Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

PHAN THÚY HẰNG

YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG TIỂU THUYẾT
VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

HUẾ - NĂM 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

PHAN THÚY HẰNG

YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG TIỂU THUYẾT
VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 9220121

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. PHAN TRỌNG THƯỞNG
2. PGS.TS. HOÀNG THỊ HUẾ


VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000 ............................................................................26
2.1. Khái lược về văn hóa dân gian và mối quan hệ giữa văn hóa dân gian với tiểu
thuyết Việt Nam hiện đại ......................................................................................26
2.1.1. Khái niệm văn hóa dân gian ....................................................................26
2.1.2. Nhận diện các thành tố của văn hóa dân gian .........................................29
iv


2.1.3. Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian với tiểu thuyết Việt Nam hiện đại .32
2.2. Tác động của văn hóa dân gian đến tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 ....39
2.2.1. Văn hóa dân gian với sự thay đổi về tư duy nghệ thuật ..........................39
2.2.2. Văn hóa dân gian với sự cách tân về nghệ thuật thể hiện .......................43
2.3. Các tín ngưỡng dân gian - nguồn nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo của nhà văn.... 46
2.3.1. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và những người đã khuất ...........................47
2.3.2. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên .................................................................52
2.3.3. Tín ngưỡng thờ Mẫu ...............................................................................55
Chương 3: YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT
NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000 - NHÌN TỪ THẾ GIỚI NHÂN VẬT, KHÔNG
GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT...............................................................59
3.1. Yếu tố văn hóa dân gian nhìn từ thế giới nhân vật ........................................59
3.1.1. Nhân vật trong mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, dòng tộc ......59
3.1.2. Nhân vật tâm linh ....................................................................................66
3.2. Yếu tố văn hóa dân gian nhìn từ không gian nghệ thuật................................71
3.2.1. Không gian hiện thực gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng ..................71
3.2.2. Không gian huyền ảo, siêu thực ..............................................................74
3.3. Yếu tố văn hóa dân gian nhìn từ thời gian nghệ thuật ...................................84
3.3.1. Thời gian phiếm định và sự huyền thoại hóa thời gian hiện thực ...........84
3.3.2. Thời gian kì ảo ........................................................................................90
Chương 4: YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
TỪ 1986 ĐẾN 2000 - NHÌN TỪ NGÔN NGỮ, MOTIF VÀ BIỂU TƯỢNG ............ 97

phạm vi hình thức (như motif, hình ảnh, cốt truyện, ngôn ngữ, thể loại…), người ta
đã nhìn sâu hơn đến chiều kích tư tưởng, tinh thần (như tín ngưỡng, các nghi lễ, tập
quán dân gian) thể hiện trong các sáng tác văn học. Trước kho tàng văn hóa dân
gian vô cùng phong phú, mỗi nhà văn tiếp nhận đến đâu, tiếp nhận như thế nào và
thể hiện “tri thức dân gian” ra sao lại tùy thuộc vào tài năng và cá tính của tác giả.
Quá trình tiếp biến văn hóa này diễn ra xuyên suốt và liên tục trong lịch sử văn
học. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu sự ảnh hưởng chủ yếu nhằm bảo tồn cốt lõi folklore
truyền thống, yếu tố văn hóa dân gian xuất hiện trong các tác phẩm thường chuyên
chở những bài học đạo đức khuyên răn như mục tiêu, do vậy nó mang hơi hướng văn
học “chức năng” nhiều hơn. Thực sự phải đến sau 1986, tiếp nhận văn hóa dân gian
trong văn học viết mới được đẩy lên cao thành một trào lưu, một xu hướng thực sự
đem lại giá trị nhiều mặt trong văn chương. Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 chứng
kiến những thay đổi và cách tân mạnh mẽ chưa từng thấy trong tư duy nghệ thuật của
nhà văn và cấu trúc tự sự của tác phẩm. Một trong những biểu hiện thú vị nhất của
công cuộc đổi mới sôi động này, không hẳn là ở sự sản sinh ra những chất liệu và
nhân tố nghệ thuật mới, mà ở sự tiếp thu và “tái sử dụng” tích cực những yếu tố tự sự
truyền thống - đặc biệt là các yếu tố tự sự dân gian. Quá trình tái sinh, sự quay trở về
với các yếu tố dân gian không đơn thuần là lặp lại cái cũ, cái lạc hậu, khuôn mòn,
cũng không phải là bước đi thụt lùi, mà qua cái cũ để tạo ra những giá trị mới, một
phương thức mới trong sáng tạo văn học. Rất nhiều nhà văn hiện đại đã thành công
và khẳng định tên tuổi với thử nghiệm đó như Đào Thắng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc
Trường, Võ Thị Hảo, Tạ Duy Anh, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Bình Phương…
1


Việc vận dụng lý thuyết văn hóa dân gian vào nghiên cứu tiểu thuyết giai
đoạn này giúp lí giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật với hệ thống mã văn hoá
được bao hàm bên trong nó. Đồng thời cung cấp cho người đọc một cái nhìn hệ
thống những dấu ấn đặc trưng cũng như phương thức tồn tại của các yếu tố văn hóa
dân gian trong tiểu thuyết giai đoạn 1986 đến 2000. Qua đó rút ra quy luật vận động

thực nghệ thuật mới, biểu đạt những suy tư của họ về xã hội đương đại. Đặc biệt, do
đặc trưng thể loại và xu hướng tiếp nhận tự sự hậu hiện đại sau 1986 nên văn hóa
dân gian trở thành một trong những đối tượng tiếp nhận của tiểu thuyết để giải
quyết nhu cầu gia tăng sự dung hợp và làm mới thể loại. Vì vậy, văn hóa dân gian
sẽ góp phần tạo dấu ấn liên văn bản và tính đối thoại của tiểu thuyết giai đoạn này.
3. Đối tượng nghiên và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung vào các tiểu thuyết từ 1986 đến
2000 có chứa yếu tố văn hóa dân gian qua những hiện tượng văn học nổi bật như:
Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Trịnh Thanh phong (Ma
làng), Tạ Duy Anh (Lão Khổ), Dương Hướng (Bến không chồng), Lê Lựu (Chuyện
làng Cuội)…Danh mục cụ thể các tác phẩm khảo sát trong luận án chúng tôi sẽ đưa
vào phần Phụ lục.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu những yếu tố văn hóa dân gian thể hiện trong
thuyết Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến 2000 trên các phương diện cơ bản sau: tín
ngưỡng, thế giới nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật, hệ thống motif, biểu
tượng và ngôn ngữ. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, để có có cái nhìn nhiều
chiều, liên tục và toàn diện, luận án sẽ khảo sát thêm một số tiểu thuyết trước 1986
và sau 2000 có sự ảnh hưởng nét của văn hóa dân gian.
4. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý thuyết
Để nghiên cứu đề tài Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ
1986 đến 2000, chúng tôi dựa trên hệ thống lí thuyết về mối quan hệ giữa văn hóa
dân gian với văn học đã được các nhà nghiên cứu công bố trên các chuyên luận, các
tạp chí có uy tín. Từ đó, soi chiếu vào những biểu hiện của văn hóa dân gian trong
tiểu thuyết Việt Nam mười lăm năm cuối thế kỉ XX cả về nội dung và hình thức nghệ
thuật để thấy được những đóng góp và sáng tạo của các nhà tiểu thuyết giai đoạn này.
3


trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn trước và sau năm 1986.
4


- Nêu và lí giải được những biểu hiện của yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu
thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 qua nhiều vấn đề cụ thể như: đời sống văn hóa
tâm linh, phong tục tập quán, tín ngưỡng, việc sử dụng các motif dân gian, biểu
tượng, ngôn ngữ, thế giới nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật.
- Đề tài góp phần khảo sát và lí giải một cách có hệ thống, khách quan về vai
trò của văn hóa dân gian đối với tiểu thuyết giai đoạn 15 năm cuối thế kỉ XX, cho
thấy sự tương tác giữa văn học và văn hóa dân gian. Đồng thời góp phần khẳng định
cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa dân gian là một hướng nghiên cứu cần thiết
trong nghiên cứu văn học hiện nay.
- Với nghiên cứu có hệ thống những biểu hiện của các yếu tố văn hóa dân gian
trong tiểu thuyết sau 1986, luận án sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những
ai quan tâm nghiên cứu sâu hơn về tiểu thuyết giai đoạn này.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài sẽ được triển khai
thành bốn chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Chương 2: Văn hóa dân gian và sự tác động đến tiểu thuyết Việt Nam từ
1986 đến 2000.
Chương 3: Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến
2000 - nhìn từ thế giới nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật.
Chương 4: Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết từ 1986 đến 2000 - nhìn
từ ngôn ngữ, motif và biểu tượng.

5





những tiểu thuyết thuộc nhóm Tự lực văn đoàn, ông xếp Con trâu và Chồng con
của Trần Tiêu vào loại tiểu thuyết phong tục viết về một vùng miền của đất nước.
Công trình nghiên cứu Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm ra đời
cũng đã công nhận: “Công việc của Tự lực văn đoàn đã có ảnh hưởng về đường xã
hội và đường văn học” [23, tr.21]. Theo Dương Quảng Hàm, phong tục tập quán
thời xưa vừa có mặt hay, mặt không hay. Tác phẩm của các nhà văn Tự lực văn
đoàn có quan tâm phản ánh phong tục tập quán nhưng chưa thật xác đáng. Như tục
đàn bà góa phải thủ tiết thờ chồng trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh chẳng
hạn. Nhà văn chỉ chủ yếu tập trung làm rõ những ràng buộc khắt khe đối với người
phụ nữ mà chưa đề cập đến ý nghĩa cao đẹp của tục lệ. Dù vậy nhưng nhà nghiên
cứu văn học Dương Quảng Hàm vẫn dành nhiều lời khen tặng cho nhóm văn Tự lực
văn đoàn và đánh giá rất cao chủ trương cải cách xã hội của họ.
Năm 1942, Vũ Ngọc Phan cho ra mắt công trình Nhà văn hiện đại. Riêng
trong nhóm Tự lực văn đoàn, khi đi vào giới thiệu từng nhà văn, Vũ Ngọc Phan đã
chọn lọc những tác phẩm tiêu biểu và đưa ra nhiều đánh giá rất cụ thể. Đến sáng tác
của Trần Tiêu, Vũ Ngọc Phan khẳng định: “Tuy là tả dân tình, phong tục làng Cầm,
nhưng Con trâu thật là một cuốn tả sự sống và tính tình phong tục của người dân
quê miền Bắc” [59, tr.784]. Nhìn chung, vị trí, vai trò của những tiểu thuyết có nội
dung phong tục của nhóm văn này đều được các nhà nghiên cứu công nhận. Chỉ có
điều do tình hình văn hóa xã hội lúc này nên trong giới nghiên cứu chưa có người đi
sâu khai thác những đóng góp ấy một cách cụ thể.
Đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Phong tục Việt Nam trong tiểu thuyết Tự lực
văn đoàn của Phạm Thị Minh Tuyền (Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh)
một lần nữa đã tiến hành tìm hiểu một cách toàn diện những vấn đề phong tục trong
tiểu thuyết Tự lực văn đoàn về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Qua đó, bức tranh
về con người, xã hội những năm 1930 đến 1945 với những truyền thống tốt đẹp của
cha ông cần được giữ gìn và cả những hủ tục cần loại bỏ hiện lên đậm nét. Ngoài ra
vấn đề này còn được đề cập trong một số công trình khác như: Bình giảng về Tự lực

tr.1010]. Tuy nhiên, tác giả này cũng chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu một số tác
phẩm mà chưa đi sâu làm rõ sắc thái “miệt vườn Lục tỉnh” trong sáng tác của nhà
văn Hồ Biểu Chánh. Nguyễn Phong Nam khi nghiên cứu tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
nhận xét: “Hồ Biểu Chánh cũng là nhà văn thể hiện rất thành công cái diện mạo văn
hóa Nam bộ xưa trong tác phẩm của mình. Hồ Biểu Chánh đã rất thành công ở thể
loại tiểu thuyết phong tục - điều không nhiều nhà văn đương thời làm được. Đây
cũng là nét độc đáo của văn chương Hồ Biểu Chánh” [52, tr.92].
8


Năm 2014, Luận văn Thạc sĩ Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh của Phạm Thị Minh Hà đã tiến hành khảo sát những bản sắc địa
phương của Nam Bộ được phản ánh trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Điểm
đáng lưu ý đó là tác giả đã chỉ ra nét đặc sắc nhất mà những nhà văn khác không có
được chính là chất Nam Bộ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Đọc tiểu thuyết
của ông, độc giả nhận ra dấu ấn địa phương, chất vùng miền đậm đặc trong từng
trang viết. Nghiên cứu về VHDG trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh còn có rất nhiều
bài nghiên cứu khác như: Đặc điểm khẩu ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu
Chánh của Châu Minh Hiền; Cuộc sống ở nông thôn Nam bộ trong một số tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh và Đời sống văn hoá ở nông thôn Nam bộ trong một số tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh của Huỳnh Thị Lan Phương, Hồ Biểu Chánh - nhà văn
đến hiện đại từ truyền thống của Võ Văn Nhơn...
Khi nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn hiện thực phê phán như Nguyễn
Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, bên cạnh việc khai thác những nội dung
mang tính thời cuộc, các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến yếu VHDG thể hiện trong
mỗi tác phẩm. Trong sách Văn học Việt Nam 1930 - 1945 (tập 2), khi đề cập đến
tiểu thuyết phóng sự của Nguyễn Công Hoan, Phan Cự Đệ nhận xét: “Trong tác
phẩm của Nguyễn Công Hoan, ta thấy ông băn khoăn nhất về những sự đụng chạm
giữa cái giàu và cái nghèo trong xã hội. Sự xung đột giữa kẻ giàu, người nghèo là
cái cốt của hầu hết các truyện ngắn, truyện dài của Nguyễn Công Hoan” [19, tr.8].

trung tâm như tất cả các thể loại khác, đó là phản ánh hiện thực cách mạng, phục vụ
chính trị, gắn bó với phong trào quần chúng nhân dân, cho nên văn học có xu hướng
“quay về tìm kiếm trong văn học truyền thống những biểu tượng đủ sức lay động và
kết nối cộng đồng” [21, tr.22]. Và “văn học giai đoạn 1945 – 1985 rất hiệu quả
trong việc khơi thức tâm thức văn hóa cộng đồng…Nó cũng là một phương diện tạo
nên nét đặc điểm độc đáo của văn hóa và văn học thời chiến” [21, tr.22].
Tìm hiểu ảnh hưởng VHDG trong tiểu thuyết giai đoạn này dù không có
những công trình tiêu biểu, song tự bản thân người sáng tác đã mang văn hóa dân
tộc thấm đẫm trong từng trang viết khi họ đi thực tế đến những vùng đất mới của tổ
quốc để viết. Nếu hút nhụy dân gian từ vùng đất Nam bộ ta sẽ có Đất rừng phương
Nam của Đoàn Giỏi, dân gian từ Tây Nguyên hùng vĩ đã sinh ra Đất nước đứng lên
của Nguyên Ngọc. Nguồn mạch dân gian cũng là cơ sở để nhiều tiểu thuyết giai
đoạn này thành công và đầy sức ám gợi.
10


Khi nhắc đến Đoàn Giỏi người ta nghĩ ngay đến tác phẩm Đất rừng phương
Nam. Ông chọn con đường quay về cội nguồn văn hoá dân tộc, mà chính xác là văn
hoá Nam Bộ bằng lối văn mộc mạc, bằng chữ nghĩa giản dị gần gũi với đời sống thực
tế, làm sống lại nhiều vấn đề về đất và con người nơi đây. Huỳnh Mẫn Chi trong bài
viết về “Đoàn Giỏi và áng văn của đất, của rừng phương Nam” đã nhận xét: “Với
rừng tràm bạt ngàn, dòng sông mênh mông, con đò bập bềnh, tôm cá đầy đàn, Đoàn
Giỏi như gửi trọn vào tác phẩm của mình. Tác phẩm này đã mang đến người đọc
nhiều thú vị về bối cảnh, con người, tập tục văn hóa của vùng nông thôn Nam Bộ”
[11]. Tiểu thuyết chính là tác phẩm nổi bật nhất trong quá trình sáng tác của ông bởi
bối cảnh câu chuyện rất đặc trưng của vùng Tây Nam Bộ. Ma Văn Kháng trong bài
viết Lời tưởng niệm - trên báo Văn nghệ số ra ngày 3/4/1999 đã cho rằng: “Đọc Đất
rừng phương Nam, tình yêu đất nước của chúng ta, một lần nữa giàu có thêm, vì
trong văn ông, tình yêu đất nước bắt nguồn và liên hệ bền chặt với sự độc đáo của
nền văn hóa lâu đời của dân tộc”. Còn trong tập tiểu luận - phê bình Tiếng vọng

hiểu nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật chứ chưa đi vào nghiên cứu tác phẩm
của ông như một giá trị văn hóa, dưới góc nhìn văn hóa.
Đề cập đến yếu tố văn hóa dân gian trong văn học giai đoạn này sẽ là khuyết
thiếu nếu không đề cập đến bộ phận văn học tồn tại dưới chính thể Việt Nam cộng
hòa, đó là bộ phận văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975. Tuy yếu tố văn
hóa dân gian không phải là đối tượng được các nhà văn bộ phận văn học này xem là
trọng yếu nhưng đứng trước sự xâm lăng của văn hóa ngoại lai, một số nhà văn
mang tư tưởng yêu nước tiến bộ như Sơn Nam, Vũ Bằng, Võ Hồng…đã có ý thức
giữ gìn văn hóa dân tộc qua những trang văn của mình. Trong các bài nghiên cứu,
phê bình văn học đô thị miền Nam của các tác giả như Nguyễn Đức Đàn, Trần Hữu
Tá, Thạch Phương, Trường Lưu…mặc dù ghi nhận những đóng góp của các nhà
văn thuộc bộ phận văn học này trong việc giữ gìn và bảo lưu những giá trị văn hóa
truyền thống, nhưng bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu thường phần nhiều dựa vào
truyền thống, lấy văn hóa dân tộc để phê phán và đối lập với những biểu hiện của
chủ nghĩa hiện sinh hay tư tưởng vọng ngoại, nô dịch trong văn chương của bộ phận
văn học này. Tuy nhiền, dù khen hay chê thì khi đi vào tìm hiểu những tác phẩm
của các nhà văn này chúng ta không thể phủ nhận tình cảm, tình yêu đối với các giá
trị văn hóa truyền thống của dân tộc khi đất nước cắt chia. Và thực sự phải nói rằng,
sống dưới chế độ cũ, chịu rất nhiều kìm kẹp, để thể hiện rõ tinh thần yêu nước quả
12


thực không dễ, vì thế cảm hứng hiện sinh hiện lên rất rõ nét trong văn chương của
họ là điều dễ hiểu. Trên con đường đi tìm bản thể của chính mình với nỗi lòng của
những người vong quốc thì tình yêu với quê hương đất nước, ý thức lưu giữ, bảo
tồn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc thực sự là điều đáng trân quý,
cần ghi nhận. Trong bài “Những diễn biến mới trong văn học miền Nam vùng tạm
bị chiếm những năm gần đây”, Nguyễn Đức Đàn nhận xét: “Đấu tranh giữa văn hóa
dân tộc lành mạnh với văn hóa nô dịch và suy đồi, vong bản” [18, tr.66.] là cuộc
đấu tranh căng thẳng của văn chương, nghệ thuật. Như vậy, giá trị của văn hóa dân

cách toàn diện và có hệ thống: Bối cảnh văn hóa và sự phát triển của văn xuôi đô thị
miền Nam; Con người và cách ứng xử với những giá trị văn hóa truyền thống; Nghệ
thuật văn chương và vẻ đẹp của văn hóa truyền thống. Chuyên khảo chú trọng
“những tác phẩm có khuynh hướng đề cao, bảo vệ giá trị văn hóa dân tộc” [91,
tr.xv] như các tác phẩm của Sơn Nam, Võ Hồng, Vũ Bằng, Nguyễn Văn Xuân…
Cuốn sách không lấy văn xuôi để minh họa cho hệ giá trị tinh thần của dân tộc,
không khảo sát toàn bộ các giá trị văn hóa truyền thống, mà “quan tâm chủ yếu đến
nhận thức và hành động của chủ thể văn hóa truyền thống trong bối cảnh xã hội đô
thị miền Nam giai đoạn 1954 -1975 trong tác phẩm văn xuôi” [91, tr.xvi]. Đặt trong
bối cảnh ấy, truyền thống không chỉ có ý nghĩa là sự tiếp nối, duy trì mà còn là cách
chọn lựa của con người. Quan tâm đến vấn đề này còn có nhiều công trình của các
nhà nghiên cứu khác như: Về tính dân tộc của Thành Duy, Văn học Việt Nam chống
Mỹ cứu nước cuả Thạch Phương, trong đó có phần “Văn học yêu nước tiến bộ trong
lòng các thành thị miền Nam”…
Mặc dù các bài báo, các công trình nghiên cứu không chỉ rõ những biểu hiện
cụ thể của VHDG trong bộ phận văn học này, nhưng thông qua các công trình
nghiên cứu, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự hiện diện của văn hóa dân tộc,
trong đó có VHDG trong tâm thức sáng tạo của nhà văn. Đặc biệt, qua các nghiên
cứu về văn xuôi đô thị miền Nam giúp chúng ta nhận thức, khám phá thêm giá trị
văn chương của một bộ phận văn học vốn chưa được các công trình khoa học đi
trước tìm hiểu và giải quyết đầy đủ. Chúng ta thấy rằng, thành tựu của văn học miền
Nam giai đoạn này cần được đánh giá thỏa đáng, nhất là việc xem xét các giá trị văn
học, giá trị văn hóa truyền thống được thể hiện như thế nào trong các tác phẩm và vì
sao văn xuôi lại quan tâm đến những giá trị văn hóa dân tộc ngay trong quá trình
giao lưu, hội nhập với văn hóa nước ngoài.
14


1.2. Tình hình nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam
sau 1986

tái hiện” [51]. Và đến hai tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa, thì
16


“trọng tâm cảm hứng của Nguyễn Xuân Khánh chính là văn hóa - phong tục, thứ văn
hóa - phong tục được sinh thành và được tỏa ra, lan thấm vào đời sống từ những hệ tư
tưởng tôn giáo lớn: đạo Mẫu (trong Mẫu Thượng ngàn) và đạo Phật (trong Đội gạo
lên chùa)” [51]…Hầu hết các bài nghiên cứu này đều cho thấy sự hiện diện của
VHDG, điều này chứng tỏ trong tâm thức sáng tạo của mỗi nhà văn luôn giành một
sự trân quý cho văn hóa dân tộc trong đó có văn hóa dân gian. Đặc biệt, thời đại bùng
nổ của khoa học công nghệ, vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa luôn được
các nhà văn nói riêng và các nhà nghiên cứu văn hóa quan tâm.
1.2.2. Những nghiên cứu cụ thể về sự hiện diện của yếu tố văn hóa dân gian
trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986
- Những nghiên cứu về yếu tố kì ảo
Trong mô hình văn hóa truyền thống, văn học dân gian là một thành tố quan
trọng. Văn học dân gian vừa là nền tảng, vừa là bộ mặt của VHDG. Vì vậy, chúng
tôi tập trung vào khảo sát những yếu tố của văn học dân gian có mặt trong tiểu
thuyết những năm cuối thế kỷ XX. Trong bài viết “Sự hồi sinh của yếu tố kì ảo
trong văn xuôi đương đại Việt Nam”, Bùi Thanh Truyền khẳng định ngay từ lúc sơ
khai, văn học Việt Nam đã gắn liền với kì ảo. Tác giả cho rằng “Sự hồi sinh của bộ
phận văn xuôi có yếu tố kì ảo trong đời sống văn học Việt Nam kể từ sau 1986 đến
nay dẫu còn mang bóng dáng truyền thống, nhưng nhìn chung về mặt hình thức, đây
là những sáng tác in đậm dấu ấn hiện đại từ đề tài, nhân vật đến cốt truyện, ngôn
ngữ, kết cấu...” [88].
Năm 2015, cũng tác giả Bùi Thanh Truyền trong chuyên luận Văn học Yếu tố
kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam với việc bao quát khối lượng tác phẩm
phong phú với 107 tác giả và 253 tác phẩm văn xuôi từ 1986 đến 2010 trên hai
mảng tiểu thuyết và truyện ngắn, tìm hiểu các vấn đề chung về bản chất thẩm mĩ
của yếu tố kì ảo trong văn học, nguyên nhân sự hồi sinh của yếu tố này trong văn

trên thế giới. Ở Việt Nam, mặc dù hướng nghiên cứu biểu tượng trong tác phẩm văn
xuất hiện từ khá sớm nhưng dường như chưa có nhiều công trình lớn chuyên sâu,
hầu hết là các bài viết xuất hiện đơn lẻ trên tạp chí và báo mạng. Tuy nhiên, trong
tiểu thuyết Việt Nam sau 1986, nghiên cứu biểu tượng là một vấn đề được giới
nghiên cứu vô cùng quan tâm với nhiều bài viết có giá trị.
Năm 2015, bài nghiên cứu “Hệ biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt
Nam đương đại” của Nguyễn Đức Toàn đã khái quát một số biểu tượng nghệ thuật
18


mang tính chất cổ xưa như một phương thức chuyển nghĩa trong tiểu thuyết Việt
Nam đương đại, như: Thiên thần, bào thai (Thiên thần sám hối), đêm, mưa (Nỗi
buồn chiến tranh), ngọn nến, hang sâu (Vào cõi), nước, lửa (Giàn thiêu), bức tượng
đá (Hồ Quý Ly), Mẫu, đêm, đất, rừng, trăng, cây đa, rắn thần (Mẫu Thượng
Ngàn)… Tác giả nhấn mạnh những biểu tượng này tham gia trực tiếp vào kết cấu
hình tượng, kết cấu tác phẩm và là hệ quả của quan niệm “tính trò chơi” của văn
chương hiện đại. Nhìn chung, tác giả bài viết chỉ khái quát một vài biểu tượng trong
một số tiểu thuyết nhưng đã mở ra hướng nghiên cứu mới mẻ, hấp dẫn về hệ biểu
tượng trong tiểu thuyết giai đoạn 1986 đến 2000.
Hai bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Hương “Đình làng - biểu tượng văn
hóa đặc sắc của tiểu thuyết viết về nông thôn sau Đổi mới” và “Văn hóa nông thôn
trong tiểu thuyết sau đổi mới nhìn từ biểu tượng và ngôn ngữ” đã tìm hiểu và liệt kê
một số biểu tượng tiêu biểu của làng quê trong tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi
mới như đình làng, nhà thờ họ, cây đa, bến nước...Tác giả cho rằng sử dụng hệ
thống biểu tượng như là một phương thức tổ chức tự sự, như một ngôn ngữ, các tiểu
thuyết viết về nông thôn sau đổi mới đã tạo nên trường văn hóa, thẩm mỹ riêng. “Sự
xuất hiện đậm đặc các biểu tượng trong không gian truyện kể làm cho thế giới nghệ
thuật của tiểu thuyết viết về nông thôn mang được dấu ấn phong cách riêng trong sự
nở rộ của các đề tài tiểu thuyết sau đổi mới…Tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết viết
về nông thôn, có thể nói, được kiến tạo dựa trên các ý nghĩa của hệ thống biểu

của con người cũng như văn học từ trước đến nay. Tuy nhiên do hoàn cảnh lịch sử
và hệ tư tưởng của mỗi thời kì mà yếu tố này có lúc đậm nhạt trong văn học nói
chung và tiểu thuyết nói riêng. Ông cho rằng “Từ sau 1975, các yếu tố tâm linh
ngày càng thâm nhập vào văn học. Đặc biệt từ thời Đổi mới, sáng tác mang yếu tố
tâm linh ngày càng nhiều” [71, tr.46] và “Tâm linh là một diễn ngôn quyền lực,
nhân danh sự huyền bí nhiệm màu để nói những lời nguyền, lời sám hối, lời cầu
khẩn, lời lên án các hiện tượng xấu xa, bạc ác trong hiện thực mà con người chưa có
điều kiện trừ khử” [71, tr.50].
Năm 2006, trong bài viết “Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi
mới”, Nguyễn Bích Thu khẳng định: “Các cây bút tiểu thuyết từ sau đổi mới đã có ý
thức đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhận diện con
người đích thực. Sự xuất hiện con người tâm linh biểu hiện sự đổi mới trong quan
niệm nghệ thuật về con người của văn học. Tiểu thuyết bắt đầu tiếp cận với thế giới
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status