PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học là nhu cầu thiết
yếu đặt ra đối với những người đang làm nhiệm vụ giảng dạy. Ngoài việc cung cấp
kiến thức như các môn học khác, môn Ngữ Văn còn góp phần to lớn trong việc bồi
dưỡng tư tưởng tình cảm cho các em học sinh: biết yêu thương, quý trọng gia đình,
thầy cô, bạn bè, có lòng yêu nước, biết hướng tới những tư tưởng cao đẹp như lòng
nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái ác, cái xấu, bước
đầu các em có năng lực cảm thụ các tác phẩm có giá trị nhân văn cao cả.
Vậy, làm thế nào để học sinh ngày nay có tình yêu bộ môn xã hội và đặc biệt có thể
học tốt Ngữ Văn? Đó là vấn đề khiến nhiều giáo viên dạy Ngữ Văn trăn trở.
Dạy văn trong nhà trường phổ thông đang là một thử thách lớn với GV hiện
nay. Dạy như thế nào cho hay, hiệu quả cao, tạo sự hứng thú, say mê cho HS quả
thực là cả một vấn đề lớn. Việc HS không thích thú với môn văn cũng có nhiều lí do,
tuy nhiên có một nguyên nhân khá quan trọng đó là: Thầy cô giáo chưa thực sự tạo ra
sự cuốn hút HS bằng bài giảng của mình. Thầy cô chưa thực sự có nhưng bước ngoặt
đột phá trong việc đổi mới phương pháp, vẫn nặng về phương pháp truyền thống thế
nên việc dạy và học chưa thực sự hiệu quả.
Từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở THCS nhiều năm, tôi nhận thấy muốn
giờ dạy đạt hiệu quả cao, ngoài việc truyền đạt kiến thức, tôi nghĩ rằng mình cần phải
biết gây hứng thú học tập cho học sinh để tiết học thực sự nhẹ nhàng, sinh động; học
sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên, không gượng ép. Từ đó mới phát huy thực
sự tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh.
Với vai trò tổ chức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của HS, hơn ai
hết việc phải tìm ra nhiều biện pháp để phát huy cao nhất tính tích cực sáng tạo của
người học, tạo niềm hứng thú say mê học tập ở các em chính là nhiệm vụ quan trọng
đối với mỗi người GV đứng lớp. Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong
muốn góp một phần vào việc tạo thêm hứng thú cho người học, giúp học sinh tích
cực, chủ động tiếp nhận tri thức và hình thành kĩ năng, phát triển nhân cách, đồng
thời nhằm góp phần đổi mới những phương pháp dạy học Ngữ văn truyền thống tôi
mạnh dạn xin được trao đổi một số kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng
chung là phải có lòng bao dung, vị tha, phải đứng trên quan điểm khách quan, có sự
nghiên cứu tìm ra giải pháp để lôi cuốn học sinh đến gần hơn và yêu thích môn Văn
hơn.
Thực tế cũng đã chứng minh rằng, khi giáo viên khơi gợi được hứng thú học
tập thì hiệu quả được nâng cao, học sinh tích cực chủ động trong học tập. Trong
phạm vi của Sáng Kiến Kinh Nghiệm, tôi xin đề cập đến phương pháp: “Một số kinh
nghiệm hữu ích giúp học sinh học tốt môn Ngữ văn 8” với mục đích thực hiện
mục tiêu đổi mới phương pháp dạy và học. Đồng thời phát huy được tính tích cực, tự
giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học.
Bồi dưỡng cho các em phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh khi học bộ môn Ngữ Văn.
II. Thực trạng vấn đề:
1. Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của Sở, Phòng giáo dục và Ban giám hiệu nên hàng năm
các giáo viên đều được bồi dưỡng thường xuyên về vấn đề thay sách và đổi mới
phương pháp dạy học.
- Các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn đều đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ,
có lòng yêu nghề, nhiệt tình trong giảng dạy. Xác định tầm quan trọng của môn Ngữ
Văn nên đa số học sinh có ý thức học tập bộ môn. Học sinh đại đa số là con em nông
dân nên tâm tư rất thuần chất, chăm chỉ, biết lắng nghe, có ý thức cố gắng trong học
tập.
- Bên cạnh đó tôi còn được sự giúp đỡ nhiệt tình và trao đổi những kinh nghiệm
quý báu từ các đồng nghiệp trong tổ. Bản thân tôi cũng có nhiều cố gắng học hỏi, tìm
tòi những phương pháp giảng dạy phù hợp nhằm nâng cao chất lượng bộ môn và đặc
biệt là giúp các em ham thích môn học này.
2
không chuẩn bị bài trước sẽ khiến giờ học rất nhàm chán, buồn ngủ với học sinh. Để
các em yêu thích học bộ môn, tôi thay đổi không khí học, hứng thú hơn vào tiết học,
tôi thường lồng ghép vào bài giảng những mẫu chuyện nhỏ, những câu đố hay, giúp
các em có thêm năng lực tư duy, phán đoán và kĩ năng sống.
Bên cạnh đó, cần phải hướng cho học sinh ngay từ đầu năm về quy cách học,
yêu cầu của giáo viên cần với bộ môn. Sát sao, nghiêm khắc ngay từ những tiết học
đầu để học sinh làm theo như: cách thức chuẩn bị bài, soạn bài, kiểm tra bài cũ, thu
vở chấm định kì, lấy vào điểm kiểm tra thường xuyên. Khuyến khích các em qua
việc chấm điểm khi các em sôi nổi xây dựng bài, cộng điểm khi có những phát hiện
3
hay trên tiết học,... Ngoài ra, giáo viên cần phải lồng ghép nhiều cách thức khác tôi
sẽ trình bày cụ thể dưới đây.
2.2. Cách thức thực hiện:
a. Hướng dẫn học sinh cách học (trên lớp và ở nhà)
Tạo niềm yêu thích và sự hứng thú khi học Ngữ văn
Qua thực tế giảng dạy, dù là môn học nào, khi không có sự hứng thú thì học
sinh sẽ trở nên lười suy nghĩ, làm bài một cách máy móc, chống đối và môn Ngữ văn
cũng thế. Tôi nhận thấy muốn giờ dạy đạt hiệu quả cao, giáo viên phải khơi dậy được
hứng thú học tập của học sinh. Từ đó mới phát huy được tính chủ động, tích cực,
sáng tạo của học sinh. Thực tế cũng đã chứng minh rằng, khi giáo viên khơi gợi được
hứng thú học tập thì hiệu quả được nâng cao, học sinh tích cực chủ động trong học
tập. Học môn Ngữ văn cũng tùy thuộc vào tâm trạng, cảm xúc của người học. Nếu
bạn muốn học tốt môn Ngữ Văn thì bạn cần tìm động lực, niềm vui để có thể bắt đầu
học môn này.
Đồng chí Lê Duẩn từng nói: “Thầy giáo không chỉ dạy cho học trò bằng
những công thức, bằng những câu, những từ có sẵn mà phải dạy bằng tất cả tâm hồn
mình”. Để học sinh luôn chủ động, tích cực, tự giác đặc biệt có hứng thú với môn
học, trước hết, giáo viên phải truyền dạy tri thức bằng tất cả trái tim và lòng tâm
những tiết dạy hơn. Vận dụng linh hoạt, hiệu quả các phương pháp và kĩ thuật dạy
học tích cực. Nên ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng văn, với sự hỗ trợ
của các phần mềm như Powrpoint kết hợp với các phương tiện hiện đại như máy vi
tính, máy chiếu ...làm cho giờ học được hấp dẫn, mới mẻ hơn.
Từ thực tế hiệu quả của bài dạy có ứng dụng công nghệ thông tin, tôi
cảm thấy sử dụng bài giảng điện tử, có ứng dụng công nghệ thông tin với chức năng
ưu việt của nó làm cho giờ học sinh động, hấp dẫn hơn do có nhiều nguồn cung
cấp thông tin và kiến thức, học sinh hứng thú và say mê với môn học hơn.
Ví dụ: Khi dạy bài văn bản nhật dụng “Ôn dịch thuốc lá” giáo viên cho học
sinh tham khảo, xem nhữn hình ảnh, tư liệu về tác giả, tác phẩm có liên quan để tạo
sự thu hút, tăng tính hấp dẫn và sinh động cho tiết dạy.
Học sinh quan sát tư liệu, hình ảnh về: tác giả Nguyễn Khắc Viện và văn bản: “Ôn
dịch, thuốc lá”
Học sinh quan sát tư liệu về các chất độc hại có trong điếu thuốc lá
5
Học sinh quan sát về hình ảnh: Hút thuốc lá gây ung thư phổi và các bệnh
nguy hiểm khác
Hay trình chiếu những tư liệu, hình ảnh khi dạy bài thơ “Quê hương” của Tế
Hanh
6
Học sinh quan sát về hình ảnh “Quê hương” qua thơ Tế Hanh
Học bài cũ, soạn đủ bài mới trước khi đến lớp
7
của học sinh có cẩn thận, có đầu tư hay không. Tránh việc các em chỉ soạn chống đối,
soạn vắn tắt, soạn cho có lệ.
Giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh xác định nội dung học tập:
- Với phân môn Văn (Phần văn bản)
+ Đọc lại toàn bộ văn bản trước khi học (Mặc dù ở phần học chính khoá đã
đọc). Đối với văn bản là tác phẩm thơ phải học thuộc, là văn xuôi phải tóm tắt dược
nội dung của văn bản, học thuộc dẫn chứng.
+ Với những tác phẩm có tác giả cần nắm chắc được về tiểu sử tác giả (Năm
sinh năm mất- nếu có- tên khai sinh, bút danh, quê quán), sự nghiệp văn chương của
tác giả đó, hiểu được hoàn cảnh sáng tác tác phẩm
+ Nắm chắc được giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm (tìm hiểu
phần nội dung cần đạt, phần ghi nhớ).
+ Biết phân tích, cảm thụ một số chi tiết (câu, đoạn) được cho là đặc sắc (Đối
với học sinh khá giỏi)
8
- Đối với phân môn Tiếng Việt
+ Học thuộc các khái niệm, vận dụng làm tốt các bài tập từ dễ đến khó(Từ
nhận biết đến thông hiểu, vận dụng ở mức độ thấp, vận dụng ở mức độ cao)
+ Với các biện pháp tu từ biết phát hiện đúng, nêu được tác dụng của phép tu
từ đó trong hoàn cảnh sử dụng.
+ Biết viết câu, viết đoạn (mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn) với nhiều chủ đề và
yêu cầu khác nhau (Diễn dịch, quy nạp…)
- Đối với phân môn Tập làm văn
+ Nắm được dặc trưng các thể loại: Miêu tả, Tự sự, Biểu cảm, Nghị luận,
thuyết minh, hành chính công vụ.
+ Sau khi đọc đề bài, phải biết tìm hiểu đề, tìm ý; biết cách lập dàn ý; biết viết
các đoạn để hoàn chỉnh bài viết.
Chú ý lắng nghe giáo viên giảng bài
Làm bài tập về nhà sau mỗi bài học là nội dung công việc tự học, sẽ giúp bạn
củng cố hơn về kiến thức, làm bài văn tốt hơn vừa là tiền đề giải quyết mâu thuẩn
nhận thức giữa cái đã biết và cái chưa biết, hình thành quá trình dạy-học tiếp theo.
Quá trình giải bài tập người dạy cần có hướng dẫn cụ thể, không phải bài tập nào học
sinh cũng giải được hết (loại trừ bài tập nâng cao). Người dạy yêu cầu người học
thực hiện công việc giải bài tập trong quá trình tự học để tạo thành nếp học tập tốt.
Nếu bạn không làm bài về nhà, bạn sẽ dần quên kiến thức ở trên lớp, dẫn tới kiến
thức bị hổng. Do đó, nếu muốn học tốt môn ngữ Văn lớp 8 thì bên cạnh lắng nghe
giáo viên giảng bài thì bạn cần làm bài tập, luyện viết văn. Cần hết sức tránh yêu cầu
giải hết bài tập “phải giải hết, đúng sai tính sau” một khuynh hướng cực đoan trong
dạy học chỉ gây ra tâm lý ức chế chán học cho học sinh mà chưa nhìn nhận được nhu
cầu, tâm, lý hứng thú học tập của từng cá thể.
Tham khảo văn mẫu
Sử dụng văn mẫu để tham khảo sẽ giúp bạn biết được cách diễn đạt, cách trình
bày một bài văn và sử dụng từ ngữ đúng hơn, có tính chọn lọc hơn. Tham khảo ở đây
là chỉ đọc qua và tóm tắt các ý chính trong bài viết rồi bạn viết bài theo ý hiểu của
mình. Muốn học tốt môn Ngữ văn lớp 8 thì bạn phải chăm chỉ và có niềm yêu thích
môn văn. Khi đã yêu thích và chăm chỉ đọc trước, làm soạn văn lớp 8, làm bài tập về
nhà thì dù chương trình khó tới mấy thì bạn vẫn có thể học được, học tốt môn Văn.
b. Vận dụng linh hoạt, hiệu quả các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực.
Bên cạnh những phương pháp dạy học theo đặc trưng của bộ môn Ngữ văn,
việc phát huy các phương pháp dạy học tích cực cũng góp phần vào việc đổi mới
phương pháp dạy học Ngữ văn hiệu quả, đồng thời khơi dậy niềm hứng thú, yêu
thích môn học...
Có nhiều phương pháp dạy học tích cực mà GV có thể sử dụng như:
+ Sân khấu hóa tác phẩm văn học: Để tăng cảm hứng học tập môn ngữ văn cho
các em học sinh và khuyến khích tinh thần đọc sách, cũng như sự cảm thụ tác phẩm
văn học và đồng sáng tạo cùng nhà văn giáo viên có thể cho các em học sinh học
theo cách sân khấu hóa tác phẩm văn học. Nghĩa là học Văn bằng diễn kịch. Nghĩa là
học sinh sẽ chuyển thể tác phẩm văn học thành vở diễn, sau đó thảo luận những vấn
c. Đa dạng hoá các hình thức kiểm tra, đánh giá
Với việc kiểm tra thường xuyên, giáo viên cần đa dạng hoá để học sinh phải tự
giác học tập.
- Kiểm tra vở ghi: Kiểm tra chữ viết, kiểm tra nội dung ghi chép có đầy đủ
không (nhắc nhở về cách ghi chép)
- Kiểm tra sách, tài liệu - sách tham khảo, vở nháp của học sinh. Học sinh nào
chưa có, chưa đúng yêu cầu nhắc nhở để kiểm tra lại. Nên giới thiệu một số sách
tham khảo cho học sinh sưu tầm để học tập.
- Kiểm tra đầu giờ,
+ Kiểm tra miệng: Nội dung đã nhắc từ tiết trước
+ Vừa kiểm tra miệng, vừa kiểm tra viết: Kiểm tra miệng có thể là tác giả, bài
văn; kiểm tra viết có thể cho học sinh viết nội dung nghệ thuật của tác phẩm truyện,
bài thơ,…
+ Làm bài tập Tiếng Việt: Nếu bài tập trong sách giáo khoa nên kiểm tra sách
của học sinh để tránh việc học sinh ghi lời giải vào bài tập trong sách. Có thể ra bài
tập tương tự SGK, bài tập nâng cao (HS khá, giỏi)
Đối với học sinh chưa thuộc kĩ hoặc không thuộc. Lần đầu cho kiểm tra vào cuối tiết.
lần 2 cho học lại và kiểm tra vào tiết học chuyên đề, lần tiếp theo có thể bố trí riêng
một buổi để kiểm tra nếu không sửa chữa sẽ mời gia đình đến để thông báo, nắhc
nhở, trao đổi thêm. Đối với những học sinh cá biệt như lười học, yếu kĩ năng, ... giáo
viên nên lập một danh sách riêng để chú ý kiểm tra nhiều hơn.
Hướng dẫn học sinh cách làm bài:
- Phần trắc nghiệm: Học sinh thường hay nhầm lẫn ở tác giả, phương thức biểu
đạt, … vì thế giáo viên cần nhắc nhở thường xuyên để học sinh tránh các lỗi đó. Cần
cho học sinh nắm rõ các hình thức trắc nghiệm: trắc nghiệm nhiều lựa chon, trắc
nghiệm điền khuyết, trắc nghiệm ghép đôi, ...
- Phần tự luận: Khi làm phần tự luận cũng cần chú ý ở từng câu. Học sinh
thường chủ quan khi đọc câu hỏi, thấy câu nào quen thường chú tâm vào làm mà
13
của học sinh, nhất là những học sinh chưa chịu khó, chưa tích cực đề xuất các hình
thức khen thưởng, kỉ luật kịp thời.
g. Kết hợp gia đình học sinh
Phối hợp với gia đình để nâng cao chất lượng dạy - học: Giáo viên dạy Văn
thường là các giáo viên chủ nhiệm nên có thể trao đổi với phụ huynh qua buổi họp
phụ huynh, nếu không có thể đến gặp gỡ với gia đình, trao đổi qua điện thoại, thư, …
để gia đình đôn đốc nhắc nhở, kiểm tra học sinh giúp học sinh chăm chỉ tích cực hơn
nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn.
Có thể đề nghị nhà trường tổ chức họp phụ huynh từng lớp hoặc theo đối
tượng học sinh (Trung bình, Yếu) để thông báo với gia đình, bàn với gia đình những
biện pháp nâng cao chất lượng học tập.
IV. Tính mới của giải pháp:
Đây là phương pháp mới mang tính giáo dục cao, vì qua ba năm áp dụng liên
tục tôi nhận thấy các học sinh có ý thức học bài cũ, soạn bài mới đầy đủ, có sự đầu tư
14
rõ rệt. Ý thức của học sinh trong việc học tập bộ môn hiện nay khá nghiêm túc, ý
thức đó thể hiện qua việc tích cực trong xây dựng bài, chú ý nghe giảng và chép bài
đầy đủ. Một số học sinh do nhút nhát nên không xung phong trả lời bài cũ hay tham
gia xây dựng bài mới; nhưng đa số các học sinh đều có khả năng trả lời các câu hỏi ở
những mức độ khác nhau. Một số học sinh còn có khả năng trả lời những câu hỏi
nâng cao kiến thức để bài học được khắc sâu.
Từ đó giúp học sinh có tinh thần tự giác học tập, nâng cao chất lượng bộ môn.
Điều này thấy rõ nhất qua chất lượng bài kiểm tra định kì, kiểm tra cuối học kì tỉ lệ
bộ môn tăng lên rõ rệt so với các lớp khác.
V. Hiệu quả SKKN:
Qua thực tiễn giảng dạy áp dụng những giải pháp trên, bản thân tôi nhận thấy:
- Các em đã có khả năng tự lực cao và không còn quá phụ thuộc vào giáo viên
nữa.
Tỉ lệ
Điểm Tỉ lệ
Yếu
8A1
36
6
16,6%
18
50%
12
33,3%
0
0
8A2
36
Tỉ lệ
Điểm
TB
Tỉ lệ
Điểm Tỉ lệ
yếu
8A1
37
6
16,2%
22
59,4%
9
24,3%
0
0
Sĩ
Điểm
Tỉ lệ
Điểm Tỉ lệ
15
số
Giỏi
Khá
TB
Yếu
8A2
37
5
13,5%
21
PHẦN THỨ HAI: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận:
Với tất cả những gì tôi đề cập ở trên, bản thân tôi đã thực hiện có kết quả khá
khả quan nhưng không phải tiết học nào tôi cũng thành công bởi không phải học sinh
nào cũng làm được những gì mà giáo viên yêu cầu. Mặc dù chất lượng môn Văn
chưa được cải thiện nhiều bởi những nguyên nhân khác nhau nhưng một số học sinh
lớp tôi dạy không còn quá “ghét” môn Văn nữa, thậm chí một số em đã bắt đầu yêu
thích môn Văn. Tuy nhiên học tốt Văn không phải chỉ cần cần cù, chăm chỉ mà cần
phải có một chút năng khiếu và nghề dạy Văn cũng không phải là một nghề đơn giản
chỉ truyền thụ kiến thức mà còn giáo dục tâm hồn, nhân cách cho học sinh. Đó là một
điều khó mà không phải ai cũng làm được.
Trong quá trình áp dụng đề tài này vào trong thực tiễn giảng dạy, tôi thấy kết
quả có chuyển biến, chất lượng bộ môn được nâng lên. Số học sinh mà tôi dạy ngày
càng yêu thích học môn Ngữ văn hơn. Các em chủ động sáng tạo trong giờ học,
mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài học. Và đặc biệt học sinh làm tốt dạng viết
đoạn văn cảm nhận về nhân vật và dạng văn thuyết minh. Điều này được thể hiện cụ
thể qua các kì thi học kì.
II. Kiến nghị:
Ban giám hiệu nhà trường:
Đầu tư đồng bộ và đầy đủ các thiết bị về đồ dùng dạy học, máy móc cần thiết
để giáo viên sử dụng trong quá trình giảng dạy.
Tăng tính hoạt động hiệu quả của “Thư viện thông minh”, bổ sung thêm các
loại sách tham khảo ở thư viện để các em có thể mượn đọc những cuốn sách mà các
em cần để thuận tiện cho việc học.
Tổ trưởng và Ban giám hiệu cũng cần thường xuyên kiểm tra việc thực hiện
quy trình này của giáo viên bằng những hình thức khác nhau như kiểm tra giáo án,
dự giờ đột xuất, kiểm tra việc sử dụng đồ dùng dạy học cũng như sử dụng ứng dụng
công nghệ thông tin vào tiết dạy và của giáo viên.
Đối với giáo viên Ngữ văn
dạy học bộ môn. Tuy nhiên đó cũng chỉ là những ý kiến cá nhân. Trong thực tế còn
có rất nhiều các kinh nghiệm từ các đồng nghiệp, tôi cũng rất mong nhận được sự
góp ý quý báu của Ban giám hiệu, Tổ chuyên môn cùng các đồng nghiệp để cho đề
tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Buôn Trấp, ngày 25 tháng 4 năm 2019
Người viết sáng kiến
Tạ Thị Hạnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một – NXB Giáo Dục
2. Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập hai – NXB Giáo Dục
3. Sách giáo viên Ngữ văn 8, tập một và hai - NXB Giáo Dục
17
4. Tài liệu tập huấn giáo viên của Bộ giáo dục và đào tạo về đổi mới phương pháp
dạy học (Tài liệu lưu hành nội bộ)
5. Bộ giáo dục và đào tạo – Dự án phát triển Giáo dục THCS II Một số chuyên đề bồi
dưỡng Cán bộ quản lí và giáo viên THCS. (Tài liệu lưu hành nội bộ)
6. Tham khảo tài liệu trên google.vn
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU..........................................................................................1
1. Đặt vấn đề.....................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu...................................................................................1
18