Diện mạo và đặc điểm du ký biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

KIỀU NGỌC DUNG

DIỆN MẠO VÀ ĐẶC ĐIỂM DU KÝ BIỂN ĐẢO
NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn

Hà Nội, 2019


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. THỂ LOẠI DU KÝ VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN ......10
CỦA DU KÝ BIỂN ĐẢO NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX ..............................10
1.1. Diện mạo của du ký............................................................................................10
1.2. Sự hình thành và phát triển của du ký về biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX .19
CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA DU KÝ BIỂN ĐẢO NAM BỘ NỬA
ĐẦU THẾ KỶ XX ....................................................................................................31
2.1. Biển đảo Nam Bộ với tư cách là một đối tượng của du ký nửa đầu thế kỷ XX 31
2.2. Thiên nhiên vùng biển đảo Nam Bộ ..................................................................33
2.3. Lịch sử, văn hoá và hiện thực đời sống vùng biển đảo Nam Bộ .......................38
CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA DU KÝ BIỂN ĐẢO NAM BỘ

tế, xã hội, thấy được không gian thử thách trí tuệ, bản lĩnh, sự sống kiên cường và
khát vọng về bảo vệ chủ quyền của đất nước đầy gian nan, thử thách. Trên cơ sở
của hoạt động khai thác biển, bảo vệ vùng biển của Tổ quốc mà “Tư duy hướng
biển” của người Việt được phát triển và hoàn thiện.
Từ một số đề tài nghiên cứu về các vùng trên đất nước như du ký vùng Đông
Bắc, Tây Bắc, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ… qua đó cho thấy mỗi một vùng miền
có một giá trị về địa lý, lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và trên cơ sở đó đã

1


hình thành nên một nền văn học mang đặc trưng riêng cả về nội dung và nghệ thuật.
Đối với du ký biển đảo phía Nam mà cụ thể là vùng Nam Bộ đã có một số tác giả
tìm hiểu và nghiên cứu ở những góc độ về lịch sử, phong tục tập quán và văn hóa.
Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu và phân tích để làm rõ
những đóng góp cả về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của du ký vùng biển đảo
phía Nam của Tổ quốc để đem đến cho độc giả một cái nhìn toàn diện về thiên
nhiên và con người cùng với chiều sâu văn hóa nơi đây.
Hiện nay, vùng biển Nam Bộ là một bộ phận nằm trong vịnh Thái lan thuộc về
vùng biển của 7 tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên
Giang, Cà Mau. Gồm quần đảo “Hòn Khoai, Thổ Chu, An Thới, Hải tặc, bà Lụa, Củ
Tron, và hòn đảo Hòn Chuối, Hòn Bông, cụm hòn Đá Bạc…với vị trí thuận lợi cho các
hoạt động hải thương và sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vùng
biển Nam Bộ từ rất sớm đã giữ những vị trí quan trọng của nhiều quốc gia phong kiến.
Người viết chọn đề tài: "Diện mạo và đặc điểm du ký biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ
XX". Hy vọng sẽ có thêm những đóng góp cho quá trình tìm hiểu về dấu ấn văn hóa
vùng biển đảo Nam Bộ cũng như thiên nhiên và con người nơi đây.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, du ký là một thể loại ra đời từ rất
sớm, Trong lịch sử nghiên cứu về du ký chưa có một công trình lí luận và lịch sử

“ký” lại các sự (những điều mắt thấy tai nghe) trong lúc “du”. Du ký đứng song
song với các tiểu loại khác như: Hồi ký, truyện ký…
Cùng năm, trên Tạp chí Văn học số 06, Nam Mộc có bài Thể ký và vấn đề
viết về người thật việc thật phân chia ký thành các tiểu loại: Phóng sự, ký sự, tùy
bút, bút ký. Du ký được nhà nghiên cứu xếp và một tiểu loại của bút ký, cùng với
nhật ký, hồi ký, tạp văn và tiểu phẩm… Tác giả cuốn: Văn học Việt Nam thế kỉ XX,
khi nêu ra quan niệm về thể ký cũng cho rằng: “Ký là loại hình trung gian giữa báo
chí và văn học. Ký bao gồm nhiều thể dưới dạng văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký,
du ký, nhật ký, phóng sự, tùy bút và cả hồi ký tự truyện”
Đây đồng thời cũng là hướng đi của tác giả cuốn 150 thuật ngữ văn học - Lại
Nguyên Ân (2004) [3] hay Giáo trình lí luận văn học do Trần Đình Sử chủ biên
(2009), Năm bài giảng về thể loại của Hoàng Ngọc Hiến (1992), Giáo trình Lí luận
văn học(Hà Minh Đức chủ biên-1995 cũng xem du ký là một trong các hình thức

3


của thể loại ký, luận văn Ký - những vấn đề đặc trưng thể loại của Nguyễn Thị
Ngọc Minh (2005)… Các công trình này nhìn chung đã bước đầu đưa ra những định
nghĩa cho thể tài du ký cùng với một số đặc điểm chính. Du ký, giống như thể loại
bao trùm nó - ký được nhấn mạnh ở khả năng ghi chép sự thật. [2].
Trong nền văn học Việt Nam cũng như các tạp chí cùng thời đã xuất hiện các
thành tựu đáng trân trọng, lưu giữ của du ký các vùng miền trên đất nước Việt Nam,
tiêu biểu như Nguyễn Đăng Hai tìm hiểu về Thiên nhiên và con người đồng bằng
sông Cửu Long qua một số tác phẩm du ký tiêu biểu giai đoạn 1900 - 1945 (Tạp chí
Khoa học Xã hội và Nhân văn, số 6, 2012) qua các tác phẩm Cảnh vật Hà Tiên,
Thăm đảo Phú Quốc, Tôi ăn tết ở Côn Lôn. Nguyễn Hữu Sơn tìm hiểu về các cùng
địa lý - văn hóa với các địa danh, các vùng của đất nước như Thể tài du ký về Hà
Nội nửa đầu thế kỷ XX (Văn nghệ quân đội, số 10, 2000), Phác thảo du ký Hà Nội
trước Cách mạng Tháng Tám (Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số 6, 2000), Du

sáng tác hướng tới góp phần định danh thể loại du ký, làm rõ đặc điểm của thể loại
này. Với quan điểm: “Đã đến lúc du ký cần được làm sáng tỏ về mặt thể loại” tác
giả cho rằng đây là xu hướng nghiên cứu phù hợp trong tình hình hiện nay, một khi
du ký được định danh rõ ràng thì những “vấn đề về đặc điểm và cách tiếp cận
nghiên cứu du ký không còn bị cản trở bởi sự giao thoa và các lằn ranh thể loại
cùng với quan niệm mơ hồ về du ký” [29]
Du ký từ điểm nhìn địa - văn hóa cũng là một hướng để tiếp cận các sáng tác
du ký. Nguyễn Hữu Sơn là người đã khơi gợi hướng nghiên cứu du ký về các cùng
địa lý - văn hóa: Vùng cao phía Bắc, vùng Quảng Ninh, Thanh Hóa, xứ Huế, Hà Nội,
Sài Gòn - Gia Định... Ông là tác giả của hàng loạt bài viết: Thể tài du ký về Hà Nội
nửa đầu thế kỷ XX (Báo Văn nghệ quân đội số 10, 2000), Phác thảo du ký Hà Nội
trước Cách mạng tháng Tám (báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số 6, 2000), Du
ký Ninh Bình nửa đầu thể kỷ XX (Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình, số 6, 2004, Du ký viết
về Sài Gòn - Gia Định nửa đầu thế kỷ XX từ điểm nhìn những năm đầu thế kỷ XXI
(tạp chí Khoa học xã hội, số 11, 2008), Du ký xứ Thanh nửa đầu thế kỷ XX (báo Tổ
Quốc, 2010), Diện mạo và đặc điểm của du ký xứ Huế nửa đầu thế kỷ XX (báo Du
lịch Sài Gòn, số 6, 2015), Nhận diện du ký biển Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX theo các
vùng văn hóa (Tạp chí Biển, số 6, 2016)… Bằng việc tập hợp các tác phẩm tiêu biểu
viết về từng vùng riêng biệt, Nguyễn Hữu Sơn tìm thấy ở mỗi du ký là một phác thảo

5


độc đáo, tạo thành bức tranh đa màu sắc về các vùng, miền ở Việt Nam. Võ Thị
Thanh Tùng khai thác Tính cách con người Nam Bộ - dấu ấn đặc sắc trong du ký
Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX (Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm thành phố Hồ chí
Minh, số 44, 2013) hay Nguyễn Đăng Hai tìm hiểu về Thiên nhiên và con người đồng
bằng sông Cửu Long qua một số tác phẩm du ký tiêu biểu giai đoạn 1900 - 1945 (Tạp
chí Khoa học xã hội và nhân văn, số 6, 2012). Chu Thị Yến khai thác Du ký về biển
đảo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (Luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn, Hà Nội,

học dân tộc. là một nguồn tư liệu hữu ích đóng góp cho quá trình tìm hiểu về đời
sống tự nhiên, văn hóa, xã hội vùng biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX dưới góc
nhìn của một thể lại văn học.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát các văn bản du ký viết về vùng biển đảo Nam Bộ, khai thác các
tác phẩm du ký từ điểm nhìn văn hóa.
- Xác định đặc điểm của du ký biển đảo Nam Bộ trên phương diện nội dung.
- Xác định đặc điểm của du ký viết về biển đảo Nam Bộ trên phương diện
hình thức.
- Đánh giá đóng góp của du ký về biển đảo Nam Bộ trong sự phát triển của
du ký Việt Nam đầu thế kỉ XX và trong lịch sử văn học dân tộc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các tác phẩm du ký viết về biển đảo
Nam bộ Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, bao gồm khu vực biển đảo thuộc 7 tỉnh: Trà
Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre, Kiên Giang, Cà Mau, Hà Tiên. Các văn bản
này được đăng trên các báo và tạp chí đầu thế kỉ XX như: Nam kì tuần báo, Nam
phong tạp chí, Công luận báo, Tràng An báo, Phong hóa, Tri tân tạp chí…
Phạm vi nghiên cứu tư liệu của luận văn bao gồm các tác giả tác phẩm viết
về vùng biển đảo Nam Bộ Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Đến thời điểm hiện tại, tôi
sưu tầm và giới thiệu trong luận văn 15 du ký của các tác giả có phụ lục kèm theo.
Du ký biển đảo Nam bộ nửa đầu thế kỉ XX có sự phong phú về nội dung, đa dạng
về hình thức, đặc biệt là sự đa dạng của những cây bút viết du ký.

7


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu đã được xác định, để đáp ứng yêu cầu
và đạt được mục tiêu của đề tài đặt ra, trong quá trình triển khai, tôi vận dụng một
số phương pháp nghiên cứu sau đây:

Bộ để thấy được những đóng góp của thể tài du ký trong quá trình hiện đại hoá văn
học và làm phong phú diện mạo văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
- Phân tích các tác phẩm văn du ký vùng biển đảo Nam Bộ giai đoạn đầu thế
kỷ XX với các điểm nhìn lý luân như trên để có những đánh giá đầy đủ và toàn vẹn
trong đời sống văn hóa, xã hội và sự đổi thay, tiếp nối giữa các giá trị truyền thống
và quá trình hiện đại hóa văn học trong thời kỳ lịch sử nửa đầu thế kỷ XX gắn liền
với khát vọng giải phóng dân tộc và quá trình chuyển giao thời đại và tư duy văn
học Việt Nam diễn ra trên một quy mô lớn và toàn diện.
- Nhấn mạnh giá trị và bài học của các tác phẩm du ký viết về biển đảo Nam
Bộ đối với việc nêu cao ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc và sự phát triển
ngành du lịch Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XX và hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn
Chương 1.Thể loại du ký và cơ sở hình thành, phát triển của du ký biển đảo
Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX.
Chương 2. Đặc điểm nội dung của du ký biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX.
Chương 3.Đặc điểm nghệ thuật của du ký biển đảoNam Bộ nửa đầu thế kỷ XX.

9


Chương 1
THỂ LOẠI DU KÝ VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN
CỦA DU KÝ BIỂN ĐẢO NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
1.1. Diện mạo của du ký
1.1.1. Quan niệm về du ký
Những năm đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam, dưới sự thống trị của thực dân
Pháp đã thay đổi mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…trong đó,
văn học Việt Nam đã xuất hiện những luồng tư tưởng mới, nhiều thể loại văn học
mới đã được du nhập và ra đời, dần thay thế cho các dòng chảy của văn học Trung
đại trước đó từng bị chi phối trực tiếp bởi hệ tư tưởng Nho giáo làm cho nền văn

giả với tác giả và tác phẩm. Thể loại chỉ có thể tồn tại được khi đặc trưng cơ bản
được tôn trọng, nếu không ranh giới của thể loại sẽ dễ bị xóa mờ sẽ dẫn tới tình
trạng thiếu sự tôn trọng, trân trọng và niềm tin của người đọc trước tác phẩm.
Là thể loại văn học nằm trong nhóm thể loại ký, du ký cũng không thoát ly
khỏi những đặc trưng chung của hệ thống thể loại. Sách các thể văn chữ Hán Việt
Nam do Trần Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm biên soạn, định nghĩa khá đầy đủ:
“Văn du ký là loại văn được viết ra trong những chuyến đi, vừa để ghi lại hành
trình, vừa để bày tỏ cảm xúc về những điều mắt thấy tai nghe. Đặc điểm của du ký
là chuyên lấy việc mô tả thắng cảnh núi sông, phong vật làm đề tài, cách viết đa
dạng, có thể miêu tả, có thể trữ tình, có thể nghị luận và phải là chính tác giả ghi
chép về chính chuyến đi của mình, miêu tả lại cảm thụ của bản thân trước non sông
phong vật”. Sách Lí luận Văn học, tập 2: Tác phẩm và thể loại văn học, do Trần
Đình Sử chủ biên đưa ra cách hiểu: “Có thể hiểu du ký là thể loại ghi chép về vẻ kì
thú của cảnh vật thiên nhiên và cuộc đời, những cảm nhận, suy tưởng của con
người trong những chuyến du ngoạn, du lịch. Du ký phản ánh, truyền đạt những
nhận biết, những cảm tưởng, suy nghĩ mới mẻ của bản thân người đi du lịch về
những điều mắt thấy tai nghe ở những xứ sở xa lạ, những nơi mọi người ít có dịp đi
đến, chứng kiến” [14] . Vũ Ngọc Phan nhân bàn về tác phẩm Chuyến đi Bắc Kỳ
năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Kỳ, ông đã nhắc đến du ký: “Tập du ký này
viết không có văn chương gì cả, nhưng tỏ ra ông là một người có mắt quan sát rất
sành, vì cuộc du lịch của ông là cuộc du lịch lần đầu, ông lại đi rất chóng. Tuy
không có văn chương nhưng công nhận ngòi bút của ông rất linh hoạt” Như vậy,

11


Vũ Ngọc Phan có chỉ ra được đặc điểm cơ bản là “bài ghi chép cuộc hành trình”
Tuy chưa nêu quan điểm về thể loại của du ký.
Chỉ đến khi nhà Nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn - người có bề dày về nghiên
cứu du ký vào bậc nhất ở Việt Nam hiện thì vấn đề du ký đã được “duy danh” và

tiễn hơn và cũng triết lý hơn về không gian và thời gian của văn hóa, về thế giới
nhân sinh quan và giá trị của chính bản thân mình cũng như sự cống hiến của cá
nhân mình cho xã hội. Chính vì thế làm nên cái hồn cho tác phẩm vẫn là tư duy,
cách nhìn và cách tiếp cận của bản thân với những gì mình nhìn thấy, nghe thấy,
những gì mình khám phá, trải nghiệm.Tất cả những giá trị đó sẽ là một định vị về
cảm xúc, hình thành một nhu cầu tự thân đối với người đọc về mong muốn cũng
được đi, được khám phá và trải nghiệm như người viết.
Trên thực tế, có những tác phẩm du ký không thấy định danh thể loại. Có
những tác phẩm không được gọi đích danh là du ký nhưng bản chất vẫn là tác phẩm
du ký như Chuyến đi Bắc Kì năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký, Ngày và đêm ở Đà
Lạt của Du Tử, Hương Cảng nhơn vật của Trần Chánh Chiếu,… Bản chất du ký là
ghi chép về sự đi, sự xê dịch, thưởng ngoạn cảnh quan xứ lạ, thế nhưng nội hàm của
khái niệm này lại khá phức tạp.Bằng chứng là các nhà nghiên cứu không phải lúc
nào cũng thống nhất với nhau về điểm nhìn nghiên cứu cách định danh. Khi nhìn
nhận và xác định một nội dung có phải là du ký cần dựa trên một số đặc điểm cơ
bản sau:
Thứ nhất,Tác phẩm du ký được thực hiện gắn với ghi chép tư liệu. Một tác
phẩm du ký không đơn giản là một tác phẩm văn học mà còn chứa đựng trong nó cả
một kho kiến thức lịch sử địa lí, giáo dục, chính trị, văn hóa, phong tục tập quán
mỗi vùng miền, rồi cả những cảm nhận, suy tưởng của nhà văn trong quá trình tiếp
xúc với người thật việc thật. Du ký thường là miêu tả những sự việc mắt thấy tai
nghe của người đi trên hành trình, nó gần như một dạng nhật ký hành trình. Điều
này không chỉ kích thích sự tò mò, nhu cầu muốn được khám phá thế giới mà còn là
sự tìm kiếm cơ hội khẳng định bản thân, tìm sự khác biệt cả về cách đi và cách
tường thuật trong văn bản du ký để tạo sự độc đáo cá nhân.
Lối tường thuật cũng có sự biến chuyển dạng thức, từ việc kể chuyện người
sang kể chuyện mình, từ các câu chuyện mang màu sắc huyền thoại sang những câu
chuyện có thực xuất phát từ những điều mắt thấy tai nghe, từ lối kể chuyện khách

13


14


Những câu chuyện được nghe, được chứng kiến trong cuộc hành trình luôn
làm cho du ký có một sức hấp dẫn lạ kì, kích thích trí tò mò cũng như bản năng
khám phá của con người, cộng thêm khối kiến thức vô cùng phong phú được góp
nhặt trên từng dặm đường khiến du ký vừa giàu giá trị nghệ thuật vừa giàu giá trị
thông tin. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy khoa học với tư duy nghệ thuật mà
Gorki gọi là “sự hợp nhất giữa truyện và nghiên cứu” là nét rất riêng, làm nên đặc
trưng cơ bản cho thể loại này. Tư duy nghệ thuật cho phép du ký được tự do “bay
bổng”, thỏa sức bày tỏ những cung bậc cảm xúc trước hiện thực muôn màu. Còn tư
duy khoa học lại góp phần làm giàu cho nhận thức của người đọc.
1.1.2. Vài nét sơ lược về du ký Việt Nam
Trước khi du ký xuất hiện, trong văn học Việt Nam thời kỳ trung đại, đã tồn
tại một số tác phẩm có phương thức sáng tác là nghi chép về những điều mắt thấy,
tai nghe, những điều mới lại về thiên nhiên, cuộc sống và con người, qua những
chuyến đi xa. Những chuyến đi thời trung đại hầu hết không phải là những chuyến
du lịch theo đúng nghĩa mà đều là những chuyến công cán, đi sứ, đi thi, hoặc có
mục đích khác. Trong nước những lúc nhàn rỗi và khi về ngồi hồi tưởng lại, ghi
những cảm tưởng, suy nghĩ, những quan sát thu nhận được trên đường du lữ, để lại
các áng văn thơ du ký. Văn du ký trung đại cũng khá phong phú về hình thức: Thơ,
văn xuôi…
Số lượng sáng tác du ký còn giữ được không nhiều, chủ yếu tập trong trong
khoảng gian từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX. Xét mục đích chuyến đi, địa điểm
di chuyển đến và hình thức chữ viết, có thể tạm thời chia văn du ký trung đại thành
ba loại: Loại văn du ký của các sứ thần Việt Nam đi Trung Quốc và đến giữa thế kỷ
XIX có văn du ký của sứ thần nhà Nguyễn sang Đông Nam Á và Pháp; văn du ký
của các nhà nho đi lại giữa các vùng trong nước; một loại thứ ba là văn du ký viết
bằng chữ cái la tinh mà ngày nay ta gọi là chữ quốc ngữ của Philiphê Bỉnh và

lịch sử, bút ký…[38]
Chuyến du ngoạn từ Thăng Long lên núi Sài Sơn vãn cảnh chùa Phật Tích,
đền Trấn Vũ, tháp Bảo Thiên, chùa Tiên Tích của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án
còn ghi lại trong Tang thương ngẫu lục, với rất nhiều cảm xúc khác nhau. Nhưng
xem truyện đủ biết Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án hòa mình vào thiên nhiên, tôn

16


giáo để quên đi cuộc đời. Tuy nhiên, Tang thương ngẫu lục là những tài liệu quý về
lịch sử, địa lý, điển lễ, phong tục, lễ nghi ở cuối đời Lê [21].
Tác phẩm Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ cùng với Nguyễn Án là một tác
phẩm rất tiêu biểu. Với những nội dung ghi chép lại những việc xảy ra trong xã hội
lúc bấy giờ từ việc trong phủ chúa đến ngoài xã hội [21].
Ngoài ra, thế kỷ XVIII-XIX còn để lại nhiều bài ký đi thăm chùa chiền, danh
lam thắng cảnh khác trong lãnh thổ Việt Nam. Tinh thần chung của du ký thời trung
đại là ghi chép về phong cảnh và các di tích văn hóa lịch sử.
Văn du ký của xứ thần Việt Nam có các áng văn du ký tiêu biểu thuộc loại
này có Bắc sứ thông lục của Lê Quý Đôn (1726 -1784), Bắc hành tùng ký của Lê
Quỳnh. Trong bài tựa cho Bắc sứ thông lục cho biết thơ viết đi sứ của sứ thần Việt
Nam trong lịch sử thì rất nhiều, song văn xuôi thì mãi đến Lê Hữu Kiều mới viết Sứ
Bắc kỷ sự (chuyến đi sứ năm 1737) (theo tập 88,1) - tập này hiện không còn. Và tập
Bắc sứ thông lục là tập văn du ký thứ hai của sứ thần Việt Nam, viết bằng văn xuôi
chữ Hán trong chuyến đi sứ năm 1760 -1761. Lê Quý Đôn ghi chép tỉ mỉ, chi tiết
trước hết các nội dung liên quan đến chuyến đi sứ, từ thành phần sứ đoàn, các cống
vật, lễ vật; hành trình qua các ngày tháng, các địa điểm được ghi chép theo hình
thức nhật ký…Trong giai đoạn đầu của nền quốc văn, du ký quốc ngữ phát triển sôi
nổi như một thể tài tiên phong mang nhiệm vụ tiếp biến nền văn học. Từ những tác
phẩm khởi đầu với quy mô, tầm vóc lớn như “Sách sổ sang chép các việc” của
Philipphê Bỉnh, “Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi” của Trương Vĩnh Ký đến hai du ký

tâm,đóng góp tích cực vào tiến trình phát triển chung của nền văn học hiện đại Việt
Nam. Du ký không khác gì một pho tư liệu quý giá, hấp dẫn, góp phần truyền lại
niềm cảm hứng sâu đậm cho những sáng tác văn học về sau.
Kể từ khi con người thực hiện khát vọng chinh phục thế giới bằng hành trình
vượt không gian và thuật lại hành động đó bằng cảm nhận của chính mình thì cũng
là thời điểm du ký ra đời. Lịch sử của du ký chính là lịch sử của những giá trị mà
con người đạt được qua sự chinh phục không gian và chính mình. Vì thế, làm sáng
tỏ vấn đề lịch sử của du ký không chỉ là sự bổ sung những khiếm khuyết trong
nghiên cứu văn học, mà còn phản ánh sự tồn tại khách quan của thể loại này. Trên
bước đường tìm đến với văn học thế giới của văn học dân tộc, chúng ta không thể

18


phủ nhận vai trò của du ký vì nó đã mở đường cho văn chương, giao thoa giữa văn
hóa phương Đông và phương Tây.
1.2. Sự hình thành và phát triển của du ký về biển đảo Nam Bộ nửa đầu
thế kỷ XX
1.2.1.Cơ sở văn hoá, xã hội, con người của vùng biển đảo Nam Bộ
Nếu lấy biển đảo làm điểm quy chiếu, vùng ven biển Việt Nam được chia làm
4 khu vực. Mỗi khu vực đều có dấu ấn, có những sắc thái riêng về biển đảo trong
tổng thể văn hóa dân tộc nói chung. Khi bàn về văn hóa biển đảo, vùng biển đảo
Nam Bộ nó đã thỏa mãn bốn điều kiện sau đây.
- Về không gian sinh tồn, Vùng biển Tây Nam có các quần đảo và đảo nổi
tiếng như: Côn Đảo, An Thới, Thổ Chu, Nam Du, Hải Tặc, Bà Lụa... Trong đó, đảo
Phú Quốc cùng với Thổ Chu và tuyến đảo Nam Du, Hòn Chuối, Hòn Khoai tạo thành
thế khép kín bao bọc lấy phần đất liền phía Tây Nam của Tổ quốc. Địa hình các đảo
với bờ biển bao quanh hình dáng uốn lượn, nhiều bãi biển rất đẹp, nước trong xanh,
nhiều đảo còn giữ được vẻ hoang sơ, rừng nguyên sinh rất hấp dẫn và các di tích lịch
sử, văn hóa... Nằm cạnh các luồng hải thương quan trọng của thế giới, biển đảo Nam

Về cách thức hoạt động sản xuất, ta thấy, hoạt động sản xuất ở Nam Bộ
mang đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ với tính sông nước rõ nét.Nhờ hệ
thống kênh, rạch, mương, rãnh… vô cùng chằng chịt và thuận lợi nên Người Nam
Bộ thường kết hợp canh tác giữa ruộng và vườn. Hoạt động ngư nghiệp qua việc kết
hợp nuôi cá, tôm trên ruộng lúa hoặc nuôi trồng theo kiểu vuông cá, vuông tôm
được phát triển mạnh. Nơi đây việc khai thác đánh bắt cá ở các ngư trường trên biển
còn bà nguồn sống chính của nhiều ngư dân làng chài ven biển và trên đảo.Người
Nam Bộ còn nuôi chim, cò, ong mật trong vườn trái cây, rừng tram (tạo thành
những rừng tràm, sân chim)… Nổi tiếng là Sân chim Vàm Hồ nằm trên Cù lao Lá.
Được hình thành nên những dãy rừng ngập mặn rộng hàng chục hecta xuôi theo
dòng Ba Lai. Đây là nơi sinh sống của rất nhiều loài chim, nhất là cò trắng, cò
ngang nhỏ, vạc, diệc xám.Vườn Quốc gia Tràm Chim Đồng Tháp nổi tiếng nhất cả
nước. Nơi đây được xem là khu dự trữ sinh quyển Ramsar thứ 2.000 của thế
giới.Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp với sông nước mênh mang, những
rừng tràm ngút ngàn và thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng.

20


Sông nước nơi đây còn là tiền đề phát triển các nghề buôn bán trên sông, vận
tải đường sông.Phương tiện đi lại và vận chuyển chủ yếu là đường thủy, phương tiện
là ghe xuồng các loại.Cư ngụ giữa vùng sông nước, dù nhà nghèo ít nhất cũng có một
chiếc xuồng ba lá. Xuồng ba lá với đặc điểm nhỏ gọn, dễ luồng lách và cách rạch nhỏ
đã trở thành biểu tượng của văn hóa sông nước, xứ ruộng sình kinh ngập, mùa mưa lũ
kéo dài tới 6 tháng mỗi năm.Nhiều người vẫn nhớ câu ca được cải biên từ một điệu lý
để thấy chiếc xuồng ba lá gắn bó trong sinh hoạt với người dân nơi đây.
Nhà anh cách nhà em hai kinh một rạch
Anh ngó thấy em tóc dài buông hờ bà ba tím
Anh nghèo chưa sắm xuồng ba lá
Chẳng đành lội kinh dính sình sang bển gặp em

thành một “sóc”. Thêm vào đó, vì mỗi năm lại có một mùa nước nổi và vì địa hình
thấp mà ở Nam Bộ trước đây cũng có nhiều nhà sàn. Đặc biệt, xuồng ghe ở Nam Bộ
không chỉ là phương tiện di chuyển, mưu sinh mà còn là nhà, là nơi cư trú của nhiêu
cư dân làm nghề đò dọc, nuôi cá và bán buôn bán trên sông.
Về ẩm thực, bữa ăn của người Nam Bộ thiên về dư dật, phong phú về với
món ăn từ rau và cá. Trong đó, người Nam Bộ rất thích hải sản nên đã tạo ra những
món ăn rất đặc trưng như canh chua cá kèo, lươn um lá nhàu, ốc bươu luộc hèm,
mắm sống, mắm chưng, lẩu mắm…Khẩu vị của người Nam Bộ nói chung và miền
Tây nói riêng cũng rất khác biệt: Gì ra nấy! Mặn thì phải mặn quéo lưỡi, ăn cay thì
phải gừng già, cũng không thể thiếu ớt, mà ớt thì chọn loại ớt cay xé, hít hà, ngọt thì
ngọt như chè….Nói đến cay mà không đề cập và nghiên cứu khẩu vị của người
Nam khi ăn tiêu hột hoặc tiêu xay là cả một sự thiếu sót, bởi tiêu đâu chỉ là cay mà
còn ngọt. Họ chế biến rất nhiều món ăn khác nhau từ một loại thực phẩm, điển hình
như với cá lóc, người Nam có thể chế biến ra hơn 20 món khác nhau như canh chua
cá lóc, cá lóc nướng trui, mắm cá lóc, khô cá lóc, cá lóc kho hột vịt, cháo cá lóc, cá
lóc chiên cháy… Kế đến, từ một món ăn người ta có thể chế biến bằng nhiều loại
thực phẩm khác nhau ví dụ như chỉ với món kho đã có cá lóc kho, cá trê kho, cá hủn
hỉn kho tiêu, cá sặc kho, cá chạch kho, cá rô kho, cá lòng ròng kho… còn có cả gà
kho và dừa kho nữa. Sự độc đáo trong chế biến còn ở chỗ cũng là kho nhưng người
Nam Bộ có nhiều cách kho khác nhau, như: kho tiêu, kho tộ, kho quẹt, kho khô, kho

22


mặn, kho riệu… Người Nam Bộ cũng không quá cầu kỳ trong việc bày biện trang
trí món ăn, có thể bày trên lá, trên mẹt.
Về trang phục, cư dân miền Nam Bộ do điều kiện tiếp xúc với nhiều luồng văn
hoá khác nhau nên trang phục cũng chịu ảnh hưởng đáng kể. Ngoài ra, với đặc tính
thích cái mới, người Nam Bộ luôn tỏ ra nhanh nhạy theo các xu hướng của thời trang.
Yếu tố giao thoa văn hóa thể hiện trong trang phục phụ nữ của cả bốn dân tộc ở miền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status