PHÂN TÍCH THÔNG TIN,
D ữ KIỆN SÓ LIỆU VÈ GIÁO DỤC,
THI CỬ NHO HỌC Ở NAM Bộ NỬA ĐÀU THÉ KỶ XIX
Đặng Ngọc Ha
1. Hệ thống giáo dục Nho học
Nam Bộ là vùng đất không cỏ truyền thống thi cử Nho học. Do đặc trưng về
thiên nhiên, quần cư, đời sống kinh tế, văn hóa và hành chính dẫn đến sự xâm nhập
của Nho giáo ờ đây không mạnh mẽ. Trước yêu cầu phải có tầng lớp quan lại nguồn
gốc Nam Bộ và kéo Nam Bộ vào quỹ đạo tư tưởng Nho giáo cho nên nhà Nguyễn
đã thúc đẩy mạnh mẽ giáo dục Nho học.
Lúc còn ở Nam Bộ trong cuộc chiến với Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã từng tổ
chức các cuộc khảo thí, sát hạch những người đi học nhằm tuyển quan lại nhưng
công việc này chỉ là biện pháp tạm thời. Ngay khi thành lập năm 1802, triều
Nguyễn đã tổ chức khảo thí nhằm chọn tuyển quan lại1. Sang năm 1803, quy chế
giáo dục Nho học chính thức được ban hành2. Đến năm 1805 công việc tổ chức hệ
thống giáo dục Nho học hoàn thiện thêm một bước nữa với việc đặt một viên quan
đốc học cùng hai vị phó đốc học để phụ trách giáo dục, thi cử3. Như vậy, trong nửa
thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XIX hệ thống giáo dục Nho học đã được thành lập và từ
đó về sau là quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống này.
Từ đầu thế kỷ XVIII, trong quá trình mở đất của chúa Nguyễn ở Nam Bộ, biểu
tượng của Nho giáo là Văn miếu đã được xây dựng tại đinh Trấn Biên (thể kỷ XIX
thuộc tinh Biên Hòa) là một vùng đất địa đầu4. Hơn một thế kỷ sau, Văn miếu thứ
hai của Nam Bộ mới được xây dựng ở tinh Gia Định5. Đến giừa thế kỷ XIX, Văn
* Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quổc gia Hà Nội.
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 484.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, sđd, tr. 574.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, sđd, tr. 640.
4. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, sđd, tr. 133.
5. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2006, Đại Nam nhất thống chí , tập 5, Nxb. Thuận Hóa, Huế,
tr. 273.
có một đốc học phụ trách giáo dục, bên dưới là hai phó đốc học. Đến năm 1822,
trong 5 trấn của thành Gia Định mỗi trấn đều có chức đốc học, sang năm 1823 chức
đốc học của thành Gia Định phụ trách chung 5 trấn bị bãi bỏ3. Cũng năm 1823, bắt
đầu đặt giáo thụ các phủ và huấn đạo các huyện. Sau cải cách Minh Mệnh, Vĩnh
Lọng và Biên Hòa là hai tỉnh có chức đốc học sớm nhất bắt đầu khi thành lập tỉnh
vào năm 1832, hai năm sau Định Tường và Gia Định cũng có đốc học, đến tận năm
1840 An Giang mới có chức đốc học. Riêng Hà Tiên không có chức đốc học vì dân
số nhỏ và “hay di chuyển bất thường”4.
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2006,
Đại Nam nhất thống chí, tập 5, sđd, tr. 170.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 303.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thực lục, tập 2 sđd, tr. 306.
4. Trịnh Hoài Đức, 2006, Gia Định thìinh thông chí, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai, tr. 189.
323
VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư
Huấn đạo là giáo chức cấp cơ sờ có vai trò sát sao nhất trong hệ thống quan
chức giáo dục. Chức vụ này chỉ có ở các huyện giáo dục, thi cử Nho học phát triển.
Năm 1830 các huyện Phước Chính, Bình An, Long Thành, Tân Minh, Vĩnh Bình,
Kiến Hưng, Kiến Đăng có nhiều người đi học nên mới lập chức huấn đạo cho mỗi
huyện1. Việc cắt cử hay bãi bỏ chức vụ này tùy thuộc vào số lượng người đi học, đi
thi. Huyện Long Xuyên ở Hà Tiên có chức huấn đạo năm 1827, nhưng đến năm
4. Đặng Ngọc Hà, 2007, Giáo dục và thi cừ Nho học ở Nam Bộ (1802 - 1867), Khóa luận tốt
nghiệp ngành Lịch sử, Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, tr. 52-54.
5. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr. 124.
6. Cao Xuân Dục, 1993, Quốc triều hương khoa lục , Nxb. Tp Hồ Chí Minh, tr. 742.
7. Đặng Ngọc Hà, 2007, Giảo dục và thi cừ Nho học ở Nam Bộ (1802 - 1867), sđd, tr. 58-59.
8. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2 sđd, tr. 775.
324
PHÂN TÍCH THÔ NG TIN, DỮ KIỆN s ố LIỆU.
Lễ, Xuân Thu, Chư Tử và lịch sử1. Đe đẩy mạnh chất lượng giáo dục, từ 1832 nhà
Nguyễn ban hành quy chế giảng dạy riêng cho Nam Bộ2. Theo đó, mật độ học tập
cùa người học vất vả hơn, mỗi ngày các giáo chức phải thực hiện 3 lần giảng, mỗi
lần đều ra theo 4 nội dung của thi Hương, thi Hội.
Người đi học có thể dự thi đều đặn các kỳ thi Hương, thi Hội đặc biệt các kỳ
thi Hương được tổ chức ngay tại Nam Bộ với trường thi Gia Định, sau này khi Nam
Kỳ bị Pháp chiếm nhà Nguyễn lập trường An Giang. Có 20 kỳ thi Hương được tổ
chức ở Nam Bộ từ năm 1813 đến 1864, trong thời gian này các trường thi ờ châu
thổ Bẳc Bộ đã diễn ra 24 kỳ thi. Có nhiều kỳ thi Hương Nam Bộ không tổ chức
trường thi do ít người dự thi hoặc ảnh hưởng của cuộc chiến chổng Lê Văn Khôi
hay bị Pháp xâm lược.
Quy mô trường thi Hương ở Nam Bộ nhỏ hơn châu thổ Bắc Bộ. Theo quy
định năm 1834, số lượng các ngạch quan chức làm việc tại trường thi Gia Định ít
hơn so với các trường thi lớn như Hà Nội, Nam Định, Nghệ An, Thừa Thiên3. Có
trường hợp năm 1841 triều Nguyễn còn bớt sổ người làm công tác thi như quy định
ờ trường Gia Định vì: “số thí sinh ở trường thi Gia Định rất ít”4. Nội dung thi
Hương, thi Hội được quy định chung trên cả nước, Nam Bộ cũng không phải là
ngoại lệ. Ban đầu 1802 khi khảo thí ở Nam Bộ chi thi 3 kỳ là kinh truyện; chiếu,
sự trong tổ chức giáo dục có thành phần đa dạng nhưng không đông đảo. Các kỳ thi
Hương chưa được tổ chức thường xuyên do hiện tượng ít người học hoặc do những
biến cố về quân sự.
2. Chính sách khuyến khích giáo dục Nho học
Nhà Nguyễn hết sức quan tâm đến Nam Bộ vì là đất “trung hưng” của họ
Nguyễn, đồng thời là khu vực hệ trọng trong quan hệ ngoại giao với Chân Lạp,
Xiêm. Từ kinh nghiệm chiến trường lâu dài ở Nam Bộ, Gia Long đánh giá: “Gia
Định là thành lớn ở phương Nam, lại có việc ngoại giao quan trọng, không có người
giỏi thì không xong”2. Nhà Nguyễn tiến hành rất nhiều công việc quan trọng ở Nam
Bộ trong đó có giáo dục, thi cử. Chính sách khuyến khích phát triển giáo dục, th: cử
Nho học nhàm tạo ra những quan chức có nguồn gốc Nam Bộ phục vụ cho công tác
quản lý đồng thời muốn kéo Nam Bộ vào quỹ đạo của tư tường chính thống Nho
giáo. Chính sách khuyến khích của triều Nguyễn là hệ thống khá toàn diện tác đ)ng
đến nhiều đối tượng của giáo dục Nho học.
Triều Nguyễn nhận thức đầy đủ thực trạng yếu kém của giáo dục Nho học
Nam Bộ nên hệ các chính sách khuyến khích đã ra đời ngay từ thời Gia Long.
Trước việc không tuyển được nhiều quan lại, cộng với các vị trí quan trọng ở ch'nh
quyền trung ương phần nhiều là người miền Bắc3 nên Minh Mệnh phải thốt lên
rằng: “ngày xưa nói văn thần võ tướng, đầy rẫy đông đúc, để nên sự nghiệp tmng
hưng, không ai không phải là người Gia Định, mà sau ngày nay lại vắng vẻ như
thế?”4. Chính sách khuyến khích giáo dục càng được đẩy mạnh vào thời Vinh
Mệnh khi ông xác định Nam Bộ là đất “văn phong mới mở”, “văn học mới ctớm
nở”, “phong hóa chưa thấm nhuần”.
Trọng tâm của chính sách khuyến khích giáo dục Nho học ở Nam Bộ được đật
vào đối tượng người đi học. Chúng tôi không phân tích các chính sách khiyốn
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, 1973, Đại Nam thực lục, tập 28, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,
tr. 116-118.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thựclục, tập 1, sđd, tr. 938.
Nam Bộ sống trên địa bàn cả nước và những người nơi khác hiện đang sinh sống ở
Nam Bộ.
Thứ hai, không đòi hỏi cao trong kỳ thi khảo khóa. Khảo khóa là các kỳ kiểm
tra quá trình học tập, chuẩn bị cho kỳ thi Hương. Năm 1832, triều Nguyễn sửa đổi
quy chế khảo khóa, cho phép trong 4 năm đến năm 1836 việc chấm thi khảo khỏa,
thi hạch được: “tùy văn mà phê chuẩn”5 không cần đúng theo quy cách chung; đồng
thời cũng cho phép người đi học được tham gia 8 lần thi khảo khỏa. Đến năm 1833,
khi cuộc chiến chống Lê Văn Khôi vẫn đang diễn ra, để tạo thuận lợi cho việc học
tập ở Nam Bộ, triều Nguyễn nhấn mạnh trong hai năm 1834, 1835 cho phép các
giáo quan: “tùy theo văn lý điểm duyệt, phê lấy, không câu nệ là thể văn nào”6 và
gia hạn thêm thời gian sửa đổi khảo khóa đến hết năm 1837, và từ 1838 trở đi việc
khảo khóa phải trở về với quy định chung của cả nước. Sửa đổi quy chế khảo khóa
nhằm tạo điều kiện dễ dàng hơn trong nội dung học tập ở Nam Bộ.
1. Quốc sử
quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr. 136.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr. 117.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, 1973, Đại Nam thực lục, tập 28, sđd, tr. 426-427.
4. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr. 180.
5. Quốc sử quán triều Nguyễn,2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr. 309-310.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr. 823.
327
VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẺ LÀN THỨ TƯ
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr. 489.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr. 508-511.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr. 508.
4. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004,
Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr. 640.
5. Quốc sử quán triều Nguỹễn, 2004,
Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr. 389.
6. Xem thêm: Cao Xuân Dục, 1962, Quốc triều đăng khoa lục, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất
bản, Sài Gòn, 1962.
7. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr. 117.
3 28
PHÂN TÍCH TH Ô N G TIN, DỮ KIỆN SỐ LIỆU...
1835, 1838 nhiều học trò, tú tài (không đồ thi Hương, học vị thấp hơn cử nhân một
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr. 294.
2. Cuốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr. 200.
3. Cuốc sử quán triều Nguyễn, 1973, Đại Nam thực lục, tập 28, sđd, tr.g 398.
4. Eặng Ngọc Hà, 2007, Giảo dục và thi cừ Nho học ở Nam Bộ (1802 - 1867), sđd, tr. 52-54.
329
VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI T R Ù ) QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư
hương khoa lục có thể phác họa drợc diện mạo này. Quốc triều hương khoa lục là
tác phẩm ghi chép tất cả những người đỗ thi Hương ở Việt Nam dưới thời nhà
Nguyễn. Đối với Nam Bộ, kỳ thi Hương đầu tiên diễn ra năm 1813 và kết thúc năm
1864 khi thực dân Pháp xâm lược nơi đây. Tổng hợp ghi chép về kỳ thi Hương trên
toàn quốc trong hơn 50 năm giúp nhận diện thực trạng thi cử Nho học ở Nam Bộ so
với các vùng khác và trong nội vùng Nam Bộ.
Tính đến năm 1864, nhà Nguyễn đã tổ chức 24 kỳ thi Hương, trong đó ở Nam
Bộ diễn ra 20 kỳ thi. Có 19 kỳ thi diễn ra ở trường thi Gia Định, kỳ thi cuối cùng ở
Nam Bộ tổ chức tại trường thi An Giang, tổng số người đỗ cử nhân ở hai trường thi
này là 269 người. Nam Bộ cũng chi có 3 người đỗ Tiến sĩ trong các kỳ thi Hội là
Phan Thanh Giản, Phan Hiển Đạo, Nguyễn Chánh và 1 người đỗ Phó bảng là Đinh
Văn Minh trong khi đó trên cả nước từ năm 1822 đến năm 1865 có gần 300 người
đỗ Tiến sĩ1.
Trong hom nửa thế kỷ, hai trường thi Hương ở Nam Bộ lấy đỗ số cử nhân rất
thấp chỉ chiếm hơn 10% so với cả nước. Thừa Thiên và Hà Nội là hai trường thi có
nhiều cử nhân nhất. Vào thời Thiệu Trị, trường thi Gia Định có số lượng cử nhân
nhiều nhất, thời gian này chênh lệch giữa trường thi Gia Định với các trường thi lớn
như Hà Nội, Nam Định không nhiều.
r
Kinh Bẩc
Hài Dương
ơn Tây
ơn Nam
hanh Hóa***
Nghệ An
ni 4 rpí
•A
Tự Đức
Số lượng
%
180
20,02
157
¡7,46
ryiÁ
Tông
Số lượng
383
7
2,75
26
10,20
152
21,14
209
78
27
34
83
9,23
163
18,17
135
34,2 ì
223
100
83
719
11,54
100
84
611
1
¡
0
0
0
4
6
470
13,75
100
899
1
~H
2.484
hợp số liệu Irong: Cao Xuân Dục, 1993, Quốc triều hương khoa lục, sđd, tr. 92-372.
trường thi Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn T ây ch i được mờ duy nhất một lần vào năm 1807. Trường thi Sơn Nam được mờ dưới t
, Minh Mệnh. Trường thi Thanh Hóa băt đâu mở từ thời Gia Long, bị gián đoạn dưới thời Thiệu Trị sau đỏ Tự Đức lại cho mở
Hai trường thi Bình Định, An Giang bắt đầu được mở vào thời Tự ĐứcT
ước 1834 gọi là trường thi Thăng Long.
ước 1825 gọi là trường thi Thanh Hoa.
rước 1825 gọi là trường thi Quảng Đức, riêng năm 1819 gọi là trường thi Trực Lệ.
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư
Nếu nhóm 12 trường thi trên thành bốn khu vực lãnh thổ để nhìn nhận nguồn
gốc quê quán của người dự thi Hương thì số lượng cử nhân ở Nam Bộ thấp nhất
trong cả nước. Cách nhìn này mang tính khái quát, bởi lẽ có khi đỗ cử nhân ở
trường thi này nhưng lại là người quê ở vùng khác, tuy nhiên với số lượng lớn gần
2.500 cử nhân được xem xét thì có thể coi việc phân tích này có độ tin cậy cao khi
sự xáo trộn dân cư không diễn ra quá mạnh dưới thời Nguyễn. Nam Bộ chì có 269
người đỗ cử nhân, có số này chỉ gần bằng 1/4 so với cái nôi của Nho học ở châu
thổ Bắc Bộ và bằng một nửa so với Bắc Trung Bộ là vùng có truyền thống Nho học
ờ xứ Nghệ.
Sự phát triển giáo dục ở Nam Bộ thế kỷ XIX được chia thành hai thời kỳ lớn:
thời kỳ từ đầu thế kỷ XIX đến cuối những năm 30; thời kỳ từ đầu những năm 40
đến khi Pháp bắt đầu xâm lược miền Tây Nam Bộ. Thời kỳ thứ nhất được coi là:
nhưng nhìn vào số lượng đỗ cư nhân thấy kết quả ở hai vùng khác xa nhau. Nhà
nước rất muốn phát triển giáo dục, thi cử ở Nam Bộ, các chính sách khuyển khích
được ban hành có hệ thống nhưng việc học ở đây có sự phát triển chậm. Vùng đất
1. Cao Tự Thanh, 1996, Nho giáo ở Gia Định , Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 120.
332
PHÂN TÍCH THÔNG TIN, DỮ KIỆN SỐ LIỆU.
cùa triều Nguyễn là Thuận Quảng nơi dòng họ này cát cứ chổng lại họ Trịnh và
là kinh đô hiện tại của vương triều cũng được chính quyền rất quan tâm và vùng này
có sự phát triển giáo dục Nho học nhanh hơn Nam Bộ rất nhiều, số lượng cử nhân
vùng Thuận Quàng cũ có sự phát triển mạnh mẽ ở các kỳ thi Hương thời Thiệu Trị,
Tự Đức (13 kỳ thi trong cả nước từ năm 1841 đến năm 1864) so với thời gian Gia
Long và Minh Mệnh (11 kỳ thi trong cả nước từ năm 1807 đến năm 1840). Phải
còng nhận một thực tế nhà Nguyễn đặc cách cho trường thi Hương ở kinh đô được
lây nhiều người đỗ, nhưng việc đặc cách này cũng phải căn cứ vào thực trạng sự
phát triển giáo dục, chất lượng bài thi, và do đó một điều dễ nhận thấy là giáo dục
Nho học ờ vùng Thuận Quảng cũ phát triển nhanh chóng hơn rất nhiều so với vùng
đất “trung hưng” Nam Bộ.
CÙ
Trong các kỳ thi Hương, số lượng đỗ cử nhân ở Nam Bộ không có chênh lệch
lớn. Có 241 cử nhân là người gốc Nam Bộ thi đỗ ờ các trường thi Gia Định, An
Giang; có 25 người ở nơi khác đến dự thi trong đó phần lớn ở miền Thuận Quảng
cu cụ thể ở hai tỉnh Khánh Hòa và Bình Thuận. Năm 1840 có số người đồ cử nhân
thấp nhất với 5 người, cỏn lại các nãm khác sổ người đỗ cử nhân khá đồng đều.
Trong nội vùng Nam Bộ có sự chênh lệch rất lớn về thi cử giừa các tỉnh. Gia
Tỉnh
N ăm
An
Giang
Biên
Hòa
Định
Tường
Gia
Định
1
1
Hà
Tiên
Vĩnh
Long
Số
lượng
%
4
14
5,81
1828
2
10
3
15
6,22
1831
1
7
2
10
4,16
7
2
11
4,56
3
2
5
2,07
1
2
6
*2
13
5,40
3
581
1846
3
1
1
6
2
13
5 39
1847
3
1
1
5
6
622
1852
2
3
4
3
12
500
1855
1
1
2
6
1
11
9
3 73
Số
Tông lưọng
16
21
39
120
0
45
241
¡00
6,64
8,72
16,18
49,79
ĐịiihTitờiig
GiaĐịnlì
Hà Tiên
Vĩnh Lous
Có sự phát triên vê sô lượng cử nhân trong các tỉnh Nam Bộ ở các kỳ thi thời
Thiệu Trị, Tự Đức (11 kỳ thì ở Nam Bộ từ năm 1841 đến năm 1864) so với các kỳ
thi thời Gia Long, Minh Mệnh (9 kỳ thi ở Nam Bộ từ năm 1807 đến năm 1840).
Riêng Gia Định quá trình này lại ngược lại, số cử nhân giữa hai thời kỳ này là 58 và
62 người.
Đa số các huyện ở Nam Bộ có người đồ cử nhân thấp, chênh lệch số lượng cừ
nhân giữa các huyện rất lớn. Hom 2/3 sổ huyện chỉ có dưới 10 người đỗ cử nhân
trong suốt nửa thế kỷ. 7 huyện ở Nam Bộ có số cử nhân từ 10 đến dưới 30 người.
Huyện Bình Dương, tinh Gia Định có số cử nhân cao nhất vùng Nam Bộ với 68 cử
nhân, với sổ lượng này còn lớn hơn tỉnh Vĩnh Long và gần gấp đôi tỉnh An Giang,
Biên Hòa cộng lại. Nhưng con số này chưa phải quá cao, riêng một làng ở châu thổ
Bắc Bộ như Đông Ngạc (Hà Nội) thời Nguyễn cũng có đến 35 cử nhân'. Tại tinh
Gia Định, số lượng cừ nhân ờ các huyện rải rác trong 6 cấp độ từ không có người
đồ đến huyện có nhiều người đỗ nhất.
Dữ liệu số liệu về các kỳ thi Hương đã phản ánh sống động bức tranh giáo dục
Nhơ học ở Nam Bộ. Chính sách giáo dục của chính quyền đã đem lại một tác dụng
cụ thể là số lượng cử nhân ngày càng nhiều. Tuy nhiên, nền giáo dục thi cừ Nho học
ở Nam Bộ chưa thể sánh vai cùng các khu vực như châu thổ Bắc Bộ hay Thanh
Nghệ. Chính sách giáo dục dường như đem lại tác động lớn nhất đến trung tâm cùa
vùng là tỉnh Gia Định.
thức thi mà do ảnh hưởng của môi trường kinh tế, văn hóa. Tính “trọng nghĩa khinh
tài” được tạo nên trong môi trường đặc biệt nơi kinh tế nông nghiệp có các nguồn
lực trở nên vô hạn và do đó người dân Nam Bộ ít quan tâm đến học hành thi cử.
336