Tình tr ạng dinh dưỡng và hiệu qu ả can thiệp gạo tăng cường s ắt, kẽm ở trẻ em từ 36 đến dưới 60 tháng tu ổi tại huyện vũ thư tỉnh thái bình tt - Pdf 55

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng trưởng ở trẻ em bị chi phối bởi nhiều yếu tố: yếu tố di truyền và
môi trường bên ngoài trong đó có dinh dưỡng. Dinh dưỡng hợp lý là yếu tố
môi trường quan trọng đối với sự tăng trưởng và kiểm soát sức khỏe, bệnh tật
trong các giai đoạn vòng đời. Đầu tư cho dinh dưỡng xuyên suốt vòng đời
không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế mà còn mang ý nghĩa xã hội thiết thực
như tiết kiệm chi phí chăm sóc y tế, tăng năng lực trí tuệ và năng suất lao
động của người trưởng thành. Dinh dưỡng chính là nền tảng cho sự phát triển
thể lực, sức khoẻ, trí tuệ, tầm vóc của trẻ.
Khi nhắc tới Suy dinh dưỡng (SDD), các chuyên gia cho rằng nó không
chỉ đơn thuần là nạn đói mà còn ám chỉ khái niệm "đói tiềm ẩn" hay tình
trạng thiếu các vi chất thiết yếu như Vitamin D, A, sắt và kẽm. Đây đang là
vấn đề có nghĩa sức khỏe cộng đồng, trong đó nhóm đối tượng có nguy cơ
cao là phụ nữ và trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi. Các số liệu điều tra của
Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho thấy, tỷ lệ thiếu hụt vi chất dinh dưỡng trẻ
em ở mức trên 30%.
Sự thiếu hụt về vi chất dinh dưỡng hoàn toàn có thể phòng ngừa và
thanh toán được nếu các đối tượng có nguy cơ được bổ sung liên tục một
lượng nhỏ các vi chất đó. Để phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng có thể
thực hiện nhiều giải pháp trong đó có giải pháp tăng cường vi chất vào thực
phẩm. Thực phẩm được sử dụng tăng cường vi chất thường là các thực
phẩm được người dân sử dụng thường xuyên. Tăng cường vi chất vào thực
phẩm là can thiệp lâu dài khả thi và bền vững nhằm cải thiện vấn đề thiếu vi
chất dinh dưỡng.
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp và gạo là nguồn lương thực chính của
người dân. Cho tới nay chưa có nghiên cứu nào về đánh giá hiệu quả của gạo
tăng cường đa vi chất lên tình trạng sức khỏe của người dân nói chung và trẻ
em nói riêng. Việc đánh giá hiệu quả của sử dụng gạo tăng cường đa vi chất

4. Bố cục của luận án
Luận án gồm 115 trang, 31 bảng, 4 biểu đồ và 129 tài liệu tham khảo
trong đó có 76 tài liệu nước ngoài. Phần đặt vấn đề 2 trang, tổng quan tài liệu
31 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 23 trang, kết quả nghiên cứu
28 trang, bàn luận 28 trang, kết luận và kiến nghị 3 trang.


3

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình SDD ở trẻ em hiện nay và một số yếu tố liên quan
1.1.1. Tình hình SDD ở trẻ em trên Thế giới
Từ 576 cuộc điều tra đại diện của các quốc gia và vùng lãnh thổ trong
giai đoạn 1990 đến 2010 cho thấy năm 1990 trên thế giới tỷ lệ trẻ dưới 5
tuổi bị SDD thể thấp còi chiếm khoảng 40%. Vùng châu Mỹ La tinh và
Caribe là 24,6%. Tỷ lệ SDD thấp còi châu Á năm 1990 là 48,4%. Các quốc
gia đang phát triển là 44,6%; các quốc gia phát triển 6,1%. Đến năm 2010
trên toàn cầu, thấp còi ở trẻ em đã giảm từ 39,7% xuống còn 26,7%. Tuy
nhiên, mức độ giảm tỷ lệ SDD thấp còi có sự khác nhau rõ rệt giữa các khu
vực. Ở châu Phi tỷ lệ thấp còi hầu như ít thay đổi. Sau 20 năm, tỷ lệ SDD
thấp còi vẫn dao động trong mức 40%, trong khi đó châu Á có những
chuyển biến mạnh mẽ, giảm đáng kể tỷ lệ SDD thấp còi từ 49% năm 1990
xuống còn 28% trong năm 2010. Tuy nhiên, ở đa số các nước đang phát
triển, thấp còi vẫn còn là một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng trong
giai đoạn hiện nay. Khoảng 80% trẻ dưới 5 tuổi thấp còi trên thế giới nằm ở
14 quốc gia trong đó nhiều quốc gia như Đông Timor, Burundi, Niger và
Madagascar, Banglades, Campuchia, Camarun, Etiopia có tỷ lệ trẻ em dưới
5 tuổi thấp còi cao nhất. Đến năm 2012 tỷ lệ thấp còi chung toàn thế giới
khoảng 25,0%, trong đó 56% ở Châu Á, 36% ở châu Phi. Đến năm 2015
trên toàn cầu có 156 triệu trẻ em bị SDD thấp còi, chiếm khoảng 23% tổng

Ba yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến SDD là an ninh thực phẩm,
thực hành dinh dưỡng kém và bệnh tật, các yếu tố này chịu ảnh hưởng lớn
của đói nghèo.
1.1.3.1. An ninh lương thực hộ gia đình không đảm bảo: An ninh lương
thực hộ gia đình không đảm bảo là yếu tố quan trọng dẫn đến thiếu lương
thực về số lượng và chất lượng - bao gồm thiếu năng lượng, protein và vi
chất dinh dưỡng. Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo đói ở các vùng sâu, vùng xa và
vùng khó khăn còn cao. Đó chính là nguyên nhân tiềm tàng đe dọa tình
trạng thiếu dinh dưỡng cá thể. Ngoài ra mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố
phụ thuộc vào khả năng tiếp cận thực phẩm ở từng hộ gia đình mà cụ thể là
phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức dinh dưỡng, phong tục tập quán kiêng
khem của từng nhóm dân tộc.
1.1.3.2. Thực hành dinh dưỡng kém: Thực hành dinh dưỡng kém liên
quan đến sự mất cân đối trong bữa ăn và sự lựa chọn ưu tiên cho trẻ em và


5

người mẹ mang thai. Ngay cả khi hộ gia đình đảm bảo được an ninh lương
thực vẫn có thể thiếu lương thực thực phẩm đối với cá thể, nhất là các cá thể
có nguy cơ cao như trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ mang thai… mà nguyên
nhân chủ yếu là do thực hành dinh dưỡng.
1.1.3.3. Vai trò của bệnh tật: Bệnh tật được coi là một trong hai nguyên
nhân trực tiếp gây suy dinh dưỡng ở trẻ em. Nhiễm trùng làm tăng sự hao
hụt các chất dinh dưỡng, trẻ biếng ăn và ăn với số lượng ít hơn do giảm
ngon miệng. Các nghiên cứu ước tính rằng nhiễm trùng ảnh hưởng đến 30%
sự giảm chiều cao ở trẻ em.
1.2. Thực trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em
Kết quả tổng điều tra quốc gia về Vi chất dinh dưỡng năm 2014, 2015
cho thấy ở nhóm tuổi càng nhỏ trẻ càng có nguy cơ thiếu máu cao: nhóm trẻ

2.2.1.1. Nghiên cứu mô tả cắt ngang: Xác định tỷ lệ SDD, tỷ lệ thiếu
máu và một số yếu tố liên quan ở trẻ em từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi.
2.2.1.2. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng ngẫu nhiên có đối chứng
Trẻ em từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi được chia làm 2 nhóm: nhóm can
thiệp và nhóm đối chứng. Trước khi áp dụng các biện pháp can thiệp, trẻ em
ở cả 2 nhóm đều được kiểm tra các chỉ số:
- Cân nặng, chiều cao.
- Xét nghiệm: Hb, kẽm huyết thanh, feritin huyết thanh (SF), TfR, CRP.
- Phỏng vấn bà mẹ về khẩu phần của trẻ
Nhóm can thiệp: Là những trẻ em từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi đang
sống tại xã Minh Khai, được ăn gạo tăng cường sắt, kẽm trong thời gian 12
tháng liên tục.
Nhóm đối chứng: Là những trẻ em từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi đang
sống tại xã Nguyên Xá, không được ăn gạo tăng cường sắt, kẽm.
Trẻ em tham gia nghiên cứu can thiệp được phân chia theo 2 nhóm tuổi
lúc bắt đầu tiến hành can thiệp:
+ Nhóm tuổi 1: Là nhóm 36-47 tháng tuổi.
+ Nhóm tuổi 2: Là nhóm 48 đến dưới 60 tháng tuổi.
Đánh giá kết quả qua điều tra tại các thời điểm M0; M12 có so sánh với
nhóm đối chứng tại M0 và M12.


7

2.2.2. Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
Cỡ mẫu:
p (1 − p )
- Cỡ mẫu để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ n = Z 2 (1− α / 2 )
d2
Theo tính toán n= 461 trẻ, vì chọn mẫu chùm nên cỡ mẫu nhân gấp đôi;

- Chọn địa bàn nghiên cứu: chủ động chọn huyện Vũ Thư.
- Chọn xã: Chọn ngẫu nhiên lấy 4 xã để nghiên cứu là xã Minh Khai, xã
Song Lãng, xã Nguyên Xá và xã Song An.
- Chọn đối tượng điều tra: Chọn toàn bộ các cháu từ 36 đến
140

29,4

25

5,3

17

3,6

Nữ (n=462)

51

11,0

106

22,9

14

3,0

11

2,4


Kết quả bảng cho thấy có 12,7% trẻ SDD nhẹ cân với tỷ lệ ở nam là
14,3% cao hơn ở nữ là 11,0% có ý nghĩa với p
62
25,2
236
48
20,3
> 0,05
48 -
5,7
1,7
17,1
2,5
14,5

Kết quả bảng trên cho thấy 28,5% trẻ bị ít nhất một thể SDD. Trong số
đó mắc SDD thấp còi đơn thuần chiếm 17,1% và ở trẻ nhóm tuổi 48-60 tháng
cao hơn nhóm 36-47 tháng với p 0,05
Nam
476
115
24,2

biến, nhóm trẻ có mẹ là công nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng thấp còi cao
hơn 1,8 lần (95%CI: 1,1-3,1) so với trẻ có mẹ là nông dân. Trẻ trong gia
đình có nhiều hơn 2 con và trẻ có thứ tự sinh từ thứ 2, thứ 3 trở lên có xu
hướng có suy dinh dưỡng cao hơn so với gia đình ít con và trẻ là con đầu
lòng nhưng khác biệt này không có ý nghĩa thống kê cả trong phân tích đơn
biến và đa biến (p>0,05). Trẻ nam và nhóm 48-60 tháng tuổi có nguy cơ suy
dinh dưỡng hơn 1,4 lần so với trẻ nữ cả trong phân tích đơn và đa biến
(p 0,05

%P
%L
%G
Nhóm
tuổi
Giới
tính

36-47 tháng

1116,9±189,6 16,1±2,6 27,4±9,2

56,7±10,7

48-
78
28,1
Nam
145
100,0
Năng lượng do
Nữ
133
100,0
protein đóng góp
Chung
278
100,0
Nam
87
60,0
Protein ĐV/ tổng
Nữ
75
56,4
đạt 60%
Chung
162
58,3
Nam
62
42,8
Năng lượng do
Nữ
71

±SD

477±204,5

Tỷ lệ đạt nhu cầu KN
n
%
67
24,1

4,2±1,5

141

50,7

669,7±192,3

228

82,0

4,9±2,3

132

47,5

Kết quả bảng trên cho thấy hàm lượng trung bình Calci, kẽm, photphos,
sắt của trẻ lần lượt là: 477±204,5 mg; 4,2±1,5 µg; 669,7±192,3 mg;


57,9±31,2

< 0,05

TfR huyết thanh (µg/L)

2,76±0,63

2,79±0,81

> 0,05

CRP huyết thanh

0,75±0,85

0,88±1,11

> 0,05

Chỉ số xét nghiệm
Hb (g/dl)
Kẽm (µmol/l)

Kết quả bảng trên cho thấy, không có sự khác biệt về nồng độ trung bình
các chỉ số Hb, kẽm, TfR huyết thanh, CRP huyết thanh của của 2 nhóm đối
chứng và ở nhóm can thiệp không có sự khác biệt với p >0,05. Chỉ số Ferritin
huyết thanh của nhóm can thiệp cao hơn nhóm chứng. Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p
> 0,05

Thiếu kẽm

102

66,2

94

65,7

> 0,05

Thiếu máu, thiếu kẽm
kết hợp

28

18,2

35

24,5

> 0,05

Kết quả bảng trên cho thấy, tỷ lệ thiếu máu, tỷ lệ thiếu kẽm, tỷ lệ thiếu
máu thiếu kẽm kết hợp ở nhóm đối chứng lần lượt là 28,3%; 65,9% và
19,5%. Tỷ lệ thiếu máu, tỷ lệ thiếu kẽm, tỷ lệ thiếu máu thiếu kẽm kết hợp ở

5,8

0

0,0

-

Dự trữ sắt thấp
(Ferritin 0,05

Thiếu sắt mô
(TfR> 8,6 µg/L)

1

0,6

2



M12

16,2±1,96

16,5±2,3

> 0,05

M12 - M0

1,67±0,23

1,77±0,43

Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân CN/T: n (%)
M0

21 (12,6)

20 (12,7)

> 0,05

M12

21 (12,6)

12 (7,6)


Nhóm ĐC
(n=167)

Nhóm CT
(n=157)

Chiều cao trung bình (cm,

p

X ± SD)

M0

97,5±5,2

98,4±5,97

> 0,05

M12

102,7±5,3

105,4±5,99

< 0,05

M12 - M0



M12

48 (28,7)

29 (18,5)

< 0,05

>0,05



4,4

5,7



2,8±0,82

>0,05

2,81±1,11

2,54±0,57

< 0,05

0,044±1,00

-0,26±0,83

0,05


(n=151)

Nhóm CT
(n=140)

p

M0

40 (26,5)

42 (30,0)

> 0,05

M12

35 (23,5)

21 (15,0)

< 0,05

Mức giảm thiếu máu (%)

3,0

15,0

< 0,05


Mức giảm thiếu kẽm (%)

17,3

39,3

< 0,05

CSHQ (%)

26,3

59,8

< 0,05

Thiếu kẽm (%)

HQCT (%)

33,5

Kết quả bảng trên cho thấy cả 2 nhóm đều giảm tỷ lệ thiếu máu và thiếu
kẽm nhưng mức độ giảm ở nhóm can thiệp cao hơn nhóm đối chứng. Hiệu
quả can thiệp giảm tỷ lệ thiếu máu và thiếu kẽm là 37,5% và 33,5%.
Bảng 3.17. Hiệu quả can thiệp đối với dự trữ sắt của trẻ qua các thời điểm
can thiệp.
Nhóm ĐC Nhóm CT
(n=151)


< 0,05

Chỉ số hiệu quả (%)

16,7

57,5

< 0,05

Hiệu quả can thiệp (%)

p

40,8

Kết quả bảng trên cho thấy dự trữ sắt của trẻ đã có cải thiện đáng kể sau
can thiệp. Hiệu quả can thiệp cải thiện dự trữ sắt của trẻ là 40,8%.


18

CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm suy dinh dưỡng, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em từ 36 đến dưới 60
tháng tuổi và một số yếu tố liên quan.
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện tại 4 xã của huyện Vũ Thư, tỉnh
Thái Bình, kết quả cho thấy: Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân chung ở trẻ em từ 36 đến
dưới 60 tháng tuổi là 12,7%, trong đó ở trẻ trai (14,3%) cao hơn trẻ gái
(11,0%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p
dưỡng với 16,1%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p
vấn dinh dưỡng, trẻ được ăn cơm có gạo nấu ăn hằng ngày trộn với gạo
premix (gạo tăng cường sắt, kẽm trong thời gian 12 tháng liên tục).


21

Kết quả sau 12 tháng can thiệp, mức tăng cân mức tăng cân ở nhóm
ĐC là 1,67 (kg) thấp hơn so với nhóm CT 1,77 (kg), sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p
độ kẽm huyết thanh và kẽm ở tóc chưa tăng tương ứng.
Một nghiên cứu đánh giá khẩu phần ăn của phụ nữ và trẻ em nông thôn
Bangladeh đã cho thấy khẩu phần kẽm hàng ngày cũng chỉ đạt 2,5mg ở trẻ
em và 5,4mg ở phụ nữ. Trong đó có 49% và 69% kẽm trong khẩu phần cho
trẻ em và phụ nữ được cung cấp từ gạo. Do đó, nghiên cứu đã khuyến cáo
lựa chọn giống gạo có hàm lượng kẽm cao giúp phòng chống thiếu kẽm cho
các đối tượng.
Trong nghiên cứu chúng tôi đã bổ sung sắt, kẽm vào gạo trong khẩu
phần ăn của trẻ ở nhóm CT nên đã làm tăng đáng kể hàm lượng sắt, kẽm
trong khẩu phần cho trẻ, giúp tăng thúc đẩy phát triển cân nặng, chiều cao
của trẻ, đồng thời giảm tỷ lệ thiếu kẽm, thiếu máu, tăng dự trữ sắt. Đây là
hướng can thiệp tốt cho chương trình phòng chống SDD hiện nay.


23

KẾT LUẬN
1. Tỷ lệ suy dinh dưỡng, tỷ lệ thiếu máu, ở trẻ em từ 36 đến dưới 60 tháng
tuổi và một số yếu tố liên quan
Tỷ lệ SDD của trẻ từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi còn cao (28,5%), trong
đó SDD thấp còi chiếm 26,2%, SDD thể nhẹ cân là 12,7%, SDD gầy còm là
4,2% và chỉ có 3% trẻ bị thừa cân, béo phì. Trẻ nam và nhóm trẻ 48-
thiệp là 37,5% và 40,8%
KHUYẾN NGHỊ
1. Cần triển khai mở rộng giải pháp tăng cường sắt, kẽm vào gạo nhằm
nâng cao giá trị dinh dưỡng của gạo, trong phòng chống SDD và thiếu vi chất
dinh dưỡng ở trẻ em và cả cộng đồng, vì đây là biện pháp hiệu quả và khả thi
trong điều kiện của vùng nông thôn, nông nghiệp như Thái Bình.
2. Cần triển khai nghiên cứu trong thời gian dài hơn trên các nhóm đối
tượng khác nhau để khẳng định hiệu quả của giải pháp trong phòng chống
SDD và thiếu vi chất dinh dưỡng ở cộng đồng và được cộng đồng chấp nhận.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status