Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến 2000 - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

PHAN THÚY HẰNG

YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG TIỂU
THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

HUẾ - NĂM 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

PHAN THÚY HẰNG

YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG TIỂU
THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 9220121

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. PHAN TRỌNG THƢỞNG
2. PGS.TS. HOÀNG THỊ HUẾ



: Đại học Quốc gia

KHXH&NV

: Khoa học Xã hội và Nhân văn

Tp HCM

: Thành phố Hồ Chí Minh

LATS

: Luận án Tiến sĩ

ii


Lời Cảm Ơn
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
PGS.TS Phan Trọng Thưởng, PGS.TS Hoàng Thị Huế đã
tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo
Sau đại học trường Đại học Khoa học Huế, Đại học Huế đã tạo
điều kiện thuận lợi, Ban chủ nhiệm cùng các thầy cô Khoa Ngữ
văn trường Đại học Khoa học Huế, Đại học Huế đã nhiệt tình
giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Khoa học
Xã hội và Nhân văn trường Đại học Khánh Hòa cùng các đồng
nghiệp đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và

1.1.2. Giai đoạn từ 1945 đến 1985 .................................................................... 10
1.2. Tình hình nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam sau
1986 ....................................................................................................................... 15
1.2.1. Những nghiên cứu chung về vai trò của văn hóa dân gian đối với tiểu
thuyết Việt Nam sau 1986 ................................................................................. 15
1.2.2. Những nghiên cứu cụ thể về sự hiện diện của yếu tố văn hóa dân gian
trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 ................................................................ 17
1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu và hƣớng triển khai đề tài ............................. 22
1.3.1. Đánh giá tình hình nghiên cứu ................................................................ 22
1.3.2. Hƣớng triển khai đề tài............................................................................ 24
Chƣơng 2: VĂN HÓA DÂN GIAN VÀ SỰ TÁC ĐỘNG ĐẾN TIỂU THUYẾT
VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000 ............................................................................ 26
iv


2.1. Khái lƣợc về văn hóa dân gian và mối quan hệ giữa văn hóa dân gian với tiểu

thuyết Việt Nam hiện đại..................................................................................... 26
2.1.1. Khái niệm văn hóa dân gian.................................................................. 26
2.1.2. Nhận diện các thành tố của văn hóa dân gian........................................ 29
2.1.3. Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian với tiểu thuyết Việt Nam hiện đại . 32

2.2. Tác động của văn hóa dân gian đến tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 39
2.2.1. Văn hóa dân gian với sự thay đổi về tƣ duy nghệ thuật........................39
2.2.2. Văn hóa dân gian với sự cách tân về nghệ thuật thể hiện......................43
2.3. Các tín ngƣỡng dân gian - nguồn nuôi dƣỡng cảm hứng sáng tạo của nhà văn 47

2.3.1. Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên và những ngƣời đã khuất.........................47
2.3.2. Tín ngƣỡng sùng bái tự nhiên............................................................... 52
2.3.3. Tín ngƣỡng thờ Mẫu............................................................................. 55

ĐẾN LUẬN ÁN................................................................................................... 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 145
PHẦN PHỤ LỤC

vi


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian (VHDG) và văn học viết không phải là
một vấn đề mới. Nó xuất hiện ngay từ những ngày đầu hình thành văn học viết. Là
hai loại hình nghệ thuật khu biệt tƣơng đối trong tất cả các tiêu chí và cách thức
phân loại, văn hóa dân gian và văn học viết có sự tƣơng tác đa chiều. Đây là một tất
yếu và sự thâm nhập văn hóa dân gian vào văn học viết cũng là một quy luật dĩ
nhiên của tiến trình lịch sử. Từ việc đơn thuần chỉ ra các yếu tố dân gian thuộc
phạm vi hình thức (nhƣ motif, hình ảnh, cốt truyện, ngôn ngữ, thể loại…), ngƣời ta
đã nhìn sâu hơn đến chiều kích tƣ tƣởng, tinh thần (nhƣ tín ngƣỡng, các nghi lễ,
tập quán dân gian) thể hiện trong các sáng tác văn học. Trƣớc kho tàng văn hóa dân
gian vô cùng phong phú, mỗi nhà văn tiếp nhận đến đâu, tiếp nhận nhƣ thế nào và
thể hiện “tri thức dân gian” ra sao lại tùy thuộc vào tài năng và cá tính của tác giả.
Quá trình tiếp biến văn hóa này diễn ra xuyên suốt và liên tục trong lịch sử văn
học. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu sự ảnh hƣởng chủ yếu nhằm bảo tồn cốt lõi folklore
truyền thống, yếu tố văn hóa dân gian xuất hiện trong các tác phẩm thƣờng chuyên chở
những bài học đạo đức khuyên răn nhƣ mục tiêu, do vậy nó mang hơi hƣớng văn học
“chức năng” nhiều hơn. Thực sự phải đến sau 1986, tiếp nhận văn hóa dân gian trong
văn học viết mới đƣợc đẩy lên cao thành một trào lƣu, một xu hƣớng thực sự đem lại
giá trị nhiều mặt trong văn chƣơng. Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 chứng kiến những
thay đổi và cách tân mạnh mẽ chƣa từng thấy trong tƣ duy nghệ thuật của nhà văn và
cấu trúc tự sự của tác phẩm. Một trong những biểu hiện thú vị nhất của công cuộc đổi
mới sôi động này, không hẳn là ở sự sản sinh ra những chất liệu và nhân tố nghệ thuật

trong tiểu thuyết Việt Nam trƣớc và sau năm 1986. Chúng tôi cố gắng chỉ ra những
vấn đề đã đƣợc giải quyết thấu đáo cũng nhƣ những vấn đề còn bỏ ngỏ nhằm
nghiên cứu một cách hệ thống nhất đề tài luận án.
Thứ hai, mục tiêu chính yếu của luận án là khám phá sự hiện diện cũng nhƣ
những tác động của yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến
2000 trên bình diện ý thức nghệ thuật và cách thức tổ chức trần thuật. Từ đó, luận
án nhận định, đối thoại trên tinh thần nhận thức lại những yếu tố của văn hóa dân
gian trong tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại, góp phần khẳng định những đóng góp
mới nhằm đánh giá đúng bƣớc tiến thể loại trong diễn trình hội nhập.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa tình hình nghiên cứu sự hiện diện của yếu tố văn hóa dân gian
trong tiểu thuyết Việt Nam trƣớc và sau 1986, lý giải nhằm làm rõ hơn những vấn
đề còn bỏ ngỏ và xác định hƣớng nghiên cứu cụ thể của luận án.
- Xác định rõ tiền đề cơ sở cũng nhƣ sự tác động của văn hóa dân gian đến
tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000
- Đi sâu làm rõ những tác động của văn hóa dân gian đến những phƣơng diện
cụ thể trong tiểu thuyết giai đoạn này nhƣ: tín ngƣỡng, nhân vật, không gian và thời
2


gian nghệ thuật, ngôn ngữ, motif và biểu tƣợng. Từ đó chỉ ra những kế thừa, cách
tân, những thay đổi trong ý thức nghệ thuật của các nhà văn nhằm kiến tạo một hiện
thực nghệ thuật mới, biểu đạt những suy tƣ của họ về xã hội đƣơng đại. Đặc biệt,
do đặc trƣng thể loại và xu hƣớng tiếp nhận tự sự hậu hiện đại sau 1986 nên văn
hóa dân gian trở thành một trong những đối tƣợng tiếp nhận của tiểu thuyết để giải
quyết nhu cầu gia tăng sự dung hợp và làm mới thể loại. Vì vậy, văn hóa dân gian sẽ
góp phần tạo dấu ấn liên văn bản và tính đối thoại của tiểu thuyết giai đoạn này.
3. Đối tƣợng nghiên và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung vào các tiểu thuyết từ 1986 đến

4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp văn hóa học: Đây đƣợc coi là phƣơng pháp nghiên cứu trọng tâm
của luận án. Ngƣời viết sử dụng phƣơng pháp này nhằm vận dụng các quan điểm và
thành tựu văn hóa nói chung, đặc biệt là văn hóa dân gian để tìm hiểu, lí giải các yếu tố
văn hóa dân gian xuất hiện trong các tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000.

- Phƣơng pháp liên ngành: Sử dụng kiến thức của các ngành khoa học xã hội
khác nhƣ: văn hóa, lịch sử, triết học, tôn giáo...để nhìn nhận vấn đề nghiên cứu một
cách toàn diện nhất.
- Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu: Sử dụng phƣơng pháp này nhằm thấy sự kế
thừa và cách tân về mặt nội dung cũng nhƣ hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết
- Phƣơng pháp thi pháp học: Phƣơng pháp này chủ yếu tập trung làm rõ
những phƣơng diện về không gian và thời gian nghệ thuật.
-

Phƣơng pháp cấu trúc – hệ thống: Phƣơng pháp này đƣợc vận dụng trên

quan điểm tiếp cận văn bản học, nhằm thống kê, hệ thống hóa, phân loại và chọn lọc
các tác phẩm có sự xuất hiện của yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt
Nam từ 1986 đến 2000. Từ đó phân tích để đƣa ra những luận điểm tổng hợp, khái
quát nên những yếu tố văn hóa dân gian biểu hiện trong các tiểu thuyết giai đoạn
này về mặt nội dung cũng nhƣ phƣơng thức thể hiện. Qua đó chỉ ra những tác động
của các yếu tố văn hóa, văn học dân gian trong việc thể hiện đời sống của tác phẩm.
5. Đóng góp mới của luận án
- Qua việc đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu, luận án đã hệ thống
hóa tƣ liệu và đƣa ra cái nhìn đầy đủ hơn về những biểu hiện của văn hóa dân gian
trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn trƣớc và sau năm 1986.
4



5


NỘI DUNG
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam
trƣớc năm 1986
1.1.1. Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945
Đầu thế kỷ XX đến 1945 văn học Việt Nam đã vận động sang phạm trù mới:
Văn học hiện đại. Tiểu thuyết giai đoạn này thực sự khởi sắc với những đóng góp
đáng ghi nhận. Những tên tuổi ở giai đoạn đầu phải kể đến Hồ Biểu Chánh, Trần
Quang Nghiệp, Nguyễn Chánh Sắt, tiếp đến là những tác giả tiêu biểu của hai dòng
văn học hiện thực phê phán (1930-1945) nhƣ Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ
Trọng Phụng, Nguyên Hồng và văn học lãng mạn (1932 - 1945) gắn với tên tuổi của
nhóm Tự lực văn đoàn với ba cây bút chính Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hƣng.
Bên cạnh việc tiếp thu những ảnh hƣởng từ lớn từ văn hóa phƣơng Tây, đặc biệt là
Pháp thì tiểu thuyết giai đoạn này vẫn chịu sự chi phối của văn hóa phƣơng Đông
và truyền thống văn hóa dân tộc để xây dựng nên một nền tiểu thuyết Việt Nam hiện
đại song vẫn đậm đà bản sắc dân tộc.
Nghiên cứu tiểu thuyết Tự lực văn đoàn dƣới góc độ văn hóa, xã hội và phong
tục là một vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, không chỉ trƣớc đây mà cả
sau này. Năm 1941, trong công trình nghiên cứu Ba mươi năm văn học, Mộc Khuê
khi bàn về tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam đã chia tiểu thuyết thành chín loại. Sau
đó, ông lần lƣợt đi vào từng loại và giới thiệu những nhà văn cùng với một vài tác
phẩm tiêu biểu. Đến phần tiểu thuyết phong tục, ông cho rằng: “Phong tục tiểu
thuyết về miền thƣợng du Bắc Kỳ gồm Lan Khai (Tiếng gọi của rừng thẳm, Suối
đàn, Truyện lạ đường rừng), về miền sơn cƣớc Trung kỳ của Lƣu Trọng Lƣ (Khói
lam chiều, Chiếc cáng xanh) của Trần Tiêu (Con trâu, Chồng con) và nhất là quyển
Lều chõng của Ngô Tất Tố” [70, tr. 51]. Nhƣ vậy, ngay từ năm 1941, nhà nghiên

về con ngƣời, xã hội những năm 1930 đến 1945 với những truyền thống tốt đẹp của
cha ông cần đƣợc giữ gìn và cả những hủ tục cần loại bỏ hiện lên đậm nét. Ngoài ra
vấn đề này còn đƣợc đề cập trong một số công trình khác nhƣ: Bình giảng về Tự
lực văn đoàn (Nguyễn Văn Xung), Tiểu thuyết Việt Nam thế hệ 1932 - 1945 (Thanh
Lãng), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam

7


1930 - 1945 (Nguyễn Đăng Mạnh)... Ngoài những cây bút lý luận phê bình cũ, từ thập
niên 90 đến nay, nghiên cứu về Tự lực văn đoàn ta còn phải kể đến khá nhiều gƣơng
mặt mới nhƣ Nguyễn Hữu Hiếu, Lê Thị Dục Tú, Phạm Thanh Hùng, Trịnh Hồ
Khoa...Tất cả đã tạo đƣợc một không khí sôi nổi, khách quan, và khoa học nhằm đƣa
đến những nhận định công bằng, thấu đáo khi đánh giá về vai trò, vị trí của nhóm văn
này trong nền văn học dân tộc. Tóm lại, qua quá trình tìm hiểu lịch sử nghiên cứu văn
chƣơng Tự lực văn đoàn dƣới góc độ văn hóa xã hội và phong tục, chúng tôi nhận thấy
rằng: trong giai đoạn này Tự lực văn đoàn là nhóm văn duy nhất có sáng tác gây đƣợc
nhiều sự chú ý trong công chúng. Và Tự lực văn đoàn với những đóng góp cho nền văn
hóa, phong tục nƣớc nhà cũng là một vấn đề đã đƣợc các nhà nghiên cứu ghi nhận.
Tuy nhiên, sự phân tích và lí giải vấn đề vẫn chƣa thật thỏa đáng.
Bàn về vấn đề tâm linh trong văn học giai đoạn này, Trần Đình Sử trong bài viết
“Văn học và văn hóa tâm linh” khẳng định tâm linh vốn tồn tại từ rất lâu trong đời sống
con ngƣời và cả trong văn học từ sơ khai đến hiện đại. Đối với khoa học, tâm linh là
lĩnh vực của những điều chƣa thể chứng minh bằng khoa học. Nhƣng đối với văn hóa,
đó là lĩnh vực của “phong tục” (Phan Kế Bính), là “nếp cũ” (Toan Ánh) thấm sâu trong
tiềm thức con ngƣời. Ông cho rằng “Các nhà văn lãng mạn chủ nghĩa và hiện thực chủ
nghĩa thuộc giai đoạn 1932 -1945 vừa có thế giới quan khoa học, vừa có yếu tố văn hóa
tâm linh, vẫn miêu tả con ngƣời mang tâm linh ấy” [71, tr.45].

Văn xuôi quốc ngữ ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX đã đặt dấu ấn khá đậm nét về

tiểu thuyết phóng sự của Nguyễn Công Hoan, Phan Cự Đệ nhận xét: “Trong tác
phẩm của Nguyễn Công Hoan, ta thấy ông băn khoăn nhất về những sự đụng chạm
giữa cái giàu và cái nghèo trong xã hội. Sự xung đột giữa kẻ giàu, ngƣời nghèo là
cái cốt của hầu hết các truyện ngắn, truyện dài của Nguyễn Công Hoan” [19, tr.8].
Có thể thấy, dù vô tình hay hữu ý thì chúng ta không khó nhận ra sự tiếp nhận
những yếu tố từ văn học truyền thống bởi xung đột giàu - nghèo, thiện - ác vốn là
motif xuất hiện từ trong văn học dân gian. Nguyễn Công Hoan và các nhà văn cùng
thời đã lồng ghép khéo léo giữa việc phản ánh hiện thực bằng những xung đột hình
thành từ nền văn học sơ khai của dân tộc. Phần lớn những đánh giá của các nhà
nghiên cứu khi bàn về tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan đều xoay quanh vấn đề này.
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, quyển tƣ (tập 3) cũng cho rằng: “Tất
cả tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan, dù là truyện ngắn hay truyện dài, đều là tiểu
thuyết tả thực, tiểu thuyết tả về phong tục Việt Nam, về hạng trung lƣu và hạng
nghèo” [60, tr.49]. Huỳnh Nhƣ Phƣơng khi nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học
9


và văn hóa cho rằng “Ở Việt Nam đã hình thành cả một dòng văn xuôi phong tục”
[62] với những tác giả am hiểu sâu sắc đời sống nông thôn: Ngô Tất Tố với Việc
làng và Lều chõng, Trần Tiêu với Con trâu và Chồng con, Mạnh Phú Tƣ với Làm lẽ
và Sống nhờ, … Tất nhiên, tác phẩm có sức ám ảnh là nhờ trên cái nền của sự miêu
tả phong tục đó, nhà văn tái hiện những tình huống bi kịch của kiếp ngƣời. Viết về
phong tục, các nhà văn không chỉ làm công việc miêu tả đơn thuần, mà còn bày tỏ
thái độ trƣớc những phong tục tập quán đã lỗi thời, không còn phù hợp với thời đại
mới vì ngăn trở con ngƣời đi tìm tự do và hạnh phúc. Nhìn chung, các nhà nghiên
cứu bên cạnh tìm hiểu nội dung cũng nhƣ nghệ thuật, đã ít nhiều đề cập đến khía
cạnh VHDG trong tiểu thuyết của các nhà văn hiện thực nửa đầu thế kỉ XX.
1.1.2. Giai đoạn từ 1945 đến 1985
Khi đánh giá về văn học giai đoạn này, Nguyễn Đăng Điệp trong bài nghiên cứu
“Văn học và văn hóa tâm linh trong tiến trình lịch sử” cho rằng đây là giai đoạn văn

chuyện rất đặc trƣng của vùng Tây Nam Bộ. Ma Văn Kháng trong bài viết Lời tưởng
niệm - trên báo Văn nghệ số ra ngày 3/4/1999 đã cho rằng: “Đọc Đất rừng phƣơng
Nam, tình yêu đất nƣớc của chúng ta, một lần nữa giàu có thêm, vì trong văn ông, tình
yêu đất nƣớc bắt nguồn và liên hệ bền chặt với sự độc đáo của nền văn hóa lâu đời của
dân tộc”. Còn trong tập tiểu luận - phê bình Tiếng vọng những mùa qua của Nguyễn
Thị Thanh Xuân lại nhận định một cách đầy trân trọng về Đoàn Giỏi: “Ông đã đem đến
cho bạn đọc cả nƣớc những hiểu biết và tình cảm về một vùng đất mà trƣớc đó xa ngái,
hoang sơ trong hình dung của mọi ngƣời. Ông đã xây dựng những nhân vật lòng đầy
nghĩa khí mà tinh tế và giàu chất văn hóa…” [97, tr.113]. Các bài nghiên cứu về cuộc
đời và tác phẩm Đất rừng phương Nam tuy còn rải rác khác chƣa hệ thống, song đã
cung cấp một cách tìm hiểu về văn hóa vùng miền khi nghiên cứu văn hóa dân gian
trong các tác phẩm văn học.

Cũng chịu ảnh hƣởng sâu sắc của văn hóa vùng miền khi sáng tác, Nguyên
Ngọc là một nhà văn gắn liền với mảnh đất Tây Nguyên đầy nắng gió. Tiểu thuyết
Đất nước đứng lên của ông đã đi vào lòng thế hệ bao bạn đọc khi tái hiện hình ảnh
anh hùng Núp và cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm của nhân dân Tây Nguyên.
Góp phần vào thành công của của tác phẩm còn là dấu ấn đậm nét của miền đất Tây
Nguyên hùng vĩ. Hoàng Sĩ Nguyên và Lê Thanh Toàn đề cập và phân tích khá nhiều
khía cạnh mang đậm nét văn hóa dân gian Tây Nguyên trong sáng tác của Nguyên
Ngọc, trong đó có tiểu thuyết Đất nước đứng lên nhƣ: Văn hóa làng, văn hóa lễ hội,
văn hóa nhà Rông, văn hóa cồng chiêng cùng với thiên nhiên hoang sơ
11


hùng vĩ...Đồng thời nhấn mạnh: “Tây Nguyên với bề dày lịch sử hàng nghìn năm đã
hình thành và lƣu giữ nhiều giá trị văn hoá độc đáo. Sáng tác của Nguyên Ngọc là
những phác họa chân thật, sinh động về văn hoá Tây Nguyên, đem đến cho ngƣời
đọc những hiểu biết về Tây Nguyên khác hẳn với những nhà văn trƣớc đây đã viết
về miền núi và dân tộc thiểu số [54, tr.52]. Nhƣ vậy đa số những bài nghiên cứu đều

họ là điều dễ hiểu. Trên con đƣờng đi tìm bản thể của chính mình với nỗi lòng của
những ngƣời vong quốc thì tình yêu với quê hƣơng đất nƣớc, ý thức lƣu giữ, bảo
tồn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc thực sự là điều đáng trân quý,
cần ghi nhận. Trong bài “Những diễn biến mới trong văn học miền Nam vùng tạm
bị chiếm những năm gần đây”, Nguyễn Đức Đàn nhận xét: “Đấu tranh giữa văn hóa
dân tộc lành mạnh với văn hóa nô dịch và suy đồi, vong bản” [18, tr.66.] là cuộc đấu
tranh căng thẳng của văn chƣơng, nghệ thuật. Nhƣ vậy, giá trị của văn hóa dân tộc
khẳng định sự tồn tại của dân tộc và có tác dụng đối kháng với văn hóa ngoại lai.
Năm 1967, Nguyễn Ngu Í trong công trình Sống và viết với…đã trình bày chân thực
và khách quan chân dung một số tác giả và đời sống sáng tác đƣơng thời. Khi viết
về Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, ông cho rằng sắc thái văn hóa địa phƣơng nhƣ là
một ƣu thế nổi trội của họ: “Bây giờ hễ nói đến miền Nam ngƣời ta nhớ ngay đến
Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam” [40, tr.206]. Cao Huy Khanh với công trình Sơ khảo
15 năm văn xuôi miền Nam 1955 – 1969 đăng trên nhiều kì của tuần báo Khởi hành
cho rằng: “càng về những năm sau, miền Nam (không khí, mẫu ngƣời, ngôn ngữ)
bắt đầu kêu gọi bày tỏ: nếp sinh hoạt điển hình ở miền Nam” [41, tr.8]. Khi điểm
qua hoạt động và thành tựu của nhóm Nhân loại (Ngọc Linh, Sơn Nam, Bình
Nguyên Lộc), ông đánh giá họ là những ngƣời đã “theo đúng truyền thống của
những nhà văn miền Nam điển hình nhƣ Hồ Biểu Chánh hay Phú Đức” [42, tr.7].
Cũng trong năm 1970, Tạ Tỵ có cuốn Mười khuôn mặt văn nghệ và Mười khuôn
mặt văn nghệ hôm nay (1971) giới thiệu các tác giả của bộ phận văn học này mà
ông cho là thành công nhất, trong đó có Sơn Nam, Vũ Bằng, Võ Hồng…Ông gọi Vũ
Bằng là “ngƣời trở về từ cõi đam mê” [ 93, tr.193], Sơn Nam là “hơi thở của miền
Nam nƣớc Việt” [ 93, tr.69], còn văn chƣơng Võ Hồng gắn liền với “quê hƣơng bất
hạnh” [93, tr.61]. Năm 2000, Trần Hữu Tá cho ra đời một công trình tuyển chọn
công phu, dày hơn 1000 trang Nhìn lại một chặng đường văn học về bộ phận văn
học yêu nƣớc, tiến bộ khu vục thành thị miền Nam, trong đó ghi nhận những sáng
tác này: “là sự tiếp nối của truyền thống [72, tr.124]; “khẳng định tƣ tƣởng yêu
nƣớc, tinh thần tự cƣờng dân tộc luôn là mạch nguồn chính của văn học
13

phẩm và vì sao văn xuôi lại quan tâm đến những giá trị văn hóa dân tộc ngay trong
quá trình giao lƣu, hội nhập với văn hóa nƣớc ngoài.
14


1.2. Tình hình nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam
sau 1986
Nhƣ chúng ta đã phân tích ở trên, mối quan hệ giữa VHDG và văn học viết đã
tồn tại từ rất lâu trong lịch sử văn văn học. Tuy nhiên, ở những giai đoạn trƣớc, các
nhà nghiên cứu chƣa thực sự chú trọng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa. Có
chăng chỉ là những công trình nhỏ lẻ và chƣa thực sự nhìn nhận đúng vai trò của
VHDG đối với nghiên cứu văn học. Nhƣng cần phải nhận thấy rằng, dù ở thời kì
hay giai đoạn văn học nào, bên cạnh việc tiếp thu những thành tựu, tƣ tƣởng,
khuynh hƣớng quốc tế thì các nhà văn Việt Nam luôn có ý thức giữ gìn và phát huy
những yếu tố của văn hóa dân tộc. Quá trình tiếp biến văn hóa này diễn ra xuyên
suốt và liên tục trong lịch sử văn học, nhƣng phải đến “Làn sóng Đổi mới” cuối thế
kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, tiếp nhận VHDG trong văn học mới đƣợc đẩy lên cao
thành một trào lƣu, một xu hƣớng, một phƣơng pháp thực sự đem lại giá trị nhiều
mặt trong văn chƣơng. Tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại sau hàng loạt cách tân, tìm
tòi, đổi mới theo kỹ thuật hiện đại phƣơng Tây thì có một xu hƣớng tìm về với
VHDG. Tất nhiên đây không phải là hƣớng đi lạc hậu với những sản phẩm là “bình
cũ rƣợu mới”. Nó không giống với việc phục hƣng lại một nền văn hóa đã qua, mà
nó là một phƣơng thức mới trong sáng tạo văn học. Rất nhiều nhà văn đƣơng đại đã
thành công và khẳng định tên tuổi với thử nghiệm đó nhƣ Nguyễn Khắc Trƣờng,
Võ Thị Hảo, Tạ Duy Anh, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Bình Phƣơng…Không
phải ngẫu nhiên mà hầu hết những tác phẩm văn học đang đƣợc đánh giá cao nhƣ:
Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông mía, Thiên thần sám hối, Mẫu Thượng
ngàn, Người đi vắng, Những đứa trẻ chết già… đều là những tác phẩm chịu ảnh
hƣởng VHDG khá sâu sắc.
1.2.1. Những nghiên cứu chung về vai trò của văn hóa dân gian đối với tiểu

nay dẫu còn mang bóng dáng truyền thống, nhƣng nhìn chung về mặt hình thức,
đây là những sáng tác in đậm dấu ấn hiện đại từ đề tài, nhân vật đến cốt truyện,
ngôn ngữ, kết cấu...” [88].
Năm 2015, cũng tác giả Bùi Thanh Truyền trong chuyên luận Văn học Yếu tố
kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam với việc bao quát khối lƣợng tác phẩm
phong phú với 107 tác giả và 253 tác phẩm văn xuôi từ 1986 đến 2010 trên hai
mảng tiểu thuyết và truyện ngắn, tìm hiểu các vấn đề chung về bản chất thẩm mĩ
của yếu tố kì ảo trong văn học, nguyên nhân sự hồi sinh của yếu tố này trong văn
học Việt Nam đƣơng đại, và góc độ mà Bùi Thanh Truyền khảo sát là yếu tố kỳ ảo
trong: nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian, ngôn từ, kết cấu. Chuyên luận là
một đóng góp thiết thực trong nỗ lực mở rộng biên độ phản ánh, chuyển tải một
phạm vi khác lạ vào trong tác phẩm.
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status