CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO
DỤC KỸ NĂNG ỨNG PHÓ
THIÊN TAI CHO HỌC
SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử, phòng, chống
và giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam luôn được coi là cuộc đấu
tranh sinh tồn, gắn liền với quá trình dựng nước và giữ
nước của dân tộc. Công tác phòng, chống và giảm nhẹ
thiên tai ở Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc theo
tiến trình lịch sử.
Trong những năm gần đây, công tác phòng tránh và giảm
nhẹ thiên tai dựa vào cộng đồng đã được Chính phủ quan
tâm và triển khai hiệu quả với phương châm “Dân biết, dân
bàn, dân thực hiện và dân kiểm tra”, Chương trình quản lý
rủi ro dựa vào cộng đồng được đánh giá cao nên Thủ tướng
Chính phủ đã phê duyệt đề án nâng cao nhận thức cộng
đồng và quản lý tủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng cho
6.000 làng xã thường bị thiên tai trên toàn quốc (Quyết
định số 1002/QĐ-TTg ngày 13/7/2009).
Đứng trước hoàn cảnh chịu nhiều tác động của thiên tai,
diễn biến phức tạp và khó lường của biến đổi khí hậu,
ngành giáo dục đã có những điều chỉnh trong hoạt động
giáo dục nhằm đào tạo ra những con người vừa có tri thức
khoa học, nhưng cũng phải vừa có kỹ năng thích ứng với
không nhỏ do thiên tai gây ra, ảnh hưởng trực tiếp đến các
hoạt động dạy và học của học sinh và giáo viên. Chính vì
thế, xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch hành động
phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu của
ngành Giáo dục; chủ động tăng cường quan hệ hợp tác với
các Bộ, ngành, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ
hoạt động trong lĩnh vực quản lý rủi ro thiên tai và ứng
phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam và trên thế giới là
bước đi chiến lược của Bộ GD&ĐT nhằm nâng cao nhận
thức, trang bị kiến thức, kĩ năng về phòng, chống thiên tai
và ứng phó với biến đổi khí hậu đến cán bộ, giáo viên, học
sinh và sinh viên (chiếm trên 25% dân số Việt Nam), từng
bước xây dựng hệ thống trường học an toàn. Đặc biệt, làm
tốt công tác phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi
khí hậu trong ngành Giáo dục còn có ý nghĩa quan trọng
trong việc tạo sự lan tỏa mạnh mẽ đến cộng đồng dân cư
trong cả nước, góp phần thực hiện các mục tiêu của Chính
phủ trong công tác phòng, chống thiên tai và ứng phó với
biến đổi khí hậu”.
Tác giả Đinh Hữu Khánh của Viện Điều tra quy hoạch rừng
đã nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác động từ thiên nhiên đối
với vấn đề đói, nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số vùng
miền núi”[10] Đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất
chính sách đảm bảo y tế trong giảm nhẹ và khắc phục hậu
quả thiên tai, thảm họa”[9] do Dương Quốc Trọng Chủ
nhiệm đề tài đã tổng quan tình hình thiên tai, thảm họa
1996-2006, giới thiệu công tác quản lý thiên tai của ngành
y tế, công tác tổ chức cấp cứu nạn nhân của các bệnh viện,
năng và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó,
phòng tránh rủi ro thiên tai của cộng đồng dân tộc thiểu số
tại chỗ ở Tây Nguyên; Đề xuất quan điểm, định hướng, giải
pháp tổng thể nâng cao năng lực phòng tránh thiên tai của
cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên. Đề xuất
một số mô hình điểm về ứng phó, phòng tránh rủi ro thiên
tai cho một số cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây
Nguyên. Tổ chức triển khai thực hiện mô hình Thông tin,
Giáo dục và Truyền thông (IEC) dựa vào sự tham gia tích
cực của cộng đồng nhằm dự báo, cảnh báo, phòng tránh,
ứng phó, giảm thiểu tác hại của thiên tai và phục hồi sau
thiên tai cho cộng đồng các dân tộc Giẻ - Triêng tại Kon
Tum và Cơ Ho tại Lâm Đồng. Đề tài cấp nhà nước cũng
bước đầu tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống,
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động giáo dục
ngoài giờ chính khóa, hái hoa dân chủ,... đa dạng, hấp dẫn
tại các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh, trường
phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện, trường phổ thông,
trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn các tỉnh Tây
Nguyên nhằm lan tỏa đến các dân tộc thiểu số tại chỗ, đáp
ứng nhu cầu nâng cao năng lực 6 + của cộng đồng các dân
tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên trong công tác dự báo,
cảnh báo, phòng tránh, ứng phó, giảm thiểu tác hại của
thiên tai và phục hồi sau thiên tai.
Bên cạnh những nghiên cứu kể trên, còn có một số công
trình nghiên cứu khác cũng đề cập đến vấn đề này. Tiêu
biểu như:
đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người.
Giáo dục được hiểu theo nghĩa hẹp: Đó là một bộ phận của
quá trình sư phạm, là quá trình hình thành những cơ sở
khoa học của thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ,
tình cảm, thái độ, những hành vi thói quen đúng đắn trong
xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, đạo đức thuộc
các lĩnh vực học tập, thẩm mỹ...
Giáo dục mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng của mỗi
quốc gia trong sự phát triển bền vững của nó. Ở mỗi một
quốc gia giáo dục được coi là chiếc chìa khoá vàng để bước
vào tương lai. Ý nghĩa thuyết phục đó thể hiện sâu sắc vai
trò của giáo dục: Là bước mở đầu của chiến lược con
người, là điều kiện cơ bản để hình thành, hoàn thiện phát
triển lực lượng sản xuất xã hội.
Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội loài người, bản
chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch
sử- xã hội của các thế hệ loài người. Nhờ có giáo dục mà
các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân
tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên có sở đó, xã
hội loài người không ngừng tiến lên. Giáo dục như là một
phương thức của xã hội đảm bảo việc kế thừa văn hoá, phát
triển nhân cách.
Ngoài ra, giáo dục còn mang tính phổ biến, vĩnh hằng.
Giáo dục chỉ có ở xã hội loài người, nó là một phần không
thể tách rời của đời sống xã hội, giáo dục có ở mọi thời đại,
mọi thiết chế xã hội khác nhau. Nền giáo dục xã hội chủ
nghĩa ở nước ta phải thể hiện được bản chất của chế độ xã
hội chủ nghĩa, đó là tính công bằng xã hội, dân chủ, tiến bộ
kiện hành động. với định nghĩa này, tác gỉa cho rằng, kết
quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó
quan trong nhất là năng lực thực hiện hành động. Khi con
người có cách thức hành động đúng, phù hợp với mục đích
trong những điều kiện xác định của hoạt động thì đó được
gọi là kỹ năng [3].
A.V. Kruchetxki (1981) lại nêu: “kỹ năng là phương thức
thực hiện hành động đã được con người nắm vững từ
trước”. Ở định nghĩa này, tác giả đã nhấn mạnh đến cách
thức thực hiện hành động mà không đề cập đến tính hiệu
quả của phương pháp. Bởi vì thực tế cho thấy, có những cá
nhân có cách thực hiện hành động tốt những chưa chắc
đem lại hiệu quả cho hoạt động đó, bởi lẽ kết quả tốt còn
phụ thuộc nhiều yếu tố khác. Hơn nữa, nếu cá nhân chỉ có
phương thúc hành động đúng cũng không thể kết luận rằng
họ có kỹ năng hành động [13].
A.A.Xmiecnop, A.N. Leonchiep, X.I. Rubinstein, B.M.
Chieplop (1975), Trần Trọng Thủy (1978), B.Ph. Lomov
(2000) cũng định nghĩa KỸ NĂNG là phương thức hành
động. Theo các tác giả này, KỸ NĂNG được hiểu là sự vận
dụng kĩ thuật hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và
yêu cầu của hoạt động [40], [53].
Các tác giả như N.D.Levitov (1971), P.A.Rudic (1980) xem
KỸ NĂNG là kĩ thuật của từng thao tác. Còn A.V.
kruchetxki (1981), Hargie. O.D.W, (1986), X.I. Kixegof
(1996), Trần Hữu Luyến (2008) lại quan niệm, KỸ NĂNG
là sự kết hợp nhiều thao thác theo một trật tự phù hợp với
mục đích và điều kiện của hoạt động [15], [23],[22].
điều kiện và yêu cầu của hoạt động nhằm mang lại hiệu quả
của hoạt động.
Từ đó chúng tôi cho rằng: Kĩ năng là sự vận dụng tri thức,
kinh nghiệm vào hoạt động cụ thể một cách linh hoạt để
đạt được hiệu quả hoạt động đó.
Với khái niệm này, những đặc điểm cần chú ý ở kĩ năng là:
Kĩ năng được biểu hiện trong hoạt động thao tác của cá nhân
một cách cụ thể. Để đạt được hiệu quả hoạt động cần phải
nắm vững những tri thức nhất định về hoạt động cũng như
kết hợp hài hòa các thao tác để hoạt động, đồng thời phải
luôn linh hoạt và thao tác một cách nhuần nhuyễn trong hoạt
động.
Sự vận dụng, tri thức, kinh nghiệm về hoạt động phải được
tiến hành phù hợp và có hiệu quả.
- Ứng phó
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về ứng phó,
việc nghiên cứu, tìm hiểu và cung cấp đầy đủ thông tin sẽ
làm hoàn thiện hơn về khái niệm này.
Theo nghĩa rộng, ứng phó bao gồm tất cả các dạng tương
tác của chủ thể với những yêu cầu của thế giới bên ngoài
và nội tâm - nắm bắt làm chủ hay làm suy giảm, làm quen
hay lảng tránh khỏi những yêu cầu của hoàn cảnh có vấn
đề. Những điều kiện bên ngoài - yêu cầu của hoàn cảnh,
hay bên trong - đặc điểm tâm lý của chủ thể, tạo nên nội
dung của cách ứng phó, làm chúng hoàn toàn khác biệt với
với sự thích ứng đơn giản.
Webb, L.A (1999), đã tổng hợp các hướng tiếp cận ứng phó
trên bốn phương diện:
Thứ tư, ứng phó có thể mang lại cảm giác vừa lòng, thoải
mái hoặc gây nên căng thẳng chứ không phải là sự thích
nghi.
Với cách tiếp cận này, vai trò của hoàn cảnh, tình huống
cũng như vai trò của chính chủ thể hành vi ứng phó đều
được chú trọng. Khuynh hướng này đã khái quát một cách
tổng hợp và khá toàn diện về hành vi ứng phó của con
người.
- Kĩ năng ứng phó
Từ khái niệm kĩ năng và ứng phó đã đề cập trên, có thể
hiểu:
Kĩ năng ứng phó là khả năng con người lựa chọn và áp
dụng những cách thức phù hợp. Nhằm nhận diện những
tác nhân gây mệt mỏi, căng thẳng; xác định các phương án
ứng phó và thực hiện các phương án ứng phó nhằm giải
quyết những căng thẳng vượt quá ngưỡng chịu đựng của
cá nhân và giúp cá nhân thích ứng với hoàn cảnh.
Nói cách khác, kĩ năng ứng phó có các đặc điểm sau đây:
Để có kỹ năng ứng phó chủ thể phải có tri thức nhất định
về hoạt động cũng như tổ hợp các thao tác, thực hiện các
thao tác đảm bảo tính đầy đủ, thành thạo và linh hoạt.
Sự vận dụng các tri thức, kinh nghiệm của kỹ năng ứng phó
để giúp chủ thể vượt qua những trở ngại khó khăn trong
hoạt động, dần dần thích ứng với hoạt động nhằm đem lại
hiệu quả cho hoạt động cụ thể.
- Giáo dục kỹ năng ứng phó thiên tai
- Thiên tai
người, tài sản, công trình, môi trường sống, các hoạt động
kinh tế, xã hội. Cụm từ này cũng được sử dụng theo nghĩa
khả năng thảm họa xảy ra và hậu quả dưới từng mức độ
thiệt hại cụ thể. Một yếu tố xã hội được coi là “chịu rủi ro”
hay “dễ bị ảnh hưởng” khi nó bị đặt trước những hiểm họa
đã được biết trước và có thể sẽ phải gánh chịu những ảnh
hưởng tiêu cực do tác động của những hiểm họa này nếu
chúng xảy ra. Cộng đồng, các công trình, dịch vụ hoặc các
hoạt động khác liên quan được gọi là những yếu tố chịu rủi
ro”.
Luật phòng, chống thiên tai (số 33/2013/QH13) quy định:
“Rủi ro thiên tai là thiệt hại mà thiên tai có thể gây ra về
người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và hoạt động
kinh tế - xã hội” (Quốc hội Việt Nam, 2013).
- Giáo dục kỹ năng ứng phó thiên thai
Giáo dục kỹ năng ƯPTT là hoạt động của những người làm
công tác giáo dục vận dụng tri thức, kinh nghiệm tác động
một cách có hệ thống, mục đích và có kế hoạch lên người
được giáo dục để giúp người được giáo dục ứng phó linh
hoạt, hiệu quả với các hiện tượng tự nhiên bất thường có
thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện
sống và các hoạt động kinh tế - xã hội.
- Giáo dục kỹ năng ứng phó thiên tai cho học sinh
THCS dựa vào cộng đồng
Giáo dục kỹ năng ƯPTT choc học sinh THCS dựa vào
cộng đồng là hoạt động của các lực lượng cộng đồng vận
tuổi thiếu niên trong những năm qua trên địa bàn tỉnh Phú
Yên thực sự đã gây nên sự lo ngại. Ví dụ như trong năm
2012 có đến 51 trẻ em bị chết đuối là một điển hình (theo
Báo Người Lao động, ngày 15/5/2013) và năm nào cũng có
trường hợp học sinh bị đuối nước/tai nạn thương
tích,...Trong khi đó, ngành Giáo dục và một số tổ chức có
liên quan tuy đã có những can thiệp nhất định, nhưng rõ
ràng là hiệu quả chưa cao hoặc chỉ là giải pháp tình thế.
Qua tiếp cận với BGH, các GVCN,... tại các Trường THCS
trên địa bàn các xã có nguy cơ cao về thiên tai thảm họa: xã
Hòa Thịnh, xã Hòa Mỹ Tây, thị trấn Phú Thứ,... bản thân
nhận thấy mặc dù các trường học đã có kế hoạch ứng phó
cho các tình huống khẩn cấp, xây dựng kế hoạch phòng
chống thiên tai cơ bản, nhưng kế hoạch này vẫn còn khá
chung, chưa có những hướng dẫn cụ thể cho việc thực hiện
ứng phó dành riêng cho học sinh và giáo viên cũng như
chung cho một trường học; trong chương trình giáo dục
phổ thông bậc THCS không có học phần chính khóa về
phòng ngừa và ứng phó thiên tai; không có giáo án một
cách hệ thống của ngành dành cho học sinh về phòng ngừa
ứng phó thiên tai; mặt khác, môn địa giảng dạy cho học
sinh rất nhiều quy luật hình thành tự nhiên, nhưng lại quên
rèn luyện cho học sinh kỹ năng nghe qua khá xa rời thực tế
nhưng đến khi xảy ra chuyện mới thấy là rất cần thiết: kỹ
năng ứng phó với thiên tai; trong nội dung sinh hoạt của
Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh và Tổng phụ trách Đội cũng hạn chế hoặc chưa
có chủ đề, hình thức, nội dung chủ yếu nào để giáo dục cho