BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HOÁ THỂ THAO VÀ DU LỊCH
HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM
-------------------------
NGUYỄN THỊ LOAN
BỔ SUNG MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÒA ÂM
THẾ KỶ XX VÀO CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY TẠI
HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: ÂM NHẠC HỌC
MÃ SỐ: 62 21 02 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ÂM NHẠC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Phạm Tú Hương
HÀ NỘI - 2019
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng
được bảo vệ ở bất kỳ học vị nào, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tiểu kết chương 1............................................................................................................................39
CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ HOÀ ÂM THẾ KỶ XX VÀ VIỆC GIẢNG DẠY HOÀ ÂM
THẾ KỶ XX Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI............................................................42
2.1 Khái quát về hoà âm thế kỷ XX..................................................................................................42
2.1.1 Một số dạng điệu thức thường gặp trong hoà âm thế kỷ XX............................................44
2.1.2 Một số dạng cấu trúc hợp âm - chồng âm thường gặp trong hoà âm thế kỷ XX.............61
2.1.3 Một số thủ pháp hoà âm thường gặp trong âm nhạc thế kỷ XX.......................................76
2.2 Khảo sát việc dạy hoà âm thế kỷ XX ở một số cơ sở đào tạo âm nhạc trên thế giới...............85
2.2.1 Một số nhạc viện ở Mỹ.......................................................................................................85
2.2.2 Một số nhạc viện ở Châu Âu và Châu Á.............................................................................94
Tiểu kết chương 2..........................................................................................................................101
CHƯƠNG 3 THỬ NGHIỆM GIẢNG DẠY HOÀ ÂM THẾ KỶ XX CHO SINH VIÊN
ĐẠI HỌC TẠI HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM....................................103
3.1. Cơ sở lý luận............................................................................................................................103
3.2. Dự kiến bổ sung một số kiến thức hoà âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy môn hoà
âm trình độ đại học tại HVANQGVN..............................................................................................105
3.2.1 Tiêu chí lựa chọn nội dung kiến thức để đưa vào chương trình.....................................105
iii
3.2.2 Thời lượng và nội dung chương trình bổ sung................................................................106
3.2.3 Nội dung chương trình chi tiết.........................................................................................111
3.2.4 Giáo trình..........................................................................................................................118
3.3. Phương pháp giảng dạy và phương pháp kiểm tra đánh giá................................................119
3.3.1 Phương pháp giảng dạy....................................................................................................119
3.3.2 Phương pháp kiểm tra đánh giá.......................................................................................122
3.4 Thực nghiệm sư phạm.............................................................................................................124
Nghệ sĩ nhân dân
NSƯT:
Nghệ sĩ ưu tú
NS:
Nghệ sĩ
Nxb:
Nhà xuất bản
LSC:
Lý Sáng Chỉ
PL:
Phụ lục
PGS:
Phó Giáo Sư
Tr:
Trang
Dùng để chỉ các quãng tăng, hợp âm tăng
Ký hiệu - :
Dùng để chỉ các quãng giảm, hợp âm giảm
v
MỘT SỐ THUẬT NGỮ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Atonal: “Theo từ điển The New Grove Dictionary of Music and musicians 16,
thì thuật ngữ atonal được sử dụng trong ba ý nghĩa sau: thứ nhất để chỉ một
loại âm nhạc không có điệu tính; thứ hai dùng để chỉ một loại âm nhạc không
phải là loại có điệu tính mà cũng không phải là serie và thứ ba dùng để chỉ
một loại âm nhạc, chính xác là đứng sau loại âm nhạc có điệu tính và trước
âm nhạc 12 âm của Alban Berg, Anton Webern và Arnold
Schönberg. [16/ tr.67].
Aleatorik musik: Thuật ngữ tiếng Đức và tiếng Anh gọi là Aleatoric music,
để chỉ một nguyên tắc sáng tác âm nhạc mang tính ngẫu nhiên, thịnh hành vào
những năm 50 - 60 của thế kỷ XX. Charles Ives là một trong những nhà soạn
nhạc đầu tiên có ý thức sử dụng các kỹ thuật sáng tác này.
Clusters: Thuật ngữ tiếng Anh được hiểu là cụm, đám, bó, đàn, bầy, còn
trong âm nhạc Tone clusters được hiểu là chồng âm dưới dạng chùm nốt
chồng lên nhau sắp xếp theo chiều dọc, khi đàn có thể dùng lòng bàn tay hoặc
thậm chí cả cánh tay tác động lên hàng phím. Tham khảo Hợp âm chồng
quãng hai của nhà soạn nhạc người Mỹ Henry Cowell (1897-1965).
Elektronische Musik: Thuật ngữ tiếng Đức để chỉ sáng tác âm nhạc điện tử
thịnh hành vào những năm 60-70 của thế kỷ XX, được nhạc sĩ người Đức
K.Stockhausen (1928-2007) sử dụng phổ biến trong sáng tác của mình.
Tăng: Thuật ngữ tiếng Anh là augmented, dùng để chỉ các quãng tăng, hợp
âm tăng. Ví dụ quãng ba trưởng được tăng lên nửa cung gọi là quãng ba tăng
hoặc quãng năm đúng tăng lên nửa cung gọi là quãng năm tăng. Hợp âm tăng
được cấu tạo bởi hai quãng ba trưởng hợp thành.
Giảm: Thuật ngữ tiếng Anh là diminished, dùng để chỉ các quãng giảm hoặc
hợp âm giảm. Ví dụ quãng sáu thứ giảm đi nửa cung gọi là quãng sáu giảm
hoặc quãng bốn đúng giảm đi nửa cung gọi là quãng bốn giảm. Hợp âm ba
giảm được cấu tạo bởi hai quãng ba thứ hợp thành.
Thực nghiệm: Thuật ngữ tiếng Anh là Experiment, theo từ điển Wiktionary,
phương pháp thực nghiệm được hiểu là một phương pháp khoa học dựa trên
vii
quan sát, phân loại, nêu giả thuyết và kiểm nghiệm giả thuyết bằng thí
nghiệm.
Thử nghiệm: Thuật ngữ tiếng Anh cũng là Experiment, theo từ điển
Wiktionary, thử nghiệm được hiểu là sự làm thử một cái gì đó để tìm xem có
hiệu quả hay không hoặc muốn tìm kiếm một kết quả nào đó.
Thể nghiệm: Thuật ngữ tiếng Anh là Experimental, theo từ điển Wiktionary,
thể nghiệm được hiểu là sự thể nghiệm của bản thân, qua kinh nghiệm, qua
thực tiễn mà xét thấy điều gì đó là đúng hay không đúng, cần thể nghiệm
thêm một thời gian mới có thể kết luận.
Experimental: Thuộc dạng tính từ, theo từ điển English Oxford Living
Dictionaire, được hiểu theo nghĩa thứ nhất là một phát minh hoặc sản phẩm
mới dựa trên những ý tưởng hoặc kỹ thuật chưa được thử nghiệm và chưa
được thiết lập hoặc hoàn thiện. Nghĩa thứ hai được hiểu là nghệ thuật hoặc
một kỹ thuật nghệ thuật liên quan đến một phong cách hoàn toàn mới và sáng
tạo. Ví dụ: Âm nhạc thử nghiệm. 1. (of a new invention or product) based on
untested ideas or techniques and not yet established or finalized. 2. (of art or an artistic
3. Mi
Mi thăng
Mi giáng
Mi thăng kép
Mi giáng kép
4. Fa
Fa thăng
Fa giáng
Fa thăng kép
Fa giáng kép
5. Sol
Sol thăng
Sol giáng
Sol thăng kép
Sol giáng kép
6.La
La thăng
La giáng
La thăng kép
La giáng kép
7. Si
Si thăng
Si giáng
Si thăng kép
Si giáng kép
Tiếng Anh
C
C sharp
C flat
B double sharp
B double flat
Tiếng Đức
C
Cis
Ces
Cisis
Ceses
D
Dis
Des
Disis
Deses
E
Eis
Es
Eisis
Eses
F
Fis
Fes
Fisis
Feses
G
Gis
Ges
Gisis
Geses
A
Fa doppio bemolle
Sol
Sol diesis
Sol bemolle
Sol doppio diesis
Sol doppio bemolle
La
La diesis
La bemolle
La doppio diesis
La doppio bemolle
Si
Si diesis
Si bemolle
Si doppio diesis
Si doppio bemolle
Tiếng Pháp
Do/Ut
Do dièse
Do bémol
Do double dièse
Do double bémol
Ré
Ré dièse
Ré bémol
Ré double dièse
Ré double bémol
Mi
Mi dièse
D
D#
Db
Dx
Dbb
E
E#
Eb
Ex
Ebb
F
F#
Fb
Fx
Fbb
G
G#
Gb
Gx
Gbb
A
A#
Ab
Ax
Abb
B
B#
Bb
Bx
Bbb
1-3-5
Cmin; Cm
C minor / HÂ Do thứ
1-b3-5
Caug; C(#5); C+
C augmented / HÂ Do tăng
1-3-#5
Cdim; Co
C diminished / HÂ Do giảm
1-b3-b5
C suspended second / HÂ Do sus2
Csus2
1-2-5
(Bỏ âm 3 thay âm 2)
C(add2); C(add9)
C add second (or ninth)/ HÂ Do
thêm âm 2 hoặc âm 9
C minor sixth / HÂ Do sáu thứ
1-b3-5-6
C7
C seventh / HÂ Do bảy át
1-3-5-b7
Cmj7; CM7; Cr7
C major seventh / HÂ Do bảy
trưởng
1-3-5-7
Cmin7; Cm7; C-7
C minor seventh / HÂ Do bảy thứ 1-b3-5-b7
Co7; Cdim7
C diminished seventh / HÂ Do
bảy giảm
C7sus4
C seventh, suspended fourth/HÂ
Cmaj7b5
C major seventh, flat fifth /HÂ Do
1-3-b5-7
bảy trưởng giáng âm 5
1-b3-b5-6
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
HVANQGVN được thành lập từ 1956, tính đến năm 2016 Học viện kỷ
niệm 60 năm thành lập trường với đa dạng các chương trình âm nhạc được tổ
chức từ các khoa với các nghệ sĩ trong và ngoài nước, đã đem đến cho quí
thính giả biết bao tiết mục độc tấu, hoà tấu, nhạc cổ điển, nhạc Jazz và âm
nhạc đương đại với nhiều màu sắc hoà âm mới lạ.
Từ những năm đầu thế kỷ XX đến nay, cùng với những biến động
chính trị, xã hội và văn hóa diễn ra ở nhiều quốc gia khác nhau, âm nhạc
(trong đó có hoà âm) đã có những chuyển biến rõ nét góp phần quan trọng
vào việc phản ánh sự thay đổi, cách xây dựng nội dung, chủ đề hình tượng và
thẩm mỹ âm thanh, cũng như phản ánh bút pháp riêng của từng tác giả, từng
trường phái âm nhạc khác nhau. Âm nhạc Việt Nam cũng không nằm ngoài
dòng chảy này, nhiều tác phẩm đã ra đời sử dụng những ngôn ngữ hòa âm
kiểu mới.
HVANQGVN là trung tâm đào tạo hàng đầu về âm nhạc chuyên nghiệp
trong toàn quốc có trách nhiệm bổ sung, cập nhật những kiến thức khoa học
mới vào công việc đào tạo giảng dạy cũng như nghiên cứu. Trong một vài
năm trở lại đây, sinh viên cũng đã được tiếp cận với nhiều tác phẩm âm nhạc
việc đưa một số kiến thức hòa âm ở thế kỷ XX vào chương trình
giảng dạy môn Hòa âm ở HVANQGVN và với trách nhiệm của
những người thầy thuộc thế hệ sau, chúng tôi thấy có nghĩa
vụ phải cập nhật kiến thức mới cho chương trình giảng dạy
âm nhạc nói chung và hoà âm nói riêng. Đây cũng chính là lý
do khiến chúng tôi lựa chọn lĩnh vực nghiên cứu này. Đề tài
luận án có tiêu đề “Bổ sung một số đặc điểm hoà âm thế kỷ
XX vào chương trình giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia
Việt Nam”.
3
2. Lịch sử đề tài
Vấn đề nghiên cứu để làm sao có thể đưa những đặc điểm, những thành
tựu của âm nhạc thế kỷ XX vào giảng dạy tại HVANQGVN đã được thể hiện
ở nhiều công trình nghiên cứu cũng như trong các luận án tiến sĩ, luận văn
thạc sĩ.
Luận án tiến sĩ Nghệ thuật âm nhạc của Vũ Đình Thạch bảo vệ năm
2009 có tiêu đề: Âm nhạc thế kỷ XX và vai trò của nó trong việc đào tạo kèn
Clarinette tại Nhạc viện Hà Nội. Bản luận án đã đi vào phân tích chi tiết một
số tác phẩm viết cho kèn Clarinette tiêu biểu ở thế kỷ XX và những giải pháp
đưa các tác phẩm viết cho kèn Clarinette của Phương Tây ở thế kỷ XX vào
giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo kèn hơi tại HVANQGVN.
Những thủ pháp sáng tác trong một số trường phái âm nhạc thế kỷ XX
là tiêu đề bản luận án tiến sĩ của Phạm Phương Hoa bảo vệ năm 2010. Đây là
công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam mang tính chất tổng quát và hệ
thống hoá những thủ pháp sáng tác âm nhạc thế kỷ XX. Ngoài việc tổng kết
các thủ pháp sáng tác ở thế kỷ XX của một số trường phái âm nhạc phương
Tây, tác giả luận án đã phân tích những đặc điểm ngôn ngữ âm nhạc trong các
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về hoà âm thế kỷ XX của
Phương Tây, cũng như hoà âm trong các tác phẩm âm nhạc mới Việt Nam
không có nhiều và cũng chỉ giới hạn trong một vài giáo trình, luận án hay luận
văn trong lĩnh vực Âm nhạc học. Cụ thể là:
Giáo trình hoà thanh dành cho sinh viên khoa Sáng tác - Chỉ huy - Âm
nhạc học bậc đại học tại HVANQGVN của GS.TS Phạm Minh Khang biên
soạn, do Trung tâm thông tin - Thư viện âm nhạc xuất bản năm 2005.
Ngoài cuốn giáo trình này, trong một số luận án, luận văn thuộc chuyên
ngành Âm nhạc học đã bảo vệ tại HVANQGVN có đề cập đến lĩnh vực hoà
âm trong các tác phẩm âm nhạc phương Tây cũng như tác phẩm của các nhạc
sĩ Việt Nam có liên quan đến hoà âm thế kỷ XX mà chúng tôi đã giới thiệu ở
5
phần lịch sử đề tài.
Vấn đề này sẽ được chúng tôi phân tích sâu trong phần Tổng quan tình
hình nghiên cứu ở chương một luận án.
Tại Việt Nam cho đến thời điểm này, chúng tôi chưa thấy một công
trình nghiên cứu khoa học nào đề cập tới vấn đề Bổ sung một số đặc điểm hoà
âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia
Việt Nam hay một cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp nào ở Việt Nam. Vì
thế, đề tài luận án không trùng lặp với các công trình đã công bố.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án hướng tới việc bổ sung một số kiến
thức hoà âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy, sau khi đã kết thúc
phần hoà âm cổ điển cho sinh viên các chuyên ngành âm nhạc, nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội trong giai
đoạn hiện nay. Qua đó có thể giúp sinh viên cập nhật được những
kiến thức mới khi biểu diễn hoặc phân tích các tác phẩm đương
nghiên cứu để xây dựng phần ứng dụng nội dung mới thực hành.
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
Tổ chức dạy thực nghiệm một số nội dung hoà âm thế kỷ XX cho
sinh viên các chuyên ngành khác nhau để kiểm chứng tính khả thi của
những kiến thức đưa vào chương trình giảng dạy, phương pháp dạy học và
khả năng tiếp thu của sinh viên.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia,
phỏng vấn những người có liên quan để xem kiến thức hoà âm thế kỷ XX
được tiếp cận như thế nào trong các cơ sở đào tạo âm nhạc trên thế giới.
6. Đóng góp của luận án
6.1 Về mặt lý luận:
Tổng kết ngôn ngữ hoà âm thế kỷ XX thông qua một số
dạng điệu thức, cấu trúc hợp âm - chồng âm, các thủ pháp
hòa âm v.v...
7
Đề xuất đưa nội dung hoà âm thế kỷ XX vào chương
trình giảng dạy cho sinh viên đại học tại HVANQGVN đáp ứng
nhu cầu đào tạo sinh viên âm nhạc chuyên nghiệp trong giai
đoạn hiện nay.
6.2 Về mặt thực tiễn:
Đưa phần kiến thức hoà âm tiêu biểu của thế kỷ XX vào
giảng dạy hệ đại học tại HVANQGVN.
Xây dựng chương trình và nội dung phần hoà âm thế kỷ
XX cho bậc đại học, góp phần hoàn thiện chương trình môn
học hoà âm nói chung.
Đề xuất một số phương pháp dạy phần hòa âm thế kỷ
XX.
1.1 Cơ sở lý luận
Hòa âm là một môn học quan trọng trong chương trình đào tạo âm
nhạc chuyên nghiệp tại các Học viện âm nhac, Nhạc viện. Từ trình độ trung
cấp đến đại học, từ các chuyên ngành biểu diễn đến các chuyên ngành Sáng
tác - Chỉ huy - Âm nhạc học, ở mỗi cấp học, mỗi chuyên ngành, học sinh sinh viên được tiếp cận với các kiến thức, các kỹ năng thực hành hòa âm
khác nhau.
Môn Hòa âm giúp cho học sinh - sinh viên có thể hiểu về cấu trúc hình
thức của tác phẩm, sự sắp xếp các dạng hợp âm trong các điệu thức khác nhau
và những nguyên lý kết hợp các hợp âm theo chiều dọc và chiều ngang cũng
như vị trí các hợp âm trong tác phẩm âm nhạc v.v… Qua đó có thể hiểu thêm
về quan điểm thẩm mỹ, phong cách sáng tác của tác giả.
Chúng ta biết rằng âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật được biểu hiện
bằng âm thanh. Những yếu tố quan trọng của âm nhạc đó là: giai điệu, hòa
âm, tiết tấu, âm sắc, tốc độ và cường độ v.v… Trong âm nhạc phương Tây,
hòa âm là yếu tố nổi bật nhất và được phát triển cao nhất. Hòa âm là một
phương tiện biểu hiện rất quan trọng trong việc diễn tả nội dung của một tác
phẩm âm nhạc.
Hòa âm còn đóng góp trong việc hình thành hình thức tác phẩm âm
nhạc. Hòa âm giúp cho việc phân chia tác phẩm thành những phần, những
giai đoạn hoàn thiện cùng mối liên hệ giữa chúng với nhau.
Trong tác phẩm âm nhạc, hòa âm luôn luôn liên quan chặt chẽ với các
yếu tố âm nhạc khác đặc biệt là với giai điệu.
10
Cùng với giai điệu, hòa âm là một trong những lĩnh vực chịu nhiều sự
thay đổi do ảnh hưởng của thời đại, của bản sắc dân tộc và phong cách sáng
tác của từng nhạc sĩ. Do vậy hòa âm là một lĩnh vực có lịch sử phát triển, biến
đổi rất phong phú và phức tạp.
bật vừa đơn giản, dễ hiểu, nhưng thể hiện được những điểm đặc trưng của hòa
âm ở giai đoạn này để đưa vào chương trình giảng dạy. Chúng tôi hy vọng
những nghiên cứu và thử nghiệm của mình sẽ góp phần vào việc đổi mới,
nâng cao chất lượng đào tạo môn Hòa âm trong HVANQG VN.
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoà âm thế kỷ XX
1.2.1 Sách và các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Có thể nói trên thế giới, sách hoà âm thì vô cùng phong phú và phần
nhiều các sách thường đề cập đến kiến thức hoà âm cổ điển. Để phù hợp với
đề tài nghiên cứu, chúng tôi có cơ hội được tiếp cận với một số tài liệu có liên
quan đến hoà âm thế kỷ XX và đây cũng là những tư liệu quí giúp chúng tôi
có thể cập nhật được những vấn đề chuyên môn trong giai đoạn hiện nay.
Theo chúng tôi tìm hiểu, hiện nay trên thế giới tài liệu đã xuất bản
dưới dạng sách giáo khoa hòa âm thế kỷ XX được sử dụng ở nhiều trường
âm nhạc là:
- Cuốn Hoà âm thế kỷ XX - Twentieth-Century Harmony do Vincent
Persichetti biên soạn (Nhà xuất bản W.W.Norton &Company, 1961) dày 279
trang. Đây là một trong những cuốn hòa âm phần nào đã đúc kết một cách
khoa học về đặc điểm ngôn ngữ hòa âm nửa đầu âm nhạc thế kỷ XX. Tác giả
Vincent Persichetti còn được nhiều người biết đến là cuốn lý thuyết hòa âm
thế kỷ XX của ông với tiêu đề Twentieth-Century Harmony Creative Aspects
and Practice. Chúng tôi sẽ trình bày nội dung chi tiết hơn trong chương 2
của luận án.
Ngoài ra còn một số công trình sau:
- Cuốn Lý thuyết hoà âm - Theory of Harmony của Arnold
12
Schönberg (người dịch Roy E.Carter), Nxb University of California Press
Berkeley Los Angeles, in lần đầu tiên vào năm 1911 và tái bản năm 1949, sau
mười hai chương, đề cập đến các nội dung như chức năng cấu trúc của hoà
âm (Structural Functions of Harmony), những nguyên tắc cơ bản của hoà âm
(Principles of Harmony), các sự thay thế và phạm vi (Substitutes and
Regions), các phạm vi trong giọng thứ (Regions in Minor), sự chuyển dịch
(Transformations), hoà âm vô định (Vagrant Harmonies), sự hoán đổi của
giọng Trưởng và Thứ (Interchangeability of Major and Minor), kết quan hệ
gần (Indirect but Close Relations), phân loại mối quan hệ (Classification of
Relationship), điệu tính mở rộng (Extended Tonality).
- Cuốn Hoà âm của Đức - Der Musikalischer Satz 14.-20. Jahrhundert
Rhythmik Harmonik Kontrapunktik Klangkomposition Jazzarrangerment
Minimal-Music do Walter Salmen & Norbert J.Schneider biên soạn
(Copyright 1987 - Nhà xuất bản Edition Helbling Inbruck). Giáo trình này
được dùng phổ biến ở CHLB Đức. Trong quyển sách này tác giả chia làm ba
phần, có mười chín chương, bao gồm 290 trang. Phần thứ nhất (chương I và
chương II) giới thiệu các vấn đề cơ bản trong âm nhạc, hợp âm ba chính, ba
phụ và các thể đảo, hợp âm bảy và các thể đảo v.v… Phần thứ hai (từ chương
III đến chương IX), giới thiệu âm nhạc phức điệu từ thế kỷ XIV-XIX, cách
viết phức điệu hai, ba bè và viết hợp xướng bốn bè nhà thờ, hoà âm trưởng
thứ thế kỷ XVIII - XIX, biến âm, chuyển điệu v.v… Phần thứ ba giới thiệu về
âm nhạc thế kỷ XX, (từ chương X đến XIX), trong đó chương X (trang 187 204) đề cập đến một số vấn đề hoà âm sau năm 1900 như cấu tạo chồng nhiều
âm theo các quãng bốn, quãng năm, quãng hai và các hợp âm ngoài cấu trúc
quãng ba v.v… được mở rộng hơn so với sách hoà âm cổ điển, điệu thức
14
Pentatonic, Diatonic, Chromatic, các dạng tiết tấu mới và ký hiệu chỉ dẫn mới
trong âm nhạc v.v… Ngoài ra, còn giới thiệu âm nhạc Dodecaphone, âm nhạc
Serialitaet, âm nhạc Aleatorik, âm nhạc điện tử (Elektronische Musik), âm
nhạc giảm thiểu (Minimal-Musik), âm nhạc Mikrotoene, hoà âm nhạc Jazz.