+BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
---------------------- * * * -------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH BẢO HIỂM
ĐỀ TÀI: CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BHXH BẮT BUỘC Ở BHXH
HUYỆN NGHĨA HƯNG -TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2013 – 2017
Cán bộ hướng dẫn
: Th.S Hoàng Minh Tuấn
Họ và tên sinh viên : Đoàn Thị Huyền
Lớp
: D10BH2
HÀ NỘI, NĂM 2018
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của mình.
Các số liệu và kết quả nêu trong khóa luận tốt nghiệp là trung thực, xuất
phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập và được cơ quan thực tập cung
cấp cùng với những góp ý cho báo cáo này.
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Huyền
i
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài....................................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu....................................................................................................................3
4. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu........................................................................................................3
5. Kết cấu của đề tài...........................................................................................................................3
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BHXH.4
1.1. Một số vấn đề cơ bản về BHXH..................................................................................................4
1.1.1. Khái niệm BHXH...................................................................................................................4
1.1.2. Vai trò của BHXH đối với đời sống kinh tế xã hội................................................................5
1.1.3. Quỹ BHXH.............................................................................................................................8
1.2. Một số vấn đề cơ bản về công tác quản lý thu BHXH................................................................9
1.2.1. Khái niệm quản lý thu BHXH................................................................................................9
1.2.2. Vai trò công tác quản lý thu BHXH....................................................................................10
1.2.3. Nội dung công tác quản lý thu BHXH................................................................................12
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu BHXH....................................................20
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT
BUỘC Ở BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM
ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2013 – 2017...................................................................23
2.1. Giới thiệu chung về bảo hiểm xã hội huyện Nghĩa Hưng........................................................23
2.1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Nghĩa Hưng...................................................................23
2.1.2. Vài nét về cơ quan BHXH huyện Nghĩa Hưng...................................................................23
2.1.3. Đánh giá về cơ quan BHXH huyện Nghĩa Hưng................................................................34
2.2. Thực trạng công tác thu BHXH ở BHXH huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2013-2017.................36
iii
2.2.1. Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc..................................................................................36
2.2.2. Quản lý mức thu BHXH......................................................................................................44
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1: Hệ thống tổ chức bộ máy BHXH huyện Nghĩa Hưng.................27
Bảng 1.1 Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức viên chức của BHXH Huyện Nghĩa Hưng.....28
Bảng 2.1: Đơn vị SDLĐ tham gia BHXH bắt buộc giai đoạn 2013 – 2017...........................38
Biểu đồ 2.1: Tình hình tham gia BHXH bắt buộc của đơn vị SDLĐ tại
BHXH huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2013 – 2017......................................39
Bảng 2.2: Tình hình người lao động tham gia BHXH bắt buộc của BHXH huyện Nghĩa
Hưng giai đoạn 2013 – 2017...............................................................................................41
Biểu đồ 2.2:Tình hình người lao động tham gia BHXH bắt buộc giai đoạn 2013 – 2017. .42
Bảng 2.3: Bảng quy định mức lương cơ sở giai đoạn 2013 – 2017....................................45
Bảng 2.4: Bảng lương tối thiểu vùng giai đoạn 2013-2017................................................46
Bảng 2.5: Quỹ tiền lương làm căn cứ thu BHXH bắt buộc giai đoạn 2013 – 2017 (đơn vị:
đồng)....................................................................................................................................49
Bảng 2.6: Quỹ lương BHXH bắt buộc theo khối loại hình quản lý giai đoạn 2013 – 2017
(đơn vị: đồng)......................................................................................................................50
Bảng 2.7: Kết quả thu BHXH bắt buộc giai đoạn 2013 – 2017...........................................52
(đơn vị: triệu đồng)..............................................................................................................52
Bảng 2.8: Kết quả nợ đọng BHXH bắt buộc tại cơ quan BHXH Huyện Nghĩa Hưng giai
đoạn 2013 – 2017................................................................................................................54
Biểu đồ 2.3: Kết quả nợ đọng BHXH giai đoạn 2013 – 2017..............................................55
Sơ đồ 1: Hệ thống tổ chức bộ máy BHXH huyện Nghĩa Hưng.................27
Bảng 1.1 Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức viên chức của BHXH Huyện Nghĩa Hưng.....28
Bảng 2.1: Đơn vị SDLĐ tham gia BHXH bắt buộc giai đoạn 2013 – 2017...........................38
Biểu đồ 2.1: Tình hình tham gia BHXH bắt buộc của đơn vị SDLĐ tại
BHXH huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2013 – 2017......................................39
Bảng 2.2: Tình hình người lao động tham gia BHXH bắt buộc của BHXH huyện Nghĩa
Hưng giai đoạn 2013 – 2017...............................................................................................41
mạnh đất nước ổn định và phát triển bền vững về mọi mặt nền kinh tế, chính
trị, xã hội… Nó thể hiện trách nhiệm giữa người với người , sự sẻ chia, bù
đắp lòng yêu thương của dân tộc Việt Nam như câu nói xưa: “ Người với
người sống để yêu nhau”.
Như chúng ta thấy việc thu BHXH có vai trò quan trọng đặc biệt,
không những có vai trò to lớn trong việc cân đối quỹ , thu BHXH còn đóng
vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống BHXH. Đặc biệt là
sự tồn tại và phát triển của BHXH vận động theo cơ chế thị trường, không có
sự bao cấp của ngân sách nhà nước trong lĩnh vực BHXH.
Qua thời gian ra đời, tồn tại và phát triển, công tác quản lý thu BHXH ở
cơ quan BHXH huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định đạt được nhiều thành tựu
như: thu phí ngày càng nhiều, số người tham gia BHXH ngày càng tăng, tình
trạng nợ đọng giảm thiểu…. Tuy nhiên trên thực tế, việc triển khai hoạt động
thu của BHXH huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định vẫn còn nhiểu điểm tồn tại,
bất cập như: chưa khai thác hết lực lượng lao động, tình trạng trốn đóng, nợ
đóng vẫn còn tồn tại….Điều này đã làm cho hoạt động thu của BHXH huyện
Nghĩa Hưng vẫn chưa đạt kết quả cao ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao
động và làm giảm nguồn thu cho quỹ BHXH. Do vậy, để công tác quản lý thu
ngày càng hiệu quả cao thì cần giải quyết những vấn đề còn tồn tại này. Xuất
phát từ những lý do trên em đã lựa chọn đề tài: “Công tác quản lý thu
BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định giai đoạn
2013 – 2017” làm đề tài nghiên cứu trong bài báo cáo thực tập tốt nghiệp của
mình.
1
1. Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam nay, hoạt động BHXH là một hoạt động do nhà nước tổ
chức thực hiện và quản lý, không vì mục đích sinh lợi. Vì vậy yếu tố quản lý
luôn được xem là vấn đề quan trọng khi thực hiện thu bảo hiểm xã hội
một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH bắt buộc ở địa
2
phương.
3. Đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu các vấn đề về thu, nộp
BHXH bắt buộc của NLĐ, người SDLĐ và cơ quan BHXH Nghĩa Hưng tại
huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2013 - 2017.
Đối tượng nghiên cứu: thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt buộc
tại BHXH huyện Nghĩa Hưng.
4. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Đề tài này sẽ phản ánh, phân tích một cách chi tiết và tổng hợp về thực
trạng công tác thực hiện chính sách BHXH nói chung và quản lý thu BHXH
bắt buộc nói riêng.
Thông qua việc phân tích thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt
buộc tại BHXH huyện Nghĩa Hưng có thể đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn
thiện hơn công tác nghiệp vụ này.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục bài khóa luận tốt nghiệp của em
được kết cấu thành ba chương chính. Cụ thể đó là:
Chương 1: Lý luận chung về công tác quản lý thu BHXH
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại
BHXH huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2013 – 2017.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu
BHXH bắt buộc ở BHXH huyện Nghĩa Hưng.
Trong quá trình nghiên cứu mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng bài báo
cáo thực tập không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự
góp ý của các thầy cô giáo giúp bài báo cáo thực tập của em được hoàn thiện
hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
thuật ngữ diễn đạt đơn giản nhưng phản ánh được nguyện vọng sâu sắc nhất
của nhân dân lao động trên toàn thế giới.
Thuật ngữ “bảo hiểm xã hội” được hiểu không giống nhau giữa các nước
về mức độ phạm vi rộng hẹp của nó. Tuy nhiên, về cơ bản thì thuật ngữ này
được hiểu với nghĩa là sự bảo đảm an toàn của xã hội dành cho thành viên
của nó thông qua các quy trình của hệ thống công cộng, nhằm giải toả những
lo âu về kinh tế và xã hội cho thành viên. Nói cách khác, nó góp phần giúp
các thành viên trong xã hội và gia đình khắc phục sự suy giảm hoặc mất
nguồn thu nhập thực tế do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
4
nghiệp, thất nghiệp, hư trí, và tử tuất; đồng thời cung cấp về dịch vụ y tế, trợ
cấp gia đình có con nhỏ
Nhìn chung các quan điểm của các nhà xã hội ở các nước đưa ra có một
số sự khác biệt do tình hình thực tế tại đất nước họ sống, nhưng chúng ta có
thể đưa ra một số điểm chung nhất định là: BHXH là một cơ chế nhằm giảm
bớt áp lực tài chính cho NLĐ khi họ gặp phải những rủi ro trong cuộc sống,
thông qua sự đóng góp của chính các thành viên trong cộng đồng.
Tại Việt Nam, sau Cách mạng tháng 8/1945 trên cơ sở Hiến pháp năm
1946 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa có quy định về chế độ trợ cấp
các chế độ ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân , viên chức Nhà nước thông
qua một loạt các sắc lệnh như : Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947, Sắc lệnh
76/SL ngày 20/5 1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22//5/1950. Năm 1959, Hiến
pháp nước ta thừa nhận công nhân, viên chức Nhà Nước có quyền được
hưởng trợ cấp BHXH.
Xuất phát từ những quan điểm khác nhau về BHXH trên thế giới, dựa
trên tình hình thực tế nước ta thì khái niệm BHXH trong Luật BHXH số
71/2006/QH11, ngày 29/6/2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007được
hiểu như sau :“ BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù dắp một phần thu
nguồn hỗ trợ về vật chất mà còn là nguồn động viên tinh thần to lớn đối với
mỗi cá nhân khi gặp khó khăn, giúp họ ổn định về mặt tâm lý, ổn định chính
sách cho bản thân và gia đình khi gặp bất trắc. Khi đã có một chỗ dựa vững
chắc, NLĐ sẽ cảm giác yên tâm hơn trong cuộc sống lao động, làm việc hết
sức mình để nâng cao năng suất lao động.
1.1.2.2. Đối với tổ chức sử dụng lao động
BHXH ngoài việc mang lại các lợi ích thiết thực cho NLĐ, nó còn giúp
cho các tổ chức SDLĐ ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông qua
việc phân phối các chi phí cho NLĐ một cách hợp lý. Bởi vì, nếu không có
BHXH, người SDLĐ sẽ trả tiền BHXH cùng tiền lương hàng tháng cho NLĐ
để họ tự quản lý và sử dụng nguồn tiền vào các mục đích khác nhau, không
phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả như mong đợi. Đặc biệt, khi NLĐ không
may bị ốm đau, tai nạn lao động… không có khoản tiền tiết kiệm, dự phòng
để chi dùng cuộc sống của họ bị ảnh hưởng dẫn đến chất lượng lao động cũng
bị ảnh hưởng theo. Vì vậy, qua việc phân phối chi phí cho NLĐ hợp lý,
BHXH góp phần làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được ổn định, hoạt
động liên tục và hiệu quả, tăng cường mối quan hệ bền chắc giữa các thành
viên trong quan hệ lao động.
Mặt khác, BHXH tạo điều kiện để người SDLĐ có trách nhiệm với
NLĐ trong suốt cuộc đời NLĐ cho những đóng góp của họ đối với doanh
nghiệp, làm cho quan hệ lao động giữa chủ SDLĐ với NLĐ có tính nhân văn
sâu sắc hơn.
Bên cạnh đó, BHXH còn giúp đơn vị SDLĐ ổn định nguồn chi ngay cả
khi có rủi ro không đáng có xảy ra. Nhờ đó mà các khoản chi phí được chủ
động hạch toán, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong sản xuất kinh doanh
mà không bị phụ thuộc quá nhiều vào hoàn cảnh khách quan. Tuy nhiên,
6
chính vì những lợi ích mà BHXH mang lại cho đơn vị SDLĐ không phải là
Như vậy, vai trò của BHXH là rất lớn đối với NLĐ, người SDLĐ và
toàn xã hội. Đối với Việt Nam hiện nay, với chức năng của mình, BHXH đang
là một khâu không thể thiếu trong việc thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, góp phần vào ổn định và phát
7
triển kinh tế đất nước.
1.1.3. Quỹ BHXH
Bất kì một hoạt động kinh tế - xã hội nào muốn thực hiện được đều
phải có một nguồn tài chính riêng. Đối với hoạt động BHXH, quỹ BHXH
được hiểu là một quỹ tài chính độc lập, tập trung, được tồn tích dần từ sự
đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác và
được Nhà nước bảo hộ; được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ
theo quy định của pháp luật BHXH [4]. Theo đó, quỹ BHXH bắt buộc ở Việt
Nam được hình thành từ các nguồn sau:
- Người SDLĐ đóng theo quy định hiện hành.
- NLĐ đóng theo quy định hiện hành.
- Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH.
- Hỗ trợ của Nhà nước.
- Các nguồn thu hợp pháp khác.
Từ các nguồn thu này, quỹ BHXH sẽ được sử dụng vào các mục đích
cụ thể như:
- Chi trả các khoản trợ cấp BHXH cho NLĐ theo quy định của Luật
BHXH.
- Chi phí quản lý quỹ BHXH bao gồm: chi phí hành chính, chi lương,
khấu hao tài sản cố định và các khoản chi sự nghiệp khác theo quy định hiện
hành
- Chi khen thưởng người SDLĐ thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động,
phòng ngừa TNLĐ – BNN, chi dự phòng… theo quy định của Nhà nước.
không cao. Trong nền kinh tế nhiều thành phần như Việt Nam hiện nay, lợi
ích của các bên tham gia BHXH là khác nhau. Đơn vị SDLĐ thì luôn muốn
tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí. Trong khi đó, NLĐ thì lại muốn
đóng góp ít nhất mà lại được hưởng nhiều nhất. Qũy BHXH là có hạn, để đảm
bảo cho mọi hoạt động được bền vững, cơ quan BHXH phải luôn tiến hành
cân đối quỹ sao cho hợp lý nhất. Chính những mâu thuẫn về lợi ích trên và có
thể đảm bảo lợi ích hợp pháp cũng như trách nhiệm của các bên tham gia cần
phải có người trọng tài là Nhà nước. Với chức năng cai trị, Nhà nước sẽ sử
dụng quyền lực của mình xây dựng các cơ chế, chính sách nhằm nâng cao
hiệu quả công tác thu và quản lý thu BHXH.
Trước khi đi đến khái niệm công tác quản lý thu BHXH cần phải hiểu
thế nào là quản lý? Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý. Nhưng xét về
mặt bản chất, quản lý chính là sự tác động có kế hoạch, sắp xếp, tổ chức, chỉ
huy, kiểm tra các chủ thể quản lý, các quá trình xã hội và hoạt động của con
người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đề ra của tổ
chức và đúng với ý chí của nhà nước quản lý với chi phí thấp nhất.
Quản lý thu BHXH là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý để
điều chỉnh các hoạt động thu. Sự tác động đó được thực hiện bằng hệ thống
9
các biện pháp hành chính, kinh tế và pháp luật nhằm đạt được mục tiêu thu
đúng đối tượng, thu đủ số lượng và không để thất thu tiền đóng BHXH, đảm
bảo thời gian theo quy định.
1.2.2. Vai trò công tác quản lý thu BHXH
1.2.2.1 Tạo sự thống nhất trong hoạt động thu BHXH
Hoạt động thu BHXH vốn có tính chất đặc thù khác với các hoạt động
khác đó là: đối tượng thu BHXH đa dạng, phức tạp, bao gồm nhiều thành
phần kinh tế khác nhau, độ tuổi, thu nhập và vị trí địa lý vùng miền cũng
không thống nhất. Do đó, nếu không có sự chỉ đạo thống nhất giữ các cấp
Thứ hai, nhờ việc “chỉ huy” liên tục của người quản lý mà quá trình thu
BHXH với rất nhiều yếu tố phức tạp đã được tổ chức, điều hòa, phối hợp nhịp
nhàng, hướng dẫn hoạt động của các cá nhân trong hệ thống BHXH, giúp
tăng cường tính ổn định trong hệ thống nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Thứ ba, công tác thu BHXH có thể tạo động lực cho mọi người trong tổ
chức BHXH. Do đó, trong vấn đề này, quản lý giữ vai trò đảm nhiệm, thông
qua công tác đánh giá sẽ khen thưởng cho các cá nhân, tổ chức thu BHXH có
thành tích tốt, đạt kết quả cao, đồng thời uốn nắn những sai lệch hoặc những
biểu hiện tiêu cực làm thất thoát quỹ BHXH, làm ảnh hưởng đến lợi ích của
người tham gia.
1.2.2.3. Kiểm tra, đánh giá hoạt động thu BHXH
Thu BHXH là một nội dung của tài chính BHXH mà thông thường bất
kì một hoạt động nào liên quan đến tài chính đều rất dễ mắc phải tình trạng
thất thoát, vô ý hoặc cố ý làm sai, ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham
gia, không thể hiện ý nghĩa, tầm quan trọng của hệ thống BHXH. Mặt khác,
quá trình thực hiện thu BHXH được tiến hành theo ba cấp, nếu không có công
tác quản lý trong quá trình thu nộp sẽ dẫn đến quỹ BHXH bị thất thoát. Để
giải quyết mặt hạn chế này, người quản lý sẽ đảm nhiệm công tác kiểm tra,
đánh giá hoạt động thu BHXH một cách kịp thời và toàn diện, sát với thực tế,
để có những điều chỉnh kịp thời sau khi đánh giá.
Ngoài ra, công tác quản lý thu BHXH còn có vai trò to lớn trong việc
tạo ra nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trên thị trường tài chính để đầu tư phát
triển kinh tế - xã hội đất nước, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Nếu công
tác quản lý thu thực sự được thực hiện tốt.
Như vậy, nếu công tác quản lý thu BHXH đạt hiệu quả cao, sẽ có nhiều
đối tượng được tham gia vào hệ thống BHXH. Qua đó, số tiền huy động vào quỹ
BHXH ngày càng cao, được đảm bảo an toàn. Ngược lại, khi quản lý thu BHXH
đạt hiệu quả thấp cũng có nghĩa là số huy động vào quỹ BHXH cũng thấp tương
ứng, đây chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự mất cân đối quỹ BHXH.
1.2.2.4. Tăng thu, bảo đảm cân đối quỹ BHXH
truyền thống có thuê mướn và SDLĐ thuộc đối tượng bắt buộc tham gia
BHXH. Sau khi xác định đầy đủ các đối tượng thuộc diện tham gia BHXH
theo luật định, tổ chức BHXH sẽ tiến hành hướng dẫn các chủ SDLĐ đăng kí
tham gia BHXH cho NLĐ thuộc phạm vi đơn vị, đồng thời tiến hành quản lý
và kiểm tra việc thực hiện đóng đúng quy định của Nhà nước về hoạt động
BHXH của các đơn vị SDLĐ này.
Quy trình quản lý thu BHXH là tổng thể các công việc cần phải tiến
hành để đạt được mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất. Để thực hiện tốt
nhất mục tiêu của công tác thu BHXH cần thiết phải tiến hành một quy trình
thu kế hoạch tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sử dụng lao động tham gia
12
và cán bộ chuyên trách thu của cơ quan BHXH. Hiện nay, căn cứ vào thời
gian đơn vị SDLĐ tham gia mà có 02 quy trình thu riêng sau:
* Đối với các đơn vị SDLĐ lần đầu tiên tham gia BHXH, quy trình
quản lý thu BHXH gồm các bước công việc theo thứ tự sau:
- Đơn vị SDLĐ lập hồ sơ đăng kí tham gia BHXH bao gồm:
+ Công văn gửi BHXH tỉnh, thành phố xin đăng kí tham gia BHXH.
+ Bảng kê khai danh sách số lao động tham gia BHXH.
- Sau khi nhận được hồ sơ của đơn vị SDLĐ, BHXH tỉnh, huyện sẽ
thẩm định tính hợp lệ của hồ sơ, tính toán mức đóng, cấp sổ và tổ chức thu.
* Đối với đơn vị SDLĐ đang tham gia BHXH, quy trình quản lý thu
BHXH bao gồm các công việc sau:
- Lâp bảng kê khai danh sach lao động tham gia BHXH;
- Lập bảng kê khai tăng giảm lao động và quỹ lương đóng BHXH;
- BHXH tỉnh tiến hành thẩm định bảng kê khai và tiến hành thu, cấp sổ
BHXH bổ sung cho các đối tượng mới tham gia BHXH.
Qua công tác quản lý thu, tổ chức BHXH sẽ nắm bắt được số lượng các
đơn vị SDLĐ và số lao động thuộc diện tham gia BHXH trên địa bàn huyện,
những biện pháp thực hiện công tác thu BHXH tốt hơn. Để quản lý dễ dàng,
cơ quan BHXH thường phối hợp với các cơ quan cấp phép cho DN hoạt động
để nắm rõ số lượng đơn vị SDLĐ trên địa bàn.
Khi tiến hành quản lý việc đăng kí tham gia vào hệ thống BHXH của
chủ SDLĐ, cơ quan BHXH sẽ đưa ra các tiêu thức, yêu cầu bắt buộc chủ
SDLĐ có trách nhiệm cung cấp thông tin như: tên đơn vị, loại hình hoạt động
KD, số lao động hiện có… đối với NLĐ cần phải cung cấp thông tin về tên,
năm sinh, giới tính, … Việc cung cấp những thông tin này sẽ tránh được sự
trùng lặp giữa các đối tượng và sẽ được cơ quan BHXH mã hoá bằng dãy kí
tự để cho công tác quản lý trở nên dễ dàng, thuận tiện hơn, tiết kiệm thời gian.
Danh sách lao động trong từng đơn vị sẽ do mỗi đơn vị tự lập theo mẫu
quy định của BHXH Việt Nam, nhằm đảm bảo sự thống nhất trong thủ tục
hành chính. Bên cạnh đó sự biến động tăng giảm lao động của đơn vị cũng
được cập nhật thường xuyên, liên lạc để bảo vệ quyền lợi của NLĐ.
1.2.3.2. Quản lý mức thu BHXH
Xuất phát từ mục đích của BHXH là nhằm bù đắp hoặc thay thế một
phần thu nhập cho NLĐ khi họ không may gặp rủi ro cho nên khi thiết kế
khoản đóng góp vào quỹ BHXH hầu hết các quốc gia trên thế giới đều căn cứ
vào thu nhập, tiền lương - tiền công của NLĐ, thực hiện khấu trừ tiền lương
của NLĐ và các khoản đóng góp của chủ SDLĐ chuyển khoản về đơn vị quản
lý thực hiện BHXH.
Thông thường mức đóng góp BHXH thường căn cứ vào tiền lương của
NLĐ (lương chính, các khoản phục cấp…) và tổng quỹ lương của toàn doanh
nghiệp. Ở nước ta tiền lương – tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc được
14
quy định cụ thể trong Luật BHXH như sau:
- Đối với NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do nhà
nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH là tiền lương theo cấp bậc,
kì nhất định để đem lại hiệu quả tốt nhất cho chính sách BHXH. Mặt khác, cơ
quan quản lý nhà nước về BHXH phải xây dựng được mức đóng phù hợp với
15
tất cả các đối tượng, tương quan tỷ lệ đóng giữa người SDLĐ và người NLĐ
không được quá chêch lệch, không được làm cho chủ SDLĐ muốn trốn tránh
trách nhiệm tham gia BHXH cho NLĐ.
Sau khi đã thiết kế được mức đóng phù hợp, mức đóng góp của từng
đơn vị và từng NLĐ sẽ được quản lý chặt chẽ trên cơ sở danh sách tham gia
BHXH của từng đơn vị. Mức lương hoặc tiền công của từng NLĐ và tổng
quỹ lương của người tham gia trong từng vùng đơn vị trực thuộc sao cho chỉ
tiêu này luôn khớp với nhau.
Theo Luật BHXH năm 2006 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam, mức đóng BHXH bắt buộc hàng tháng là 20% tổng quỹ tiền
lương – tiền công của NLĐ. Trong đó, NLĐ đóng 5% mức tiền lương, tiền
công vào quỹ hưu trí và tử tuất (từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng
thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng 8%); người SDLĐ đóng 15% trên tổng
quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH của NLĐ như sau:
+ 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó, người SDLĐ giữ lại 2% để
chi trả kịp thời cho NLĐ đủ điều kiện hưởng theo quy định và thực hiện quyết
toán hàng quý với tổ chức BHXH,
+ 1% vào quỹ TNLĐ – BNN,
+ 11% vào quỹ hưu trí, tử tuất (từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần
đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng 14%).
1.2.3.3. Tổ chức thu BHXH
Để thực hiện việc tổ chức thu BHXH, BHXH các cấp cần phải thực
hiện một số công việc sau:
*Phân cấp thu một cách hợp lý
Phân cấp thu BHXH hợp lý là một điều kiện quan trọng trong việc tạo
chiếu số lao động quỹ tiền lương và mức nộp BHXH thực tế cho cơ quan
BHXH trực tiếp quản lý trước ngày 10/10 hàng năm.
Đối với cơ quan BHXH huyện, hàng năm BHXH cấp huyện căn cứ tình
hình thực hiện năm trước và khả năng mở rộng NLĐ tham gia BHXH trên địa
bàn, lập hai bản “Kế hoạch thu BHXH, BHYT bắt buộc” năm sau (theo mẫu
số 13 - TBH), gửi BHXH tỉnh một bản trước ngày 05/11 hàng năm.
Đối với BHXH tỉnh: hàng năm lập hai bản dự toán thu BHXH, BHYT
đối với NLĐ do tỉnh quản lý, đồng thời tổng hợp toàn tỉnh, lập hai bản “Kế
hoạch thu BHXH, BHYT bắt buộc” năm sau (theo mẫu số 13 – TBH), gửi
BHXH Việt Nam một bản trước ngày 15/11 hàng năm. Đồng thời, bên cạnh
đó, căn cứ vào dự toán thu BHXH Việt Nam giao, tiến hành phân bổ dự toán
thu cho các đơn vị trực thuộc tỉnh, huyện trước ngày 20/1 hàng năm.
Riêng đối với BHXH thuộc Bộ quốc phòng, Bộ công an, Ban cơ yếu
Chính phủ lập kế hoạch thu BHXH gửi trực tiếp lên BHXH Việt Nam trước
17
ngày 15/11 hàng năm.
Đối với BHXH Việt Nam: BHXH Việt Nam sẽ căn cứ vào tình hình
thực hiện kế hoạch năm trước và khả năng phát triển lao động năm sau của
các địa phương, tổng hợp, lập và giao dự toán thu BHXH, BHYT cho BHXH
tỉnh, BHXH thuộc Bộ quốc phòng, Bộ công an và Ban cơ yếu Chính phủ
trước ngày 10/01 hàng năm.
Thông qua việc lập và xét kế hoạch thu BHXH, BHXH các cấp sẽ định
lượng được khối lượng công việc phải làm trong thời gian tới. Cán bộ quản
lý thu sẽ quản lý xem khoảng thời gian lập kế hoạch của đơn vị mình đã đúng
với thời gian quy định chưa. Đồng thời dựa vào kế hoạch thu BHXH hàng
năm tiến hành công tác quản lý các nguồn thu, triển khai công tác nghiệp vụ
chuyên môn.
* Quản lý tiền thu