
2.5 Thực trạng giải pháp quản lý hệ thống điện:
Đối với các chung cư hiện nay, ngoài việc đảm bảo ổn định nguồn điện sinh hoạt hàng
ngày, phục vụ nhu cầu sử dụng cá nhân, bắt buộc phải trang bị hệ thống máy phát điện dự
phòng nhằm giải quyết những trường hợp khẩn cấp nhất. Không chỉ tính toán hợp lý
lượng điện tiêu thụ của từng hộ gia đình, hầu hết các hoạt động trong chung cư đều liên
quan đến điện gần như 24/24 như: hệ thống thang máy, chuông báo động, máy bơm nước,
hệ thống máy nước nóng – lạnh… Nếu có bất kỳ sai sót nào trong tính toán, mọi hoạt
động tại chung cư đều bị trì trệ, gây ảnh hưởng rất lớn đến hàng nghìn hộ dân đang sinh
sống và làm việc tại đây. Theo thống kê, một số nguyên nhân hỏa hoạn tại chung cư đa
phần bắt nguồn từ việc chập mạch điện. Do một số yếu tố khách quan và chủ quan trong
khâu thiết kế và thi công, các công trình điện đã không được lắp đặt theo đúng tiêu chuẩn
16


an toàn, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc gây thiệt hại to lớn về người và của.Tuy nhiên,
không phải ở chung cư nào việc quản lý và sử dụng điện cũng được quan tâm một cách
đúng đắn.
Ở Hà Nội, một số chung cư sau một thời gian đi vào hoạt động, hệ thống dây điện vốn
được nằm sâu trong trần nhà đã trùng xuống nhằng nhịt. Các hộ dân phải căng một tấm
vải nhựa để phòng khi dây điện đứt.
Ở chung cư Văn Quán, những tủ điện trung chuyển từ nguồn đến các đồng hồ gia đình
hoàn toàn không có khóa, bên trong chứa đầy cầu dao điện, nằm cách mặt đất chỉ khoảng
0,5 m.


phương pháp thủ công, truyền thống. Chính vì lẽ đó công tác quản lý của chính quyền địa
phương chưa được chuyên môn hóa và hiện đại hóa, chỉ dừng lại ở cục bộ, sự vụ, nhỏ lẻ.
4. Đánh giá thực trạng các khu đô thị tại Thành phố Hà Nội:
Thông qua các khu tái định cư tại Hà Nội, chúng ta dễ dàng nhận thấy một thực tế rất
đau xót. Những khu đô thị mới được đầu tư xây dựng đang nhanh chóng xuống cấp, hệ
thống quản lý yếu kém, chồng chéo không hiệu quả là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình
trạng đáng buồn trên.
Tình trạng "Cha chung không ai khóc" xảy ra khá phổ biến, công tác quản lý chồng
chéo, lực lượng cán bộ yếu và thiếu không dám đấu tranh những hành vi sai trái gây ảnh
hưởng đến chất lượng của kết cấu hạ tầng kỹ thuật. Bên cạnh các lý do về quản lý, sử
dụng sau đầu tư thì công tác quy hoạch các khu này cũng còn nhiều hạn chế. Có nhiều
khu đô thị được lập và phê duyệt với hàng vạn m2 sàn, sức chứa vài nghìn người nhưng
trong quy hoạch còn thiếu sót không có các hệ thống hạ tầng kỹ thuật cũng như xã hội cần
thiết như chợ, trường, điểm giao thông tĩnh, hệ thống thu gom rác thải tập trung, cây
xanh,... hoặc có nhiều trường hợp dân có nhà nhưng chưa có nhu cầu sử dụng nên đã tự ý
cho thuê làm văn phòng của các cơ quan, đây cũng là một trong những bất cập dẫn đến sự
xuống cấp nhanh của Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị. Bởi vì, công năng tính toán của hạ
tầng kỹ thuật đô thị nói chung và hạ tầng kỹ thuật nói riêng chỉ phù hợp với các hộ gia
đình và dựa trên số người sinh sống tại khu đó. Nên khi có sự thay đổi về số lượng người
sử dụng đã nảy sinh những tác động tiêu cực không nhỏ đến tuổi thọ, kết cấu của các
công trình hạ tầng. Những bất cập trên phần nhiều nằm ở sự yếu kém trong công tác quản
lý của các đơn vị có liên quan, ý thức sử dụng của người dân trong khu vực và là thiếu sót
18


của khâu quy hoạch từ đó là tiền đề nảy sinh các vấn đề phức tạp trong quá trình quản lý
sau đầu tư.

Hình 6: Trụ cứu hoả ngoài nhà- Khu đô thị Trung Hoà-Nhân Chính


lại trong phạm vi quản lý của UBND Phường theo phân cấp của UBND Thành phố.
3. Tăng cƣờng quyền hạn cho cán bộ thuộc UBND phƣờng trong việc thực hiện giám
sát xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch:
Đẩy mạnh vai trò của các cán bộ thông qua hệ thống văn bản pháp luật, Nghị định,
Thông tư, các văn bản quy định của địa phương. Trong công tác thanh tra, kiểm tra, giám
sát và xử lý các vi phạm thì trong tổ kiểm tra làm việc đó nhất thiết phải có sự góp mặt
của cán bộ Phường. Chính việc đó sẽ nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ của Phường đồng
thời cũng thể hiện được vai trò quản lý của cơ quan quản lý cấp cơ sở.
4. Nâng cao trách nhiệm cho các cán bộ Phƣờng thông qua giải pháp tài chính:
Để phát huy có hiệu quả sức mạnh nội lực trong quản lý thì cần thiết có giải pháp tài
chính hữu hiệu. Lãnh đạo UBND Phường lập phương án đề xuất lên đơn vị quản lý cấp
trên để có quỹ khen thưởng đảm bảo công khai, minh bạch và đặc biệt phải công bằng.
Bên cạnh đó cũng phải có phương án bổ sung, điều chỉnh phụ cấp, đề xuất điều chỉnh hệ
số lương cho thật phù hợp với mức độ công việc và điều kiện thực tế. Chính đó là nguồn
21


động lực thiết thực để họ yên tâm công tác, gắn bó với đơn vị, gắn bó với công việc được
giao, đề cao trách nhiệm và tránh tình trạng tiêu cực trong quá trình thanh tra-kiểm tra-xử
lý vi phạm.
5. Nâng cao chất lƣợng dịch vụ kỹ thuật hạ tầng:
5.1. Cải tạo cảnh quan kiến trúc.
Để tạo các không gian đẹp và là nơi vui chơi giải trí của khu ở, trước hết cần dọn sạch
các bãi chứa rác, các công trình xây dựng lấn chiếm trong khu... Tiếp theo, nên thiết kế
cải tạo xây dựng thành sân vườn phục vụ vui chơi giải trí cho nhân dân trong khu chung
cư. Công việc này gặp rất nhiều khó khăn về kinh phí đấu tư như giải toả các chợ cóc,
quầy bán... vì vậy, việc đầu tiên là ban quản lý nên tích cực tuyên truyền vận động người
dân nhận thức được vấn đề, thuyết phục họ tham gia đóng góp công lao động cũng như
một phần kinh phí kết hợp với nhà nước và chính quyền địa phương, theo phương thức
nhà nước và dân cùng làm. Hơn nữa, mặt ngoài của nhà ở trong khu chung cư cũng cần

Việc thu gom vẫn dùng xe gom gõ kẻng là chính, nhưng với 2 xe khác nhau để phân
loại vô cơ và hữu cơ. Có thể kết hợp thu gom thủ công với xe cơ giới rồi vận chuyển đến
nơi xử lý như mô hình ở Thanh Xuân đang thực hiện. Về lâu dài, cần thực hiện mô hình
tự quản của khu dân cư, hoặc xã hội hoá thu gom rác thải như một số nơi đã thực hiện.
5.5. Quản lý chống ô nhiễm không khí, bụi, tiếng ồn:
Giải pháp hạn chế chủ yếu: Tổ chức thông gió hợp lý cho các căn hộ trong chung cư
như: ống khói, chụp hút khói, mùi trong bếp và khu vệ sinh, có sử dụng quản hút, chuyển
dần sử dụng từ đun than củi sang đun điện hoặc ga, các thùng rác cần có nắp đạy kín. Hơn
nữa, nên trồng nhiều cây xanh tạo thành vành đai cây xanh xung quanh khu để ngăn bụi,
tiếng ồn và khí độc hại từ các khu công nghiệp. Có các biện pháp hạn chế, đưa ra ngoài
khu ở các hộ và cơ sở sản xuất thủ công nghiệp, kiểm soát chặt chẽ tiếng ồn đối với các
nhà hàng.
5.6. Các biện pháp khác:
Bên cạnh đó, để đảm bảo an toàn và đáp ứng nhu cầu sử dụng phải bố trí đủ điện tổng
cung cấp chiếu sáng cho toà nhà và phải có thiết bị đóng, ngắt tự động. Ban quản lý cũng
nên sử dụng hệ thống các thông tin liên lạc và truyền thanh để cập nhật thông tin tới từng
căn hộ.
Vấn đề cần được quan tâm nữa là: Lắp đặt hộp vòi chữa cháy, chờ chữa cháy và bình
bọt chữa cháy ở mỗi tầng tại các sảnh cầu thang.

23


KẾT LUẬN
Hiện nay, việc xây dựng nhà ở chung cư cao tầng tại các đô thị, đặc biệt là các đô thị
lớn như Hà Nội là một xu hướng tất yếu nhằm tiết kiệm đất đô thị và ứng với sự phát triển
của những đô thị hiện đại, giải quyết tốt các vấn đề nhà ở thoả mãn những nhu cầu về chỗ
ở của đông đảo nhân dân ở Hà Nội. Phát triển nhà ở chung cư cao tầng bên cạnh việc việc
có đủ tiện nghi cần thiết, được cung cấp dịch vụ đồng bộ còn đòi hỏi được quản lý vận
hành tốt (có chủ quản lý thực sự). Đó cũng là chủ trương của Đảng, Chính phủ được bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status