CƠ sở lí LUẬN về GIÁO dục LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG bộ CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG dựa vào CỘNG ĐỒNG - Pdf 55

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC LUẬT GIAO
THÔNG ĐƯỜNG BỘ CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG


Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Các công trình nghiên cứu về giáo dục Luật Giao thông
đường bộ
Thời gian qua có nhiều công trình nghiên cứu, chủ trương,
nghị quyết, chính sách, kế hoạch của Đảng và Nhà nước về giáo
dục pháp luật an toàn giao thông, nâng cao ý thức chấp hành
luật giao thông trong nhà trường.
Nghị quyết 32/2007/NQ-CP về một số giải pháp cấp bách
nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, Bộ Giáo
dục và đào tạo có trách nhiệm: “Ban hành chương trình giáo dục
trật tự an toàn giao thông phù hợp trong nhà trường, tăng thời
lượng giảng dạy chính khóa, các hoạt động ngoại khóa về trật tự
an toàn giao thông. Thực hiện chương trình giảng dạy trật tự an
toàn giao thông mới từ năm học 2008 - 2009 ở tất cả các cấp
học ”.
Năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chỉ thị số
52/2007/CT- BGD&ĐT về việc tăng cường công tác giáo dục
về an toàn giao thông bằng cách đưa giáo dục Luật Giao thông
vào giảng dạy chính trong nhà trường. Đồng thời sẽ trở thành


môn học chính khoá cho học sinh từ mẫu giáo cho tới học sinh
trung học phổ thông. “Chỉ đạo hiệu trưởng các trường phổ
thông, các trường cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp
quản lý chặt chẽ học sinh, sinh viên về chấp hành Luật giao
thông; thường xuyên nhắc nhở, đưa thông tin liên quan đến trật

lượng Cảnh sát giao thông” của Bộ Công an - Năm 1998.
Đề tài “Tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp” của Lê Văn Bách Năm 2002.


Đề tài nghiên cứu “Hệ thống giao thông Việt Nam: Những
vấn đề hiện tại và chương trình cho tương lai” của Tiến sĩ
Khuất Việt Hùng - Viện quy hoạch và quản lí giao thông vận tải
(Đại học giao thông vận tải).
“Nghiên cứu quy hoạch tổng thể an toàn giao thông
đường bộ của nước cộng hòa XHCN Việt Nam” của Cơ quan
hợp tác quốc tế Nhật Bản và ủy ban ATGT quốc gia - Năm
2008.
Đặng Thùy Anh – Trần Sơn –Nguyễn hữu Khải, “ Giáo
dục trật tự an toàn giao thông cho học sinh Trung học cơ sở và
Trung học phổ thông”, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, năm
2003.
Chương trình An toàn giao thông do Bộ giáo dục và đào tạo
phối hợp với Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia và Công ty
HVN triển khai năm 2013
Các công trình nghiên cứu về giáo dục dựa vào cộng
đồng
Trách nhiệm của nhà trường trong việc tổ chức, phối hợp
với gia đình và cộng đồng xã hội để giáo dục học sinh là vấn đề


từ lâu đã được các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục coi trọng.
Trong nền giáo dục cận đại, J.A.Komenxki (1592-1670) là
người đầu tiên nêu ra một hệ thống lý luận chặt chẽ về tầm quan
trọng của mối quan hệ thống nhất giữa gia đình, nhà trường và

là nguyên tắc cơ bản để đảm bảo kết quả giáo dục trong các loại
hình trường học. Các nhà giáo dục đã quan tâm nghiên cứu và
từng bước giải quyết vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau.
Các công trình nghiên cứu về vấn đề này như sau:
Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia
đình và xã hội trong điều kiện mới, tập thể tác giả Trung tâm
Giáo dục học, Viện Khoa học Giáo dục, (1993).


Những quan điểm, phương pháp luận của việc liên kết
giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quá trình
giáo dục học sinh hiện nay, tác giả Nguyễn Thị Kỳ, Viện Khoa
học Giáo dục, (1996).
Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường và các thể
chế xã hội khác, tác giả Phạm Khắc Chương (chủ biên), NXB
Giáo dục, (1998).
Các tác giả Phạm Tất Dong, Lê Thi, Đinh Thị Kim Thoa...
đã có những công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề con người
và vấn đề xã hội hóa, vấn đề về gia đình và vai trò của gia đình
trong sự hình thành nhân cách trẻ em, sự phát triển của gia đình
Việt Nam và chức năng giáo dục gia đình; nghiên cứu công tác
bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình và cộng
đồng, việc giáo dục truyền thống cho trẻ em trong gia đình.
Các công trình nghiên cứu về giáo dục Luật Giao thông
đường bộ cho học sinh THPT
Hoạt động giáo dục Luật giao thông cho học sinh cần sự
phối hợp của nhiều lực lượng xã hội và các bên liên quan cùng
tiến hành, triển khai. Các văn bản pháp luật thể hiện sự phối hợp



Điều 12 Nghị định số 36/2001/NĐ - CP nêu rõ: “Bộ Giáo
dục và Đào tạo xử lý nghiêm khắc những học sinh cố tình vi
phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông” [15].
Có thể thấy, các văn bản pháp luật chỉ đạo, định hướng
việc phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật giao thông cho
học sinh, sinh viên đã được nêu lên rõ ràng. Tuy nhiên, nghiên
cứu về vấn đề này còn khá mới mẻ, nhất là việc nghiên cứu phối
hợp các lực lượng trong giáo dục Luật giao thông đường bộ cho
học sinh khối các nhà trường nói chung, khối các trường THPT
nói riêng. Công trình nghiên cứu của chúng tôi mong muốn tạo


được điểm nhấn về việc phối hợp các lực lượng cùng với nhà
trường tham gia công tác giáo dục Luật giao thông đường bộ
cho học sinh THPT, đặc biệt ở cộng đồng có sự đô thị hóa
nhanh, mật độ dân số đông, mạng lưới giao thông phức tạp như
quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Tóm lại, qua việc nghiên cứu về tổng quan giáo dục pháp
luật và giáo dục Luật GTĐB tôi thấy rằng: những năm qua, ở
nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về giáo dục pháp
luật, giáo dục và quản lý giáo dục Luật giao thông đường bộ.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách đầy đủ và có hệ thống về giáo dục Luật GTĐB cho
học sinh THPT nói chung và cho học sinh THPT ở quận Long
Biên, Thành phố Hà Nội nói riêng góp phần đảm bảo trật tự
ATGT và sự bình yên của xã hội trên địa bàn Thành phố Hà
Nội.
Các khái niệm cơ bản
Pháp luật và Luật Giao thông đường bộ
Pháp luật là gì?

họ gây ra. Các quy định pháp luật của nhà nước thể hiện bằng
các văn bản quy phạm pháp luật (gồm có văn bản luật và văn
bản dưới luật) và được diễn đạt chính xác, một nghĩa để người
dân bình thường đọc cũng hiểu được đúng và thực hiện chính
xác các quy định pháp luật. Hình thức văn bản phải được quy
định chặt chẽ trong Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật. Nội dung văn bản đều phải phù hợp, không
được trái với Hiến pháp nhằm tạo nên sự thống nhất của hệ
thống pháp luật.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu pháp luật là hệ thống các quy
tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và được bảo đảm thực hiện
bằng quyền lực nhà nước.
Luật giao thông đường bộ


Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992 [13] đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 51/2001/QH10; ngày 13/11/2008 Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật giao
thông đường bộ, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, bao gồm 8
chương và 89 điều, trong lĩnh vực thi hành, dưới Luật còn có
các quyết định, nghị định và các văn bản quy phạm khác hướng
dẫn thi hành Luật GTĐB.
Chúng ta có thể hiểu Luật GTĐB là hệ thống các quy
phạm pháp luật và các quy tắc xử sự hành chính do Nhà nước
và các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ban hành nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức,
thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan
quản lý nhà nước, tổ chức xã hội và công dân trên lĩnh vực đảm
bảo trật tự ATGT.

cố và phát triển những kết quả của giáo dục Trung học cơ sở,
hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông
thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng
lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển tiếp tục học Đại học,
Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Nghề hoặc đi vào cuộc
sống lao động”. [10] Giáo dục Trung học phổ thông phải củng
cố, phát triển những nội dung đã học ở Trung học cơ sở, bởi vì
những nội dung, kiến thức ở bậc Trung học cơ sở chưa được đầy
đủ và vững chắc, để giúp học sinh có thể tự giải quyết các vấn
đề ở mức độ phổ thông. Mặt khác, lứa tuổi Trung học cơ sở
chưa được phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tâm lý. Vì vậy, ở
cấp Trung học phổ thông nhà trường phải hoàn thành nội dung
giáo dục phổ thông giúp cho các em có năng lực, kiến thức cơ
bản để bước vào đời hay tiếp tục học lên các bậc học cao hơn.
Ngoài nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ
thông cơ bản toàn diện và hướng nghiệp còn có nội dung nâng
cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện
vọng của học sinh.
Vai trò của giáo dục nhà trường bậc Trung học phổ thông


Nhà trường nói chung là cơ sở thực tế diễn ra hoạt động
giáo dục giữa
xã hội, có kỷ luật chặt chẽ, có mục đích giáo dục đúng đắn,
là nơi truyền thụ tri thức và giáo dục học sinh một cách toàn
diện theo các nội dung giáo dục: đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ, lao động hướng nghiệp;
Nhà trường THPT có đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên
môn cao, có nghiệp vụ sư phạm, hiểu biết và nắm được các đặc
điểm tâm sinh lý của từng lứa tuổi; là những người biết tổ chức

chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo, tự giác của học


sinh.
Học sinh Trung học phổ thông
Giới hạn tuổi học sinh trung học phổ thông
Học sinh THPT được tính từ 15 đến 18 tuổi – còn được gọi
là giai đoạn đầu thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và
nhiều mặt của hiện tượng, nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và
tâm lý. Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp vì không phải lúc
nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý
cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội. Có
nghĩa là sự trưởng thành về mặt thể chất, nhân cách trí tuệ, năng
lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian phát triển của lứa
tuổi.
Sự phát triển thể chất của học sinh trung học phổ thông
Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về
mặt cơ thể. Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển
bình thường, hài hòa, cân đối. Cơ thể của các em đã đạt tới mức
phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các
em còn kém so với người lớn. Các em có thể làm những công
việc nặng của người lớn. Hoạt động trí tuệ của các em có thể


phát triển tới mức cao. Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não
tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời
phức tạp hơn. Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có
điều kiện phát triển mạnh. Ở tuổi này, các em dễ bị kích thích và
sự biểu hiện của nó cũng giống như ở tuổi thiếu niên. Tuy nhiên
tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý

trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình.
Vị trí ngoài xã hội
Xã hội đã giao cho lứa tuổi học sinh THPT quyền công
dân, quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng như người lớn.


Tất cả các em đã có suy nghĩ về việc chọn nghề. Khi tham gia
vào hoạt động xã hội các em được tiếp xúc với nhiều tầng lớp
xã hội khác nhau, quan hệ xã hội được mở rộng,các em có dịp
hòa nhập và cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội giúp các em
tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập
sau này.
Tóm lại: Ở lứa tuổi học sinh THPT, các em có hình dáng
người lớn, có những nét của người lớn nhưng chưa phải là
người lớn, còn phụ thuộc vào người lớn. Thái độ đối xử của
người lớn với các em thường thể hiện tính chất hai mặt đó là :
Một mặt người lớn luôn nhắc nhở rằng các em đã lớn và đòi
hỏi các em phải có tính độc lập, phải có ý thức trách nhiệm và
thái độ hợp lý. Nhưng mặt khác lại đòi hỏi các em phải thích
ứng với những đòi hỏi của người lớn…
Sự phát triển của tự ý thức
Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển
nhân cách của học sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự
phát triển tâm lý của lứa tuổi này. Biểu hiện của sự tự ý thức là
nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình


theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mục đích
cuộc sống… Điều đó khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống
tâm lý, những phẩm chất nhân cách và năng lực riêng. Các em

Thanh niên đã xuất hiện nhu cầu lựa chọn vị trí xã hội
trong tương lai cho bản thân và các phương thức đạt tới vị trí xã
hội ấy. Xu hướng nghề nghiệp có tác dụng thúc đẩy các mặt
hoạt động và điều chỉnh hoạt động của các em. Càng cuối cấp
học thì xu hướng nghề nghiệp càng được thể hiện rõ rệt và
mang tính ổn định hơn. Nhiều em biết gắn những đặc điểm
riêng về thể chất, về tâm lý và khả năng của mình với yêu cầu


của nghề nghiệp. Song, sự hiểu biết về yêu cầu nghề nghiệp của
các em còn phiến diện, chưa đầy đủ.
Hoạt động giao tiếp
Các em khao khát muốn có những quan hệ bình đẳng trong
cuộc sống và có nhu cầu sống cuộc sống tự lập. Tính tự lập của
các em thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành vi, tự lập về tình cảm
và tự lập về đạo đức, giá trị.
Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể
phát triển mạnh. Trong tập thể, các em thấy được vị trí, trách
nhiệm của mình và các em cũng cảm thấy mình cần cho tập thể.
Khi giao tiếp trong nhóm bạn sẽ xảy ra hiện tượng phân cực –
có những người được nhiều người yêu mến và có những người
ít được bạn bè yêu mến. Điều đó làm cho các em phải suy nghĩ
về nhân cách của mình và tìm cách điều chỉnh bản thân.
Tình bạn đối với các em ở tuổi này có một ý nghĩa đặc biệt
quan trọng. Tình bạn thân thiết, chân thành sẽ cho phép các em
đối chiếu được những thể nghiêm, ước mơ, lí tưởng, cho phép
các em học được cách nhận xét, đánh giá về mình. Nhưng tình




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status